0 0 0 2 2 7 4 0 0 1
Đang online:
9
Hôm nay :
159
Hôm qua :
1,722
Tuần này :
9,891
Tuần trước :
9,324
Tháng này :
30,524
Tháng trước:
36,129
18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Ba là, xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân
Trong một bài viết trên báo Sự thật số 120, ngày 15-10-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định:
“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” (25).
Như vậy, cách mạng là sự nghiệp của nhân dân. Dựa vào dân, gắn bó mật thiết với nhân dân là điều kiện tồn tại và phát triển của Đảng. Mục tiêu lãnh đạo của Đảng chính là đem lại những lợi ích thiết thực cho nhân dân. Muốn vậy, Đảng phải trở thành “người đầy tớ” của nhân dân. Để tăng cường sự gắn bó giữa Đảng với nhân dân, Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải thường xuyên đi sâu vào đời sống quần chúng nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân nhưng tuyệt đối không được theo đuổi quần chúng. 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Hai là, thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng
Nguyên tắc tập trung, dân chủ: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Đảng tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Nghĩa là: có đảng chương thống nhất, kỷ luật thống nhất, cơ quan lãnh đạo thống nhất. Cá nhân phải phục tùng đoàn thể, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương. Trong Đảng, bất kỳ cấp trên hoặc cấp dưới, đảng viên cũ hoặc đảng viên mới, đều nhất định phải giữ kỷ luật của giai cấp vô sản” (15). Đây là nguyên tắc rường cột, quan trọng nhất để xây dựng Đảng chặt chẽ, vững chắc, phát huy được sức mạnh tổng hợp.
Theo Người, “dân chủ” và “tập trung” luôn luôn đi đôi với nhau. Giữa “dân chủ” và “tập trung” có mối quan hệ khăng khít với nhau, đó là hai vế của một nguyên tắc. Trong Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, Trường Đại học nhân dân Việt Nam, ngày 21-7-1956, Bác viết về mối quan hệ đó như sau: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Ðối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Ðó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân - tức là phục tùng chân lý” (16). Thực hiện nguyên tắc này, nghĩa là phòng và chống các biểu hiện chuyên quyền, độc đoán, thói hách dịch, chụp mũ, trù dập. Đồng thời cũng cần đề phòng và chống những biểu hiện của dân chủ “quá trớn”.
Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách: Người cho rằng, đây là nguyên tắc lãnh đạo của Đảng. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách cần phải luôn đi đôi với nhau.
Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích về tập thể lãnh đạo như sau: “Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo? Vì một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy, cần phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó. Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người, thì vấn đề đó được thấy rõ khắp mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt, thì vấn đề ấy mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm” (17).
Người viết về cá nhân phụ trách: “Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho một người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy. Nếu không có cá nhân phụ trách thì sẽ sinh cái tệ người này ủy cho người kia, người kia ủy cho người nọ, kết quả là không ai thi hành. Như thế thì việc gì cũng không xong” (18).
Thực hiện nguyên tắc này trong công tác xây dựng Đảng phải chú ý khắc phục những biểu hiện độc đoán, chuyên quyền, đồng thời phải chống lại tình trạng dựa dẫm tập thể, khống dám quyết đoán và chịu trách nhiệm.
Nguyên tắc tự phê bình và phê bình: Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đây là quy luật phát triển của Đảng, là vũ khí để rèn luyện Đảng viên nhằm làm cho mỗi người tốt hơn, tiến bộ hơn, và tăng cường đoàn kết trong nội bộ. Mục đích của tự phê bình và phê bình là để làm cho phần tốt trong mỗi người nảy nở như hoa mùa xuân, làm cho mỗi tổ chức tốt lên, phần xấu bị loại bỏ, vươn tới một sự hoàn thiện.
