0 0 0 2 2 7 3 9 1 2
Đang online:
7
Hôm nay :
70
Hôm qua :
1,722
Tuần này :
9,802
Tuần trước :
9,324
Tháng này :
30,435
Tháng trước:
36,129
29/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Kim Liên” – tên gọi của một miền quê bình dị, gợi nhớ những kỷ niệm tuổi thơ hồn nhiên và tươi đẹp, khơi gợi những cảm xúc ấm áp, thân thuộc và thiêng liêng trong tâm hồn và trái tim của Bác – vị cha già dân tộc, Người dành trọn cuộc đời hy sinh cho đất nước, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam.
Tạm biệt quê hương khi 16 tuổi,Nguyễn Tất Thành (tên gọi thời niên thiếu của Bác) cùng cha và anh trai vào Huế. Năm 1911, từ bến cảng Sài Gòn, với tên Văn Ba, Người xuống tàu La Touche Treville, bắt đầu ra đi tìm đường cứu nước. Sau 30 năm bôn ba hải ngoại, Nguyễn Tất Thành, lúc này đã là Nguyễn Ái Quốc, quay trở về Việt Nam lãnh đạo phong trào cách mạng và giành độc lập, tự do cho dân tộc vào năm 1945. Nhưng mãi đến mùa hè năm 1957, tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến động trước khi thay mặt Đảng và Nhà nước đi thăm các nước xã hội chủ nghĩa đã giúp đỡ nước ta, Bác mới có dịp về thăm các tỉnh quân khu IV, trong đó có quê hương Nghệ An. Bác về thăm trong thời gian ngắn từ tối ngày 13.06.1957 đến ngày 16.06.1957. Thời gian tuy ngắn nhưng Bác tranh thủ từng giờ, từng phút để đến thăm được nhiều nơi, nhiều ngành nghề và nhiều lứa tuổi.
Sáng ngày 14.6, Bác làm việc với Ban chấp hành Tỉnh ủy, cán bộ ủy ban hành chính tỉnh, Mặt trận tổ quốc và lãnh đạo các đoàn thể.
14h ngày 14.6, Bác đã có buổi gặp gỡ và nói chuyện với Đại biểu nhân dân tỉnh nhà. Cảm xúc của những người dân lúc này thật khó tả, vẻ rạng ngời, vui sướng pha lẫn niềm tự hào, kính trọng và biết ơn đối với Bác. Vẫy chào bà con trong tiếng reo hò, phấn khởi “Hồ Chủ tịch muôn năm”, là hình ảnh một cụ già hiền hậu, với bộ quần áo kaki đã sờn bạc, không gian lắng lại khi giọng trầm ấm của Bác cất lên:
“... Tôi là một người con tỉnh nhà đã hơn 50 năm xa cách quê hương. Hôm nay là lần đầu trở về thăm tỉnh nhà. Có thể nói là:
Quê hương nghĩa trọng tình cao
Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình
Đã lâu về quê hương, thì thường tình người ta tủi tủi, mừng mừng. Tôi không thấy tủi tủi mà chỉ thấy mừng mừng …. Từ lúc tôi ra đi và bây giờ trở lại … có thay đổi rất nhiều. Thay đổi quan trọng nhất là lúc tôi ra đi, nước ta đang còn bị thực dân cai trị, đồng bào ta đều là những người nô lệ, bây giờ trở về thì đồng bào miền Bắc nói chung, Nghệ An nói riêng, là những công dân tự do,làm chủ nước nhà …”.
Trong buổi nói chuyện, Bác khen ngợi những thành tích vẻ vang mà tỉnh nhà đạt được. Tuy nhiên Bác cũng nhẹ nhàng nói về những khuyết điểm cần khắc phục và đặc biệt là những nhiệm vụ cụ thể cần chú ý thực hành như nộp thuế nông nghiệp, thuế công nghiệp, phải tăng gia sản suất và tiết kiệm, phải phát triển và giữ gìn thuần phong mỹ tục. Bác dặn dò về vấn đề đoàn kết để giành lấy những thắng lợi mới và lớn lao hơn … Bác mong muốn đồng bào thi đua với các tỉnh khác xây dựng để tỉnh ta thành một tỉnh gương mẫu.
Buổi tối, Bác còn dành thời gian nói chuyện với các chuyên gia Liên Xô,
Sáng ngày 15.6, Bác đi thăm Hà Tĩnh, thăm nhà máy điện Vinh, thăm trại trẻ miền Nam, thăm và huấn thị bộ đội quân khu 4.
Ngày 16.6, Bác về thăm quê cha, đất tổ ở Kim Liên. Một điều rất đặc biệt ở Bác, Người chọn về thăm nhà đúng vào ngày nghỉ cuối tuần, ngày chủ nhật. Không phải với cương vị Chủ tịch nước, không lễ nghi đón tiếp sang trọng,với Bác lúc này là một người con xa nhà, xa quê hương rất lâu, nay về thăm lại quê cha, đất mẹ, thăm lại bạn bè, bà con lối xóm với tình cảm rất đỗi giản dị, thân thương, bồi hồi, xúc động.
Về Kim Liên, việc đầu tiên Bác làm là vào nhà thờ dòng Họ Nguyễn Sinh thắp hương thể hiện lòng tôn kính và biết ơn đối với tổ tiên, ông bà, một nét đẹp văn hóa của người Việt khi đi xa trở về. Trở ra theo đường chính của làng, Bác trở về ngôi nhà tranh nơi mình gắn bó những năm tháng thời niên thiếu cùng bố và anh trai, chị gái. Dọc đường đi, Bác ân cần hỏi thăm, trò chuyện, qua ngõ nhà cụ cố Phương, một gia đình nghèo nhất làng thời Bác còn sống. Bác dừng lại hỏi: “Nhà cụ cố Phương bây giờ thế nào?” … Đi xa đã hơn 50 năm mà dường như tất cả không gian và những hàng xóm thân thuộc ở đây vẫn vẹn nguyên trong tâm trí Bác.
Đến gần cổng, các đồng chí lãnh đạo xã, mời Bác vào nghỉ chân ở nhà khách nhỏ 3 gian, lợp ngói mới làm để tiếp khách. Bác cười vui và nói: “Nhà khách là để tiếp khách. Bác là chủ để Bác vào thăm nhà”. Lúc bấy giờ, chưa xác định vị trí cổng nhà Bác, theo lời kể của các cụ già trong làng, cổng nhà Bác được mở gần nhà khách. Trước cổng có đề dòng chữ: “Nhà Hồ Chủ tịch”, nhìn tấm biển, Bác cười nói: “Đây là nhà ông Phó bảng”. Bởi năm 1901, Khi Ông Nguyễn Sinh Sắc – thân sinh của Bác đậu học vị Phó Bảng, trước vinh dự đó, dân làng đã góp công, góp của mua ngôi nhà gỗ 5 gian dựng trên mảnh vườn rộng gần 2.500m2 để mừng cho gia đình. Cây cối trong vườn cũng do dân làng đem đến trồng giúp. Ý Bác muốn nói là nhờ Bố đỗ đại khoa, gia đình Bác mới có được ngôi nhà và mảnh vườn rộng này.