Người nói về nguyên tắc tự phê bình và phê bình: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (19). Chức càng cao, quyền càng lớn, khi mắc phải sai lầm hậu quả sẽ rất lớn, do đó, tự phê bình và phê bình sẽ khiến cho mỗi người cán bộ, Đảng viên luôn nhận thức đúng về những hành động của mình và tiến bộ hơn, sẽ tránh được những sai lầm đáng tiếc.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình phải tiến hành thường xuyên như người ta rửa mặt hằng ngày; phải thẳng thắn, trung thực, “không đặt điều”, “không thêm bớt”, không che giấu,. Tự phê bình và phê bình phải kiên quyết, “ráo riết”. Người cũng yêu cầu: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” (20).
Kỷ luật nghiêm minh, tự giác: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nếu không có kỷ luật, “Đảng sẽ xệch xoạc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ” (21). Có kỷ luật nghiêm minh, tự giác, Đảng ta sẽ có một sức mạnh vô cùng to lớn: “Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của cán bộ và đảng viên” (22). Theo Người, bên cạnh việc chấp hành nghiêm kỷ luật của Đảng, cần biến kỷ luật thành ý thức và hành động tự giác trong mỗi người cán bộ, đảng viên.
Đoàn kết, thống nhất trong Đảng: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết thống nhất trong Đảng là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp. Người khẳng định: “Với sự đoàn kết nhất trí và lòng cương quyết quật cường của Đảng, của Chính phủ và của toàn dân, chúng ta nhất định khắc phục được mọi khó khăn để đi đến hoàn toàn thắng lợi” (23).
Người yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên phải bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” (24). Theo Người, muốn đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, tu dưỡng đạo đức cách mạng, “quét sạch chủ nghĩa cá nhân” và các biểu hiện tiêu cực khác, phải yêu thương lẫn nhau, “sống có tình, có nghĩa”. 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Một là, Xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận: Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động
Mở đầu tác phẩm Đường cách mệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn luận điểm nổi tiếng của V. Lê-nin: “Không có lý luận cách mệnh thì không có cách mệnh vận động... Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong” (5). Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (năm 1947), Người viết:“Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công tác thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” (6). Như vậy, bên cạnh việc khẳng định Cách mạng Việt Nam “trước hết phải có Đảng cách mệnh” (7), Người còn muốn nhắc đến một điều đặc biệt quan trọng: dẫn đường cho mọi hoạt động của cách mạng đều cần thiết phải có một học thuyết, một chủ nghĩa cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Có lý luận soi đường thì quần chúng hành động mới đúng đắn, mới phát hiện được tài năng và lực lượng vô cùng tận của mình” (8).
Trong các bài giảng huấn luyện cho cán bộ cách mạng từ năm 1925 đến năm 1927 (sau được in thành tác phẩm Đường cách mệnh) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam” (9). Nhưng, Người cũng phát hiện ra rằng “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin” (10).
Có chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, soi đường, dẫn lối, Đảng đã đạt được những mục tiêu nhất định, đã lãnh đạo được giai cấp công nhân thực hiện được xứ mệnh lịch sử của mình, đưa dân tộc ta vượt qua những khúc quanh của lịch sử, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong bài Chủ nghĩa Lê-nin và công cuộc giải phóng các dân tộc bị áp bức (tháng 4-1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lê-nin đã để lại cho chúng tôi một kho tàng quý báu vô ngần: học thuyết của Người về cơ sở tư tưởng, về những nguyên tắc tổ chức, về lý luận và sách lược của đảng cách mạng. Chủ nghĩa Lê-nin là lực lượng tư tưởng hùng mạnh chỉ đạo Đảng chúng tôi, làm cho Đảng chúng tôi có thể trở thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc chúng tôi” (11).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi Đảng phải gắn lý luận với hành động thực tiễn. Phải có phương pháp học tập đúng đắn, học phải đi đôi với hành, nếu không, chưa khắc phục được bệnh kinh nghiệm thì đã mắc phải bệnh giáo điều, bệnh sách vở. Người chỉ rõ, “lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ không có kết quả. Do đó, trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấn mạnh: lý luận phải liên hệ với thực tế” (12). Người luôn phê phán kiểu học thuộc lòng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, và yêu cầu “Đảng kết hợp lý luận với kinh nghiệm và thực hành của cách mạng Việt Nam. Đảng áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp Mác - Lê-nin mà giải quyết các vấn đề thực tế của cách mạng Việt Nam… không phải chỉ học thuộc lòng vài bộ sách của Mác - Lê-nin mà làm được như vậy. Đảng phải có tinh thần khoa học và tinh thần cách mạng rất cao, phải hiểu rõ lịch sử xã hội, phải quyết tâm phấn đấu cho giai cấp và nhân dân, phải tin tưởng vào lực lượng và sáng kiến của quần chúng, phải gom góp tư tưởng, kinh nghiệm, sáng kiến và ý chí của quần chúng, sắp xếp nó thành hệ thống, rồi lại áp dụng vào trong quần chúng” (13). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng căn dặn cán bộ, đảng viên “học tập lý luận thì nhằm mục đích để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc để tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng” (14). 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh TCCSĐT - Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người về xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh, để Đảng xứng đáng “là đạo đức, là văn minh” chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Việc vận dụng tư tưởng của Người vào công tác xây dựng Đảng hiện nay sẽ góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh. Xây dựng Đảng chính là yêu cầu để Đảng tồn tại và phát triển.
Trong Bài nói tại lớp chỉnh huấn đầu tiên của Trung ương (ngày 11-5-1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng “vì điều kiện khó khăn, mà số đông cán bộ và đảng viên chưa được huấn luyện hẳn hoi cho nên tư tưởng và trình độ chính trị còn thấp kém và lệch lạc. Điều đó tỏ rõ ra ở mỗi khuyết điểm như: không nắm vững chính sách trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh; không phân biệt rõ ràng bạn và địch, bệnh quan liêu, công thần và nạn tham ô hủ hóa khá nặng, v.v… (1). Từ đó có thể thấy, xây dựng Đảng là cơ hội để mỗi cán bộ, đảng viên tự rèn luyện, giáo dục và tu dưỡng, ngày một tiến bộ hơn, trở thành người cách mạng chân chính.
Trước lúc đi xa, trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” (2). Câu nói đó, Bác đã đưa ra yêu cầu cơ bản về đạo đức của cán bộ, đảng viên và yêu cầu xuất phát từ bản chất cách mạng của Đảng ta, từ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Đất nước đã đạt được nhiều thành tựu rất to lớn, đồng thời đang phải đối mặt với không ít khó khăn, nguy cơ, thách thức. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn liền với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong Đảng, bộ máy Nhà nước vẫn đang diễn ra nghiêm trọng chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Đây là một vấn đề gây nhức nhối trong xã hội, là một trong những nguy cơ tiềm ẩm đe doạ thắng lợi của sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta.
Hội nghị Trung ương 4 khóa XI đã đề ra nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách hiện nay về xây dựng Đảng”. Nghị quyết chỉ rõ: “Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác xây dựng đảng còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ” (3). Cùng với đó là lời khẳng định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, tham nhũng lãng phí, tùy tiện vô nguyên tắc” (4).