Vào thăm nhà, ngậm ngùi thắp nén hương cho bố mẹ, anh trai, chị gái và em. Bàn thờ lúc này được làm lại khá khang trang, đứng lặng một hồi lâu trước bàn thờ, rất xúc động, nghẹn ngào quay sang Bác nói với bà con: “Xưa nhà Bác nghèo, bàn thờ bố làm cho mẹ chỉ bằng tre thôi, không có chân, chỉ dùng 2 miếng gỗ đóng gá vào 2 bên cột, trên trải chiếu mộc, đồ thờ chỉ là gỗ mộc mà thôi”.
Bước vào gian trong, Bác thăm lại từng kỷ vật, cái còn cái mất, những kỷ niệm tuổi thơ ùa về nhưng những người thân không còn ai nữa. Vẫn còn đó, bộ phản nơi bố nghỉ ngơi, căn buồng kín của chị, chiếc mâm gỗ chỉ dùng khi nhà có khách, chiếc đèn dầu lạc nhỏ, hay chiếc rương gỗ, bộ án thư bố dạy học …. Đứng lặng trước bộ phản nơi anh em Bác từng nghỉ ngơi, mân mê theo mép phản, 1 lúc sau Bác nói: “Bộ phản này, hình như nó ngắn hơn phải không cô chú?”… Trước lúc vào Huế, thương một người nghèo trong họ, Bố Bác đã cho gia đình đó mượn bộ phản, vào mùa đông, gia đình đốt lửa sưới ấm, vô tình làm cháy 1 góc của bộ phản. Khi Đảng và Nhà nước có chủ trương khôi phục, ban quản lý di tích xin phép cưa khoảng 10 phân để 3 tấm cho bằng nhau. Xa quê đã hơn 50 năm, thay đổi rất nhỏ, Bác vẫn còn nhận ra.
Ngày đó, nói chuyện cùng bà con, Bác còn bảo: “Nhà Bác còn có một ngôi nhà ngang nữa, Bác nói vậy thôi, cô chú đừng chuộc về mà tốn kém tiền của của dân”. Bác nói vậy, nhưng năm 1959, Ban quản lý di tích vẫn chuộc về và dựng trên nền đất cũ.
Ra thăm sân vườn, nhìn về phía tay phải của mình Bác nói: “Cổng nhà Bác ngày xưa mở lối này, một bên có bờ chè mận hảo, bên kia có hàng dâm bụt. Cổng ra vào có cây ổi đào, trước nhà có cây bưởi, hồi nhà ngang có cây cam, phía sau nhà có hàng cau đẹp …”.Theo lời nhắc của Người, bây giờ di tích đã dựng lại cổng và trồng lại cây cối như không gian ngày xưa gia đình Bác từng sống.
Tiễn Bác ra đi, Bà con xin phép Bác được trồng hoa trong vườn nhà Bác cho đẹp. Lúc bấy giờ di tích mới khôi phục, vườn nhà Bác dân làng đang trồng rau khoai lang, nhìn những luống hoa khoai, cười vui Bác bảo: “Bác đồng ý trồng hoa nhưng hoa khoai lang vẫn đẹp!”. Ngày đó, hiểu lòng Bác, ai cũng xúc động, Bác muốn cây khoai lang vừa có hoa, có rau và có củ, phục vụ đời sống người dân còn nghèo đói lúc bấy giờ. Cũng kể từ đó, vườn nhà Bác vào mùa nào thức nấy chỉ trồng các loại hoa màu.
Sau đó Người ra sân vận động nói chuyện với nhân dân xã nhà. Bằng giọng ấm áp, chân tình, Bác hỏi thăm về cải cách ruộng đất, về nạn trộm cắp, rượu chè, về trạm y tế xã... Bác hỏi đồng bào có muốn xây dựng Nam Liên thành một xã gương mẫu không? Bác mong lần sau khi Bác về thăm quê thì đồng bào đã đạt thêm nhiều thành tích mới to lớn hơn. Thăm quê lần đó Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Cán bộ, nhân dân Kim Liên làm tốt Bác sẽ về thăm". Giữ đúng lời hứa, 4 năm sau, ngày 9 tháng 12 năm 1961, Bác về thăm quê lần thứ 2 và đó cũng là lần cuối cùng, quê hương được đón Bác về thăm.
Những câu chuyện khép lại nhưng những cảm xúc vẫn còn đó. Dẫu xa quê bôn ba tìm đường cứu nước, nhưng sâu thẳm trong trái tim người, vẫn dành một vị trí trang trọng cho quê hương, cho gia đình. Về với quê nhà, chỉ trong thời gian rất ngắn ngủi, nhưng Bác được sống lại những ký ức tuổi thơ êm đềm bên gia đình và bà con lối xóm. Những tình cảm rất đỗi thiêng liêng luôn nằm sâu trong lòng Bác, những nỗi nhớ niềm thương, Người chỉ tạm quên đi bởi bộn bề việc nước.
65 năm kể từ ngày Bác về thăm quê lần đầu tiên, bao năm rồi quê hương vẫn vọng mãi lời Người, để rồi những lời dạy ân cần, thiết tha, trách nhiệm, kỳ vọng … ấy, đã trở thành niềm tin, ngọn lửa soi đường, chỉ lối để Nghệ An vững bước đi lên. 29/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Gần đây, tôi tìm lại được trong các ghi chép cũ bản ghi cuộc trò chuyện từ nhiều năm trước giữa tôi và ông Nguyễn Đình Khôi - nguyên Phó Vụ trưởng Vụ châu Âu 1, Bộ Ngoại giao. Ông Khôi thuộc nhóm thanh niên đầu tiên được cử đi học ở Liên Xô trong Kháng chiến chống Pháp. Lần đó, ông Khôi kể về lần Bác Hồ đến thăm và căn dặn những người sắp được ra nước ngoài học tập.
Trong kháng chiến chống Pháp, Trường Trần Phú được mở ở An toàn khu Thái Nguyên để bồi dưỡng và huấn luyện cán bộ của Đảng. Ông Nguyễn Đình Khôi cùng những người thuộc đoàn lưu học sinh đầu tiên chuẩn bị sang nước bạn học tập được tập trung về đây. Đó là ngày 8/5/1950 (theo nhật ký của ông Khôi), buổi trưa trời nóng không ngủ được nên ông ra suối tắm. Bỗng nghe có tiếng vó ngựa, ngẩng lên ông thấy hai người phi ngựa qua. Người đi trước khuất ngay, người thứ hai ông chỉ nhìn thấy phía sau lưng. Người đó mặc bộ quần áo màu cỏ úa, cổ quàng chiếc khăn trắng. Ông Khôi nghĩ đó là hai đồng chí cán bộ đi công tác qua. Đến chiều, lúc ăn cơm, ông mới nghe anh em bàn tán là có Bác Hồ đến thăm trường và đoán người mà mình thấy lúc chiều là Bác.
Sau giờ cơm chiều, mọi người được lệnh tập trung ra sân trường. Ông Khôi kể: “Lúc đó khoảng hơn 5 giờ chiều. Khi tới, tôi thấy Bác đang ngồi trên một cái ghế nhỏ đặt giữa sân, chung quanh là các đại biểu được triệu tập về dự Đại hội Học tập toàn quốc. Khi anh em đến đông, Bác bỏ ghế ngồi bệt xuống cỏ cùng mọi người. Gần 500 anh chị em có mặt ngồi thành vòng tròn, Bác ngồi chính giữa. Tiếng nói của Bác mạnh và trong. Khi nói, Bác xưng là “mình” và thỉnh thoảng lại pha trò thú vị bằng những câu nói dân dã làm tất cả cười ồ. Bác không ngồi im mà chú ý xoay hướng cả về đủ bốn phía cử tọa”.
Trong cái đêm tháng 5 đáng ghi nhớ ấy, Bác đã căn dặn riêng với các du học sinh: “Cái tên du học sinh từ trước đến nay không có nghĩa tốt đẹp: con quan, con nhà giàu thì được đi du học để về đè đầu, cưỡi cổ dân. Ngày nay, các chú sắp ra nước ngoài là để học tập những gì trong nước chưa có điều kiện dạy. Các đồng chí nước ngoài sẽ giúp đỡ huấn luyện để các chú về phụng sự đoàn thể, phụng sự cách mạng, phụng sự dân tộc…”.
Mới hai tháng trước đó, ông Khôi đang làm bí thư chi bộ xã Xuân Lạc, huyện Nam Đàn thì được lệnh ra Việt Bắc tập trung đi học. Lúc ở nhà, nghe phổ biến là đi du học và cả huyện chỉ có 3 người được chọn, ông Khôi thấy tự hào ghê gớm. “Khi tôi đi, cả xã ra tiễn. Có cả chụp ảnh nữa, thứ cực hiếm thời đó. Nhiều người chúc tôi đi học giỏi để về “làm quan cả họ được nhờ”! – Ông Khôi cười kể.
Còn tối hôm đó, bên ngọn đèn măng xông đặt giữa bãi cỏ, Bác Hồ căn dặn: “Vậy lúc đi học, phải nghĩ thế nào, làm thế nào cho đúng?
Thứ nhất, phải luôn nhớ rằng trong lúc mình được đi học để sau thành nghề thì trong nước biết bao nhiêu bạn cùng tuổi phải lăn lộn chiến đấu với quân thù. Như vậy thì các chú phải đừng quá hớn hở về việc mình được đi học, đừng lấy đó làm điều hãnh diện. Phải coi thời gian này là thời gian mình được đoàn thể miễn công tác cho để đi học. Mà học là để về phụng sự cách mạng. Bởi vậy việc gì có ích cho cách mạng là học: rèn, nguội, ngoại giao, ngoại ngữ… không có việc gì là sang, là hèn cả.
Học không phải để làm quan. Các chú phải nhớ điều đó.
Thứ hai, phải đoàn kết với nhau và đoàn kết với các đồng chí nước ngoài. Muốn đoàn kết thì phải phê bình, khuyên răn, sửa chữa cho nhau. Trong mười người, nếu có một người làm bậy thì cả mười người đều mang tiếng xấu. Tuy là với đồng chí, với nhân dân bạn đều là bạn bè nhưng cũng phải giữ quốc thể. Chú nào vi phạm thì phải loại ra, ở nhà không loại thì ra nước ngoài cũng bị loại. Anh em ra nước ngoài muốn thành công trong việc học tập thì tất nhiên phải nghiêm khắc như thế”.
Những lời trên ông Khôi nhớ rất rõ vì sau đó Trường Trần Phú đã tập hợp ghi chép của học viên, đối chiếu để đưa ra bản ghi chính xác nhất những lời Bác dạy. Ông Khôi đã chép nguyên văn những lời của Bác vào cuốn sổ tay và mang theo suốt quãng đời du học và làm cán bộ ngoại giao ở nhiều nước sau này.
Trong cuộc nói chuyện cách đây hơn 20 năm ấy, ông Khôi nói với tôi: “Giờ đã nghỉ nhưng thỉnh thoảng tôi lại giở đọc những trang ghi những lời Bác dặn. Trong tâm trí tôi vẫn hiện rõ hình ảnh Người ngồi trên bãi cỏ, chung quanh là đàn cháu con quây quần. Và xa hơn là cánh rừng và sau đó nữa là chân trời mênh mông mà Người đã mở ra cho chúng tôi. 29/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Tư tưởng ấy, ngay từ những năm trước Cách mạng Tháng Tám 1945 đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng.
Trong Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa đăng trên Báo Cứu quốc, số ra ngày 05/01/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”.
Trong thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa, nghệ thuật đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; đồng thời tin tưởng, mong muốn công tác giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ họa sĩ đi đầu xung kích, sáng tạo trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; xứng đáng là chiến sĩ cách mạng trên mặt trận văn hóa nghệ thuật.
Lời dạy nhanh chóng được anh chị em họa sĩ cả nước đón nhận, hun đúc tinh thần thi đua yêu nước, hăng say, sáng tạo nhiều tác phẩm văn hóa, nghệ thuật phục vụ công cuộc kháng chiến, kiến quốc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng cô và trò Trường Cấp I, II Móng Cái, ngày 19/02/1960. Ảnh: Bảo tàng Hồ Chí Minh
Có thể nói, trong suốt cuộc đời, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Theo Người, văn hóa có ý nghĩa vô cùng to lớn và giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Văn hóa được xây dựng và bồi đắp nên trong suốt chiều dài lịch sử, nó làm nên nền tảng tinh thần của một xã hội, giữ vai trò quan trọng vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Trong rất nhiều bài nói và bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến việc phải giữ gìn và phát huy những truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng dân tộc Việt Nam được hun đúc nên qua hàng ngàn năm lịch sử.
Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung, trọng đạo lý, đức tính cần cù sáng tạo trong lao động, dũng cảm trong chiến đấu… Bên cạnh việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc phải biết tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, biết gạn đục khơi trong, nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân, biết chọn lọc, sáng tạo cho phù hợp với hoàn cảnh và đặc tính của dân tộc mình.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa đã và đang là định hướng lớn cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa nước ta. Ngày 16/07/1998, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII đã ban hành Nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
15 năm sau, ngày 14/05/2014, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Trong đó tiếp tục khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước.