Những nội dung trong công tác xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam mà Người đề ra, nếu được toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là những người cán bộ, đảng viên nghiên cứu và học tập chắc chắn sẽ góp phần quan trọng trong việc làm cho toàn Đảng trở thành một khối thống nhất về nhận thức và tư tưởng, làm cơ sở cho sự thống nhất về hành động, đủ sức lái con thuyền cách mạng Việt Nam tiến về phía trước, vượt qua được những khó khăn thử thách đó. 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Năm là, luôn nâng cao chất lượng nội dung
Báo chí phương tiện thông tin đại chúng đóng vai trò đặc biệt quan trọng - xung kích trên mặt trận tư tưởng, đưa mọi chủ trương, đường lối của Đảng đi vào thực tiễn đời sống xã hội và phát huy các giá trị, tạo ra sức mạnh để mọi người hiểu đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo sự đồng thuận trong xã hội, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng đề ra. Vì vậy, sinh thời Bác căn dặn: “... Cần nâng cao hơn nữa chất lượng của báo chí để nó làm tròn nhiệm vụ cao cả của nó... Nhiệm vụ của báo chí là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng”. Lời dạy của Bác vừa là động viên, vừa là lời nhắc nhở người làm báo và các cơ quan báo chí không ngừng nâng cao chất lượng bài viết cũng như vận dụng công nghệ tiến tiến. Khắc sâu lời dạy của Bác, báo chí đã tích cực tuyên truyền, cổ vũ phong trào thi đua, lao động sản xuất, thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, động viên đồng bào cả nước vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, kế hoạch đề ra. Hội nghị Trung ương 5 (khoá VIII) nhấn mạnh đến vai trò của công nghệ mới trong lĩnh vực thông tin đại chúng: “Sắp xếp lại và quy hoạch hợp lý hệ thống truyền hình, phát thanh, thông tấn, báo chí, xuất bản, thông tin mạng nhằm tăng hiệu quả thông tin, tránh lãng phí...”; “Không ngừng nâng cao trình độ chính trị và nghề nghiệp, chất lượng tư tưởng, văn hóa của hệ thống thông tin đại chúng. Khắc phục xu hướng thương mại hóa trong hoạt động báo chí xuất bản”.
Nghị quyết Trung ương 5 (khoá X) đánh giá: Báo chí góp phần quan trọng nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn hoá của nhân dân, tham gia có hiệu quả vào các hoạt động xã hội, góp phần vào quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội, công chúng tham gia ngày càng tích cực, chủ động vào quá trình truyền thông... Đồng thời đề mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác báo chí trước yêu cầu mới: “Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, trình độ nghiệp vụ, năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. Đổi mới, nâng cao chất lượng về nội dung, hình thức, tăng tính thuyết phục, tính hấp dẫn, lượng phát hành, phạm vi phát sóng. Tạo điều kiện về cơ sở vật chất - kỹ thuật để các báo đài chủ lực hoàn thành nhiệm vụ, nâng cao năng lực chi phối, định hướng thông tin và dư luận xã hội.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng là tài sản vô giá - cơ sở phương pháp luận cho hoạt động báo chí nước ta không chỉ trong những năm kháng chiến ác liệt mà còn là “ngọn đuốc soi đường” đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Việc học tập, vận dụng và phát triển tư tưởng của Bác về báo chí cách mạng trong điều kiện mới là một yêu cầu quan trọng không chỉ đối với người làm báo mà còn bảo đảm cho sự phát triển bền vững, tích cực của nền báo chí cách mạng Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, xây dựng môi trường ổn định, hoà bình cùng tồn tại và phát triển… góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng đất “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như sinh thời Bác Hồ hằng mong. 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Bốn là, bố cục “ngắn gọn”, ngôn ngữ “trong sáng, giản dị, dễ hiểu”
Một tác phẩm báo chí thật sự có giá trị khi nó đáp ứng yêu cầu của xã hội. Tác phẩm báo chí có giá trị, theo Bác: phải là tác phẩm có bố cục “ngắn gọn”, ngôn ngữ “trong sáng, giản dị, dễ hiểu”. Bác chỉ rõ: thứ nhất, phải “ngắn gọn”. Ngắn gọn, theo Người không có nghĩa là cộc lốc mà ngắn gọn là gọn gàng, rõ ràng, có đầu, có đuôi, có nội dung thiết thực, thấm thía, chắc chắn. Thứ hai, ngôn ngữ phải “trong sáng - giản dị - dễ hiểu”.
Để đạt được tác phẩm báo chí như vậy, trước hết nhà báo phải học cách nói, cách nghĩ của quần chúng, bám sát thực tiễn, hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Sự trong sáng, giản dị, dễ hiểu là bắt nguồn từ sự hiểu biết thấu tình, đạt lý, đúng bản chất của sự vật, phù hợp với truyền thống dân tộc trong cách cảm, nếp nghĩ của con người Việt Nam. Người không những am hiểu ngôn từ của nhiều dân tộc mà còn là bậc thầy về sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt. Người đề cao và khẳng định: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp. Của mình có mà không dùng, lại đi mượn của nước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen ỷ lại hay sao?”. Bên cạnh đó, Người còn yêu cầu: “Người làm báo ít nhất cũng cần biết một thứ tiếng nước ngoài”. Không có trình độ văn hóa tổng quát tối thiểu thì sản phẩm thông tin đại chúng thường trở nên tầm thường, mờ nhạt, thiếu sức sống… 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Ba là, thông tin phải chân thực, chính xác, cẩn thận về nội dung và hình thức
Từ kinh nghiệm làm báo của mình, Bác chỉ rõ: nhà báo viết phải “chân thực” - chân thực là sức mạnh vì nó có lòng tin. Mỗi bài viết của nhà báo phải bắt nguồn từ thực tế cuộc sống với những con số, những sự kiện đã được xem xét kiểm tra, chọn lọc. Bài viết phải đem lại cho người đọc lượng thông tin và tính chính xác cao. Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra, không nên nói ẩu, chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết. Người nhấn mạnh: “Mỗi bài viết của phóng viên phải bắt nguồn từ thực tế cuộc sống với những con số, những sự kiện đã được xem xét kiểm tra, chọn lọc. Bài viết phải đem lại cho người đọc lượng thông tin cao và chính xác. Viết phải đúng sự thật, không được bịa ra, không nêu nói ẩu, chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết”.
Tính chân thật luôn được xem là đạo đức của người làm báo cách mạng. Vì thế, báo chí cách mạng Việt Nam là tiếng nói của Đảng và là diễn đàn của nhân dân. Báo chí cách mạng phản ánh chân thực những ý kiến đóng góp xây dựng của nhân dân, nói lên tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của dân đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời báo chí cũng quyết liệt chống nạn tham nhũng, lãng phí; chống các tệ nạn xã hội; chống lại những biểu hiện tha hóa, sa sút về phẩm chất, đạo đức và lối sống. Với việc làm đó, báo chí đã đem đến cho công chúng niềm tin ở sự thật, tin ở sự nghiêm minh của pháp luật, đặc biệt tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin vào truyền thống cách mạng. 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Hai là, làm báo phải có kiến thức sâu rộng, am hiểu thực tế
Nhà báo phải là một người có tri thức rộng và sâu, đặc biệt là có trách nhiệm với công việc, với chính “đứa con tinh thần” của mình và phải chịu trách trước công chúng. Trong thư Bác gửi lớp viết báo Huỳnh Thúc Kháng, Người viết: “Muốn viết báo khá thì cần: 1. Gần gũi dân chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thi không thể viết thiết thực; 2. Ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài để xem báo nước ngoài mà học kinh nghiệm; 3. Khi viết xong một bài, tự mình phải xem lại ba bốn lần, sửa chữa lại cho cẩn thận. Tốt hơn nữa, là đưa nhờ một vài người ít văn hóa xem và hỏi họ những câu nào, chữ nào không hiểu thì sửa lại cho dễ hiểu; 4. Luôn luôn gắng học hỏi, luôn luôn cầu tiến bộ...”.
Trong bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam ngày 8-9-1962, Bác chia sẻ về kinh nghiệm làm báo “Kinh nghiệm của tôi là thế này: Mỗi khi viết một bài báo, thì đặt câu hỏi:
“1. Viết cái gì? Viết những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của bạn bè ta. Đồng thời để phê bình khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, nhân dân, bộ đội.
2. Viết cho ai? Viết cho công-nông-binh, viết cho mọi tầng lớp người Việt Nam, không phân biệt già trẻ, nam nữ, tôn giáo, đảng phái.