Kế thừa và phát huy giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, với quan điểm văn hóa, con người là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, ngày 09/03/2018, Tỉnh uỷ Quảng Ninh đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TU về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
Trong đó, đặt mục tiêu là giữ gìn và phát huy bền vững bản sắc văn hóa; xây dựng con người Quảng Ninh với các đặc trưng năng động - sáng tạo - hào sảng - lành mạnh - văn minh - thân thiện. Đặc biệt là phát triển văn hóa, con người Quảng Ninh trở thành nguồn lực quan trọng để xây dựng và phát triển Quảng Ninh ngày càng giàu đẹp, văn minh. 28/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Khi Nguyễn Ái Quốc sang Nga thì V.I.Lênin đã mất, Người không gặp được V.I.Lênin. Nhưng trong quá trình nghiên cứu để tìm con đường cách mạng, Người phát hiện ra muốn cứu nước thì phải đến với V.I.Lênin.
Người đã nói về V.I.Lênin trong hàng loạt bài viết như: “Lênin và các dân tộc thuộc địa” (Báo Sự Thật 27.1.1924), “Lênin và các dân tộc phương Đông” (Báo Người cùng khổ 7.1924), “Lênin và phương Đông” (Báo Tiếng Còi 20.1.1926)... Trong cuốn sách “Đường cách mệnh”, Người đã viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”. Qua nghiên cứu, học tập và hoạt động thực tiễn, Người đã tìm thấy ở chủ nghĩa Lênin con đường đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin với tinh thần độc lập tự chủ và sáng tạo để nắm lấy cái linh hồn, cái bản chất cách mạng và khoa học ở học thuyết của Mác - Lênin, chứ không phải là những câu chữ máy móc, khô cứng. Trong các bài viết, bài nói của mình rất ít khi Hồ Chí Minh trích kinh điển Mác-Lênin, nhưng chủ nghĩa Mác-Lênin luôn là cơ sở lý luận để Người vận dụng vào đường lối cách mạng Việt Nam. Trong bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ, không thấy có một từ nào trích dẫn Mác-Lênin. Trong bản Di chúc lịch sử Người để lại cũng không có một chữ nào nói về chủ nghĩa Mác-Lênin. Nhưng Người tự coi mình là học trò trung thành của Mác-Lênin, là người kiên trì mục tiêu XHCN “hơn tất cả mọi người”. Trong cuốn sách “Đường cách mệnh”, tài liệu đầu tiên Người viết để truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin cho những người cách mệnh Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã mở đầu bằng bài: “Tư cách của một người cách mệnh”, điều ít thấy ở những người khác khi làm công việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin cho cộng sự của mình.
Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, học tập ở V.I.Lênin hoàn toàn không phải thụ động. Người cho rằng nếu không có tinh thần độc lập thì chỉ phụ thuộc vào người khác, nếu không làm chủ được mình thì chỉ theo đuôi người khác, nếu không sáng tạo thì chỉ có giáo điều, rập khuôn máy móc. Cho nên, Người đến với V.I.Lênin bằng cách tiếp cận phương pháp cách mạng và tư duy khoa học của ông, để từ đó rút ra cho mình những vấn đề cụ thể, phù hợp với cách mạng Việt Nam. Như là vấn đề Đảng, V.I.Lênin cho rằng sự ra đời của Đảng cộng sản là sản phẩm của chủ nghĩa Mác kết hợp với phong trào công nhân. Nhưng ở Việt Nam, sự ra đời của Đảng cộng sản theo Hồ Chí Minh là sản phẩm kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. V.I.Lênin cho rằng, Đảng cộng sản là Đảng của giai cấp công nhân và xem đó là tính chất cơ bản của Đảng, nhưng Hồ Chí Minh dựa vào thực tiễn Việt Nam, Người cho rằng Đảng là của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.
Hay như vấn đề giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc, chủ nghĩa Mác-Lênin bao giờ cũng xác định giải phóng giai cấp là trước hết, nhưng ở Việt Nam theo Hồ Chí Minh muốn giải phóng giai cấp thì trước tiên phải giải phóng dân tộc đã; độc lập dân tộc chỉ có ý nghĩa khi mang lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân... Rõ ràng đây là vấn đề về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Hồ Chí Minh cho rằng, lý luận và thực tiễn phải gắn liền với nhau để lý luận không phải là lý luận suông, còn thực tiễn không phải là thực tiễn mù quáng. Từ lý luận Mác-Lênin được vận dụng vào thực tiễn Việt Nam và từ thực tiễn sinh động bổ sung cho lý luận, làm phong phú thêm cho lý luận. Nhờ vậy mới có đường lối đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với cách mạng Việt Nam để đánh thắng được thực dân, đế quốc, giành độc lập, thống nhất Tổ quốc và thực hiện công cuộc đổi mới.
Như vậy, đến với V.I.Lênin, theo Hồ Chí Minh là nắm vững những luận điểm cơ bản, nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của học thuyết Lênin để phục vụ cho mục tiêu cách mạng của nước ta. Vấn đề là phương pháp tiếp cận phải được tiến hành với tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo. Chính V.I.Lênin nhờ sự sáng tạo và tự chủ khi vận dụng chủ nghĩa Mác vào nước Nga mà Cách mạng Tháng Mười Nga mới thành công. Cũng nhờ vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở một nước thuộc địa chưa hề có tiền lệ, mà Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Cũng chính chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đang được Đảng ta vận dụng sáng tạo từ thực tiễn phong phú của thời đại và của đất nước để đưa sự nghiệp đổi mới đạt được những thành tựu to lớn như ngày nay. 28/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh "Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi" là mong ước lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Người đã dành trọn cả cuộc đời mình để thực hiện mong ước đó.
“Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.” Đó là mong ước lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Người đã dành trọn cả cuộc đời mình để thực hiện mong ước đó.
Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh nước nhà bị xâm lược, nhân dân phải chịu cảnh lầm than, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã cảm nhận sâu sắc nỗi đau của một dân tộc mất độc lập, người dân mất tự do. Nỗi đau ấy, cùng với lòng yêu nước thương dân vô bờ bến, đã trở thành nguồn lực vô tận, thôi thúc người thanh niên mới vừa tròn 21 tuổi quyết chí ra đi tìm đường cứu nước.
Ngày 2/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra bến Nhà Rồng xin việc. Ngày 3/6/1911, anh được nhận vào làm phụ bếp trên tàu Đô đốc Latusơ Tơrêvin.
Ngày 5/6/1911, với tên mới Văn Ba, anh theo tàu rời nước ra đi. Không khoác áo thân sĩ, ra đi trong tư cách một người lao động, khởi nghiệp với đôi bàn tay trắng, với một ý chí mãnh liệt, một nghị lực phi thường, một mình tiến hành cuộc trường chinh ba mươi năm đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
Chính hành trình này đã giúp Người hiểu rõ cội nguồn những khổ đau của nhân dân lao động là ở sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản đế quốc và hình thành nên ý thức giai cấp rõ rệt.
Vì thế, Người đã đến với chủ nghĩa Marx-Lenin một cách tự nhiên, như một tất yếu lịch sử và đã tìm thấy ở đó những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Và trong ba mươi năm đó, có biết bao “phong ba, bão táp” nhưng không ngăn nổi, không làm chùn ý chí, mong muốn: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu” (Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.1, tr. 112).
Vạch ra con đường cứu nước đúng đắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khai thông bế tắc trong đường lối giải phóng dân tộc, mà còn giải quyết đúng đắn, sáng tạo và lãnh đạo thực hiện thắng lợi các vấn đề trọng yếu nhất của cách mạng nước ta.
Đó là sự kết hợp chủ nghĩa Marx-Lenin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước để xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc.
Đó là việc xây dựng thành công lực lượng cách mạng với Mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân đầu tiên ở nước ta.
Đó là việc xác định chính xác phương pháp cách mạng phù hợp với thực tiễn đất nước để thực hiện thành công các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trước các biến động hết sức phức tạp trong các quan hệ quốc tế.
Đường lối cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã tạo nên sức mạnh tổng hợp và phát huy tác dụng, đưa tới những thắng lợi rực rỡ của cách mạng nước ta. Ðó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước do dân làm chủ đầu tiên trong lịch sử dân tộc.
Ðó là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng Ðiện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu," giải phóng hoàn toàn miền Bắc, xây dựng hậu phương lớn cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
Ðó là thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Ðó là thắng lợi bước đầu với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế mà nhân dân ta đang tiến hành.
Với những thắng lợi đó, Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước Việt Nam từ nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trở thành một nước đang phát triển có thu nhập trung bình, có vị thế ngày càng quan trọng trên thế giới. Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ có được cơ đồ như ngày nay, triển vọng phát triển rất tươi sáng.
Có thể khẳng định, cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu nước, yêu nhân dân tha thiết, đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị.
Bác để lại cho chúng ta một tấm lòng nhân hậu, một tình cảm chan chứa yêu thương, vì nước, vì dân, vì Ðảng; một trí tuệ anh minh, mẫn tiệp; một tầm nhìn xa rộng, sâu sắc; một mẫu mực tuyệt vời về cách sống, cách nghĩ, cách viết, cách nói và cách làm việc.
Trong những ngày tháng này, đồng bào, đồng chí, chiến sỹ cả nước và bà con ta ở nước ngoài đang hướng về Bác với tất cả lòng thành kính và xiết bao thương nhớ, càng thấm thía và biết ơn công lao trời biển của Bác.
Cuộc đời và sự nghiệp của Bác là một bản anh hùng ca, một tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa yêu nước, về phẩm chất cộng sản, về trí tuệ uyên bác, đạo đức cách mạng trong sáng và là sự cổ vũ lớn lao đối với các thế hệ người Việt Nam./. 28/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, tổ chức của Thiếu nhi Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ngày 15/5/1941.
Ngày 19/8/1945: Tại Thủ đô Hà Nội và các tỉnh, thành nhiều Đội thiếu niên, nhi đồng cứu quốc ra đời. Nổi tiếng là các Đội: Đội nhi đồng cứu quốc Mai Hắc Đế, Đội thiếu niên Hoàng Văn Thụ, Đội tình báo Thiếu niên Thành Huế; Đội thiếu nhi ở Sài Gòn và Liên khu 5.
Tháng 2/1948: Bác viết thư hướng dẫn thiếu nhi nước ta làm công tác Trần Quốc Toản. Từ đấy công tác Trần Quốc Toản ra đời và trở thành phong trào thi đua sôi nổi, hấp dẫn trong cả nước cho đến ngày nay.
Tháng 3/1951: Tại Việt Bắc, Hội nghị cán bộ Đoàn đã quyết định thống nhất các tổ chức thiếu niên, nhi đồng và lấy tên là Đội Thiếu nhi tháng Tám.
Hội nghị cũng thống nhất một số chủ trương mới như thiếu nhi đeo khăn quàng đỏ, bài ca chính thức, khẩu hiệu, phiên chế tổ chức đội.
Ngày 4/11/1956: Đại hội lần thứ II của Đoàn ra Nghị quyết về công tác thiếu niên nhi đồng và quyết định đổi tên Đội thiếu nhi tháng Tám thành Đội thiếu niên Tiền phong Việt Nam, bao gồm hai lứa tuổi nhi đồng và thiếu niên.
Gần 80 năm qua, được Đảng, Nhà nước, các bậc cha mẹ, thầy cô giáo, anh chị phụ trách chăm lo và sự dìu dắt của Đoàn Thanh niên; trải qua các giai đoạn cách mạng, Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh luôn giữ vai trò nòng cốt trong các phong trào thiếu nhi; là lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, góp phần quan trọng vào việc tập hợp, giáo dục thiếu niên nhi đồng thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy, trở thành con ngoan, trò giỏi, đội viên tốt, cháu ngoan Bác Hồ, đoàn viên thanh niên cộng sản, góp phần tô đẹp thêm truyền thống vẻ vang của Đội.
Thực hiện di chúc thiêng liêng của Người, và trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước đã tạo những điều kiện tốt nhất, những cơ hội bình đẳng để các em được chăm sóc, học tập và trưởng thành về mọi mặt, vững vàng bước tới tương lai trong tư thế “sánh vai các cường quốc năm châu”./. 28/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
Ngày 6/3/1926: Trong “Báo cáo gửi quốc tế Cộng sản,” đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã thông báo ở mục 3 là Bác đã “Tổ chức một tổ chức thiếu nhi, lựa chọn trong con em nông dân và công nhân...”
Ngày 22/7/1926: Bác Hồ viết thư cho Ủy ban Trung ương Đội thiếu niên Tiền phong (thuộc Đoàn thanh niên Cộng sản Lenin) đề nghị đào tạo theo chương trình lâu dài một số thanh niên Việt Nam thành cán bộ đoàn sau này.
Trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931: đã xuất hiện tổ chức Đội Đồng Tử Quân, tham gia đấu tranh lập chính quyền Xô Viết ở Nghệ Tĩnh. Nhiệm vụ chủ yếu của các tổ chức này là làm giao thông liên lạc, canh gác bảo vệ cuộc họp.
Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, tổ chức của Thiếu nhi Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ngày 15/5/1941.
Mùa xuân năm 1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Bác Hồ trở về Tổ quốc. Từ hang Pác Bó (Cao Bằng) Bác viết thư gửi “trẻ chăn trâu”:
Nhi đồng cứu quốc Hội ta
Ấy là lực lượng, ấy là cứu tinh
Ấy là bộ phận Việt Minh
Dân mình khắc cứu dân mình mới xong
Từ ý tưởng của Bác, ngày 15/5/1941, tại Nà Mạ (xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng), Đội nhi đồng cứu quốc được thành lập, gồm 5 đội viên: Nông Văn Dền (tức Kim Đồng), Nông Văn Thàn (tức Cao Sơn), Lý Văn Tinh (tức Thanh Minh), Lý Thị Nì (tức Thuỷ Tiên), Lý Thị Xậu (tức Thanh Thuỷ). Anh Kim Đồng được bầu làm đội trưởng.
Đội có mục đích góp phần đánh Tây, đuổi Nhật, giành độc lập nước nhà, với nhiệm vụ làm giao thông liên lạc, bảo vệ đưa đón cán bộ, bảo vệ các cuộc họp của Đảng. 28/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, kể từ khi tìm được con đường cứu dân cứu nước cho đến lúc vĩnh biệt chúng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng chăm lo, săn sóc đến sự nghiệp bồi dưỡng thế hệ trẻ, dành cho họ “muôn vàn tình thân yêu” và một niềm tin vững chắc vào khả năng cách mạng to lớn của tuổi trẻ Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, trẻ em không chỉ “như búp trên cành, biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan” mà còn là người chủ tương lai của đất nước, một lực lượng “tuy tuổi còn nhỏ cũng có thể làm những việc ích nước, lợi dân.”
Lòng yêu thương sâu sắc, bao la của Bác Hồ đối với thiếu nhi không gì có thể so sánh nổi. Đó vừa là tình cảm của một lãnh tụ cách mạng kiệt xuất vừa là của người Bác kính yêu vô cùng gần gũi, luôn luôn đồng cảm và chan hoà với các cháu.
Theo tư tưởng của Người, trẻ em luôn luôn là một chủ thể sáng tạo, một lực lượng tham gia tích cực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, một bộ phận của lực lượng cách mạng, là “người chủ tương lai của nước nhà.”
Trẻ em - Chủ nhân tương lai đất nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, trẻ em không chỉ “như búp trên cành, biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan” mà còn là người chủ tương lai của đất nước, một lực lượng “tuy tuổi còn nhỏ cũng có thể làm những việc ích nước, lợi dân.”
Trong thư gửi các cháu Tết Trung thu năm 1952, Bác Hồ viết:
“Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh
Tính các cháu ngoan ngoãn, mặt các cháu xinh xinh
Mong các cháu cố gắng, thi đua học và hành
Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của minh
Để tham gia kháng chiến, để giữ gìn hòa bình
Các cháu hãy xứng đáng, cháu Bác Hồ Chí Minh!”
Đối với Người, trẻ em không chỉ là lớp cháu con cần xã hội dành cho tình thương yêu, sự chăm chút (mà chính Người suốt đời đã từng yêu thương, chăm chút, ngay cả trong những năm tháng kháng chiến trường kỳ, những lúc vận mệnh đất nước ngàn cân treo sợi tóc), mà trẻ em còn là một lực lượng xã hội “biết yêu nước, biết ghét đế quốc,” khi người lớn phải kháng chiến cũng “hăng hái tham gia” và cũng “oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.”
Người mong muốn và đặc biệt quan tâm, nhắc nhở, khích lệ các cháu là học tập, học sao cho tốt, cho giỏi, bởi “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công cuộc học tập của các cháu...”
Con người là vốn quý, thiếu nhi là vốn quý nhất trong vốn quý ấy. Bác Hồ chỉ rõ: “Ngày nay chúng là thiếu nhi, ít năm sau chúng sẽ là công dân, cán bộ” điều này có nghĩa rằng hôm nay chúng ta chuẩn bị cho các em như thế nào, nay mai hệ quả gặt hái được sẽ như thế ấy.
Với mục tiêu đào tạo các em thành “người chủ tương lai của nước nhà, người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh,” Bác Hồ đặt ra yêu cầu thực hiện giáo dục toàn diện đối với thiếu nhi.
Ngày 15/5/1961, vào dịp kỷ niệm lần thứ 20 Ngày thành lập đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Người đã gửi thư cho thiếu niên, nhi đồng cả nước và căn dặn:
1- Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào,
2- Học tập tốt, lao động tốt,
3- Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt,
4- Giữ gìn vệ sinh thật tốt
5- Khiêm tốt, thật thà, dũng cảm
Năm điều Bác dạy thiếu nhi hàm chứa những truyền thống quý báu từ bao đời nay của dân tộc ta. Đó là truyền thống yêu nước nồng nàn, kiên cường chiến đấu chống mọi kẻ thù xâm lược; ham học hỏi, cầu tiến bộ; đoàn kết, nhân ái, thương người như thể thương thân; lao động cần cù, dũng cảm, sáng tạo và mối quan hệ tin cậy, chân thật trong cộng đồng...
Năm điều Bác Hồ dạy thiếu nhi phản ánh những đặc trưng cơ bản của lớp người mới được hình thành trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa mang tính toàn diện rõ rệt.
Năm điều ấy cũng phản ánh nguyên lý giáo dục mới của Đảng ta là học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động, sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội.
Cùng với năm điều Bác dạy đó, di sản lý luận và những lời dạy, những kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục thiếu nhi mà Bác để lại cho chúng ta hết sức phong phú trên nhiều bình diện.
Bác dạy: “Trồng người phải mất trăm năm,” Bác kêu gọi các tổ chức đoàn thể, nhà trường, gia đình, các anh chị phụ trách bồi dưỡng cho các em “dần dần có cái tư cách của con người mới,” “thành những công dân có tài, có đức.”
Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc dạy chữ phải luôn đi đôi với việc dạy các em làm người; việc chăm sóc luôn phải đi đôi với việc bảo vệ thiếu nhi, giáo dục trong tổ chức Đội. Chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em vừa là vấn đề hướng đến ngày mai vì tương lai của dân tộc, vừa là những công việc cần làm tốt ngay từ hôm nay vì hạnh phúc của mỗi gia đình.
Người nói: “Giáo dục nhi đồng là một khoa học... Cách dạy trẻ, cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc, thương yêu đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Đồng thời phải giữ toàn vẹn cái tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên tự động, trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hoá ra người già cả... Trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường học, trong xã hội chúng đều vui, đều học.”
Cũng từ am hiểu đặc tính của trẻ em, Người yêu cầu các thầy cô giáo, cán bộ phụ trách, các Đảng viên, những người lớn, các bậc cha mẹ, phải gương mẫu từ lời nói đến việc làm trước các em.
“Nếu các cô, các chú bảo: “các em phải siêng làm” nhưng các cô các chú lại đi ngủ, hoặc dạy “các em phải thật thà” nhưng các cô các chú lại nói sai, hay bảo “các em phải giữ vệ sinh chung” nhưng các cô các chú bẩn như thế không được. Dạy các cháu thì nói với các cháu chỉ là một phần, cái chính là phải cho các cháu nhìn thấy, cho nên những tấm gương thực tế là rất quan trọng. Muốn dạy cho trẻ em thành người tốt thì trước hết các cô các chú phải là người tốt,” Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn.
Sinh thời, tình yêu thương vô tận của Bác Hồ luôn trước hết hướng về các cháu thiếu nhi: “Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh.” Trước lúc đi xa, Người vẫn để tâm nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân “nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng.” 27/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam
Tiếp tục đi theo con đường cách mạng vẻ vang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta nguyện kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp vĩ đại của Người; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; xây dựng đất nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,” vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Nước Việt Nam từ một xứ thuộc địa phong kiến, nghèo nàn, lạc hậu đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hoá, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị từng bước hoàn thiện; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng-an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.
Đúng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nói: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.”
Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch của đất nước sau gần 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế là minh chứng sinh động khẳng định đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng; khẳng định sự đúng đắn về đường lối cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra; và chính trong quá trình vận động của cách mạng, tư tưởng, đường lối đó ngày càng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện, trở thành ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam vững bước đi tới tương lai./. 27/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc cho quốc dân
Không chỉ hết lòng vì nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn rất mực thương dân. Lòng yêu nước và thương dân của Người luôn gắn bó hòa quyện, bổ sung cho nhau. Vì “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” nên phải làm sao cho mọi người được ăn no mặc ấm, được sung sướng, tự do. Người yêu cầu, Đảng và Nhà nước, cán bộ đảng viên phải nhận thức rõ điều đó, phải phấn đấu cho mục tiêu đó.
Tin tưởng vào sức mạnh vô địch của nhân dân, “Dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó trăm lần dân liệu cũng xong,” Người luôn nhắc nhở, từ người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, đến mỗi cán bộ, đảng viên, đều phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, phải chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, “việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh.”
Không chỉ có vậy, Người còn đau nỗi đau của dân, buồn nỗi buồn của dân; chịu khổ trước dân, vui hưởng sau dân... Dù rất bận với công việc của người đứng đầu đất nước, nhưng Bác vẫn dành thời gian gặp gỡ các tầng lớp nhân dân; viết thư thăm hỏi, tặng quà cho những người cao tuổi mẫu mực, những thanh, thiếu niên, nhi đồng học hành chăm ngoan, làm nhiều việc tốt; gương mẫu thực hiện tiết kiệm, “10 ngày nhịn ăn một bữa” để chia sẻ với đồng bào nghèo đói.
Có thể thấy, ý chí cứu nước, giành độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân là tinh thần chủ đạo, xuyên suốt cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh, đúng như Người đã bộc bạch: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc cho quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó”. Hay “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.”
Chính lòng yêu nước thương dân ấy, mong muốn ấy của Người đã trở thành niềm động viên to lớn, truyền thêm sức mạnh cho mọi tầng lớp nhân dân đoàn kết một lòng, ủng hộ kháng chiến, tham gia kháng chiến và giành thắng lợi. 27/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Sáng suốt đề ra đường lối đúng đắn cho cách mạng Việt Nam
Trước việc thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam, ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc.
Trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến,” Bác nhấn mạnh: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…” (3). Cùng với Trung ương Đảng, Bác đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam phá tan âm mưu của đế quốc, giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ngày 7/5/1954. Chiến thắng này không chỉ có ý nghĩa đối với dân tộc Việt Nam, mà còn cổ vũ các dân tộc thuộc địa vùng lên giành độc lập, đánh đổ chế độ thực dân, đế quốc.
Trong 15 năm lãnh đạo sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (từ năm 1954 đến tháng 9/1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng sáng suốt đề ra đường lối đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ cách mạng là dưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà.
Ngay cả khi chuẩn bị đi vào cõi vĩnh hằng, Người vẫn khẳng định: “Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn."
Với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ,” “không có gì quý hơn độc lập, tự do”; thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác; trên cơ sở đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, quân và dân ta đã đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu giang sơn về một mối, hoàn thành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. 27/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Trong suốt chiều dài lịch sử của cách mạng Việt Nam, mỗi thắng lợi, mỗi bước đi lên đều gắn liền với công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cống hiến trọn đời, làm rạng rỡ non sông, đất nước.
Cách đây 75 năm, ngày 2/9/1945, trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc.
Trong suốt chiều dài lịch sử của cách mạng Việt Nam, mỗi thắng lợi, mỗi bước đi lên đều gắn liền với công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh - người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; người làm rạng rỡ non sông, đất nước.
Từ Bến Nhà Rồng đến Quảng trường Ba Đình lịch sử
Sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất nước, nhiều cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh yêu nước, chống thực dân Pháp đều lần lượt thất bại, phong trào cứu nước của nhân dân ta đứng trước khủng hoảng sâu sắc về đường lối, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã quyết chí lên đường ra đi tìm đường cứu nước khi mới vừa tròn 21 tuổi, với khát vọng cháy bỏng “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu.”
Trên chặng đường bôn ba đầy khó khăn, gian khổ ấy, người thanh niên Nguyễn Tất Thành, nhà hoạt động quốc tế xuất sắc Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Marx-Lenin, tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.”
Năm 1920, người chiến sỹ cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam Nguyễn Ái Quốc trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và cũng là người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam.
Tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin, Người đã dần xây dựng được một hệ thống lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc phù hợp với thực tiễn Việt Nam và tích cực chuẩn bị mọi mặt cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng ở Việt Nam.
Từ ngày 3 đến 7/2/1930, tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đây Việt Nam đã có một chính Đảng chính thức, thực hiện vai trò tổ chức, lãnh đạo, nhân dân làm cách mạng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã gắn kết thành một khối, phát huy cao độ sức mạnh toàn dân tộc, làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám lịch sử năm 1945.
Ngày 2/9/1945 trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc.
Việt Nam từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, một nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Nhân dân ta từ người nô lệ trở thành người chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. 27/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Vững niềm tin con được Bác đã chọn
Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc đã trở về Tổ quốc. Sự kiện này đã đáp ứng những đòi hỏi khách quan của phong trào cách mạng trong nước, sự phát triển của tiến trình lịch sử đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc Việt Nam và cả đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc. Vì tự do, hạnh phúc của nhân dân với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập, tự do".
Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa lâm vào giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: "Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh". Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng ta một lần nữa khẳng định: "Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử".
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, Nhân dân ta đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đặc biệt là những thành tựu to lớn và toàn diện của 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, và uy tín quốc tế như ngày nay.
Trong bài viết gần đây Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục khẳng định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.
Tính khoa học và cách mạng triệt để của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”. 27/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Cách đây 110 năm, ngày 5-6-1911 tại Bến Nhà Rồng, Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành bắt đầu hải trình tìm đường cứu nước bằng công việc phụ bếp. Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh; mà còn tạo nên những bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam, đã làm thay đổi hướng phát triển của lịch sử và thay đổi số phận của cả dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, mốc son vàng của lịch sử dân tộc.
Bước ngoặt quyết định.
Đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản, tiêu biểu như phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội… Những phong trào này chưa lôi cuốn được các tầng lớp nhân dân, lại bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt, nên tất cả đều thất bại. Các phong trào yêu nước của nhân dân ta lúc bấy giờ với các khuynh hướng khác nhau đều lâm vào ngõ cụt, bế tắc và bị khủng hoảng.
Chứng kiến cuộc khủng hoảng con đường cứu nước của dân tộc, Nguyễn Ái Quốc quyết định đi sang các nước phương Tây học hỏi kinh nghiệm để về giúp đồng bào đòi lại quyền dân tộc độc lập.
Ngày 5-6-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành với tên gọi khác là Văn Ba đã rời Bến Nhà Rồng, trên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville lên đường sang Pháp, với quyết tâm tự lao động làm phương tiện đi tìm chân lý. Ngày 6-7-1911 tàu cập bến Mác-xây (Pháp), đất nước đầu tiên mà Nguyễn Tất Thành đặt chân đến và phát hiện ra điều ngạc nhiên nhất: Ở đây cũng có những người nghèo như ở Việt Nam. Câu hỏi day dứt nhất đối với Nguyễn Tất Thành là tại sao ở nước Pháp cũng có sự phân hóa xã hội, có giàu nghèo, tốt xấu, vậy thì ở các nước văn minh khác có như thế không. Nguyễn Tất Thành lại lên đường đi các nước An-giê-ri, Tuy-ni-di, Công-gô, Mỹ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha – những nơi có đủ màu da và sắc tộc, xứ sở của những kẻ được khai hóa và thành tựu của những kẻ đi khai hóa. Ở những nơi này, Nguyễn Tất Thành được chứng kiến điều kiện sống khủng khiếp của những người nghèo khổ, và nạn phân biệt chủng tộc tàn nhẫn diễn ra hằng ngày. Năm 1913 Nguyễn Tất Thành đến nước Anh làm người quét tuyết, thợ đốt lò, phụ bếp, rửa bát đĩa, cùng sống với nhiều người nghèo khổ, đói khát. Ở những nơi đã đi qua, các cuộc cách mạng tư sản là một nội dung được Nguyễn Tất Thành tập trung nghiên cứu, và Người đã tiếp thu được nhiều điều bổ ích. Đặc biệt từ việc nghiên cứu cách mạng Mỹ 1776 và cách mạng Pháp 1789 và nhất là những gì đã trực tiếp chứng kiến, Người đã rút ra kết luận: “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”. “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”. Vậy là hai mục tiêu Nguyễn Tất Thành đang ấp ủ là độc lập cho dân tộc và tự do, hạnh phúc cho nhân dân mình thì kinh nghiệm cách mạng Mỹ và Pháp không đáp ứng được.
Năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp. Từ khi chính thức xuất hiện tại Pa-ri trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp, Nguyễn Tất Thành đã trưởng thành, có nhiều hoạt động và đến năm 1919, dưới tên Nguyễn Ái Quốc, anh cùng nhóm hoạt động đã ký tên gửi bản yêu sách 8 điểm tới Hội nghị Véc-xây. Đầu năm 1919 Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp chỉ vì “Đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước anh, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: Tự do - Bình đẳng - Bác ái!”.
Cuối năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Khi nghiên cứu Cách mạng Tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc nhận xét: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do, bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”. Nguyễn Ái Quốc đọc “Luận cương của Lê-nin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa”, Người nhận rõ Luận cương của Lê-nin soi sáng con đường giải phóng dân tộc mình. Và chính Luận cương của Lê-nin đã chính thức đánh dấu việc Nguyễn Ái Quốc đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin. Về sau, Người viết: “Luận cương của Lê-nin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Nhận thức này đã dẫn tới quyết định của Nguyễn Ái Quốc ở Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp (12-1920), Người bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III và ngay sau đó Người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Đây là bước ngoặt đặc biệt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, đánh dấu bước chuyển từ người yêu nước thành người cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.
Từ kinh nghiệm cách mạng vô sản trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: Việt Nam muốn có độc lập, tự do phải đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga. Và “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải lấy dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo Chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lê-nin”.
Năm 1921, Người sáng lập Hội Liên hiệp Thuộc địa; năm 1922, ra báo “Người cùng khổ”; năm 1923, sang Liên Xô làm việc tại Quốc tế Cộng sản; năm 1924, về Quảng Châu (Trung Quốc) chuẩn bị thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội (1925); năm 1925, xuất bản tác phẩm “Đường cách mệnh”.
Bước đường trưởng thành từ người yêu nước thành nhà cách mạng - Con đường từ Nguyễn Tất Thành đến Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã được vun đắp bằng sự ủng hộ của đồng bào và quốc tế. Hai lần ngồi tù, bao năm lận đận xứ người và dẫn dắt cách mạng Việt Nam giành độc lập - Bắt đầu từ những ngày mà người Việt Nam ghi nhớ khi anh thanh niên Văn Ba xuống tàu ngày 5-6-1911. Cuộc hành trình tìm đường cứu nước của Bác Hồ đã tạo nên những bước ngoặt lớn trong cách mạng Việt Nam, đã làm thay đổi hướng phát triển của lịch sử và thay đổi số phận của cả dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. 27/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Động viên toàn dân tộc đồng tâm, nhất trí
Dưới sự lãnh đạo, cổ vũ của Đảng và Bác Hồ, dưới ngọn cờ đoàn kết cứu nước của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Nhân dân ta ở miền Nam đã giành được những thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh kết hợp chính trị với vũ trang, nổi dậy với tiến công trên cả ba vùng chiến lược, tiến công địch bằng cả ba mũi: Chính trị, quân sự và binh vận, phá vỡ quốc sách ấp chiến lược của chúng, dẫn tới chiến thắng Ấp Bắc (1.1963), báo hiệu sự phá sản tất yếu của cuộc chiến tranh đặc biệt của Mỹ. Phong trào đấu tranh chính trị trong các đô thị, nhất là ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng cũng ngày một dâng cao, đẩy đế quốc Mỹ vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”.
Tháng 8.1965, Mỹ ồ ạt đổ 30 vạn quân viễn chinh cùng rất nhiều vũ khí, thiết bị quân sự vào miền Nam Việt Nam hòng nhanh chóng tiêu diệt lực lượng cách mạng và bình định miền Nam; đồng thời mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Mỹ ra miền Bắc. Người Mỹ rêu rao: Đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá. Quân đội Mỹ đã chuyển từ chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, “dùng người Việt đánh người Việt”, sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”, hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường, đẩy quân ta trở về thế phòng ngự, bị động.
Trước tình hình ấy, ngày 17.7.1966, qua làn sóng của Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước. Người nói: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!".
Người cũng chỉ ra cách giải quyết cuộc chiến tranh ở Việt Nam: "Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, phải rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi Việt Nam thì hòa bình sẽ trở lại ngay lập tức”.
Trong lời kêu gọi, Người tin tưởng: “Trước đây, trong hoàn cảnh khó khăn hơn nhiều, mà chúng ta đã thắng phát xít Nhật và thực dân Pháp. Ngày nay, điều kiện trong nước và trên thế giới thuận lợi cho ta hơn, sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta càng chắc chắn sẽ hoàn toàn thắng lợi”.
Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước xuất hiện đúng thời điểm đất nước lâm nguy, như lời hiệu triệu thiêng liêng, động viên toàn dân tộc đồng tâm, nhất trí, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, tiến lên giành chiến thắng, lần lượt đập tan chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh”, tiến tới Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào, thu non sông về một mối. Chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định đã thể hiện ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam - một dân tộc đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử. Đây là chân lý bất hủ, có giá trị soi đường và mãi tỏa sáng cùng dân tộc ta.