3. Viết để làm gì? Viết để tuyên truyền, để giác ngộ, để đoàn kết, để thức tỉnh quần chúng.
4. Viết thế nào? Viết phải gọn gàng, sáng sủa, mạch lạc, có đầu có đuôi, có nội dung”. Xác định được đối tượng của báo chí nên Người nói và viết dù chỉ một câu cũng làm cho người dân bình thường nhất hiểu và làm theo được.
Kinh nghiệm làm báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ trở thành những nguyên tắc cơ bản “khuôn vàng, thước ngọc” không thể thiếu đối với những người cầm bút mọi thế hệ. Đây chính là những bài học quý báu mà Người đã để lại cho các thế hệ nhà báo. 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Cả cuộc đời hoạt động và lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam tài sản vô giá về tư tưởng, đạo đức cách mạng sáng ngời, trong đó có đạo đức và phong cách làm báo
Di sản báo chí to lớn và phong phú của Bác thể hiện sinh động những quan điểm, tư tưởng của Người về cách mạng, về thời đại, về nhân dân, về kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh, quốc phòng và các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời thể hiện một nhân cách vĩ đại, nhà báo cách mạng lớn - Hồ Chí Minh.
Sự nghiệp làm báo của Bác song hành với suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, từ khi bôn ba đi tìm đường cứu nước, cứu dân! Người làm văn, viết báo để phục vụ cách mạng và để làm cách mạng Người đã trở thành một nhà báo. Các tác phẩm báo chí của Người là phương tiện, vũ khí sắc bén nhằm mục đích chính trị, vạch tội ác kẻ thù. Người khẳng định: Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén - bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới. Vì vậy, với ngòi bút điêu luyện, sắc xảo, linh hoạt Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết những bài chính luận đanh thép, trong sáng, giàu hình tượng; khi lên án kẻ áp bức bóc lột thì như bốc lửa ngùn ngụt căm thù, đối với những người lao động, cùng là dân tộc bị áp bức thì chan chứa yêu thương và đậm đà tình quốc tế, hướng họ đi vào con đường đoàn kết đấu tranh giải phóng, chống lại những gian dối, phi nhân, bảo vệ lẽ phải... Ngòi bút của Bác chính là vũ khí tấn công trực diện vào kẻ thù ở chính quốc, thuộc địa và trở thành phương tiện độc đáo giúp Người truyền bá tư tưởng cách mạng vào quần chúng, động viên, cổ vũ họ đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc.
Với khoảng hơn 2.000 bài báo các loại, gần 300 bài thơ, gần 500 tranh truyện và ký được viết bằng nhiều thứ tiếng Việt, Anh, Pháp, Nga, Hán…không chỉ tiêu biểu cho đạo đức, tư tưởng và phong cách báo chí của người cộng sản chân chính mà còn là Người thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Tư tưởng, quan điểm đó được thể hiện sâu sắc, xuyên suốt qua những nội dung sau:
Một là, người làm báo phải có lập trường chính trị vững chắc
Trong thư gửi lớp học viết báo đầu tiên Huỳnh Thúc Kháng ở chiến khu Việt Bắc tháng 5-1949, Người chỉ rõ: “Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mục đích chung”. Tại Đại hội lần thứ II, Hội Nhà báo Việt Nam, ngày 16-4-1959, Bác Hồ dặn dò “... Tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành...) phải có lập trường chính trị vững chắc. Chính trị phải làm chủ. Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng được. Cho nên các báo chí của ta phải có đường lối chính trị đúng”. “Nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình”. Người còn nhấn mạnh: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Vì vậy, để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng “Cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa; chú trọng học tập chính trị để nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ; đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động”. Đối với Hội nhà báo, Người khẳng định: “Nói về Hội nhà báo. Đó là một tổ chức chính trị và nghiệp vụ. Nhiệm vụ của Hội là phải làm cho hội viên đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau để nâng cao trình độ chính trị và nghiệp vụ. Có như thế thì Hội nhà báo mới làm tròn nhiệm vụ của mình và những người làm báo mới phục vụ tốt nhân dân, phục vụ tốt cách mạng”.
Học tập và làm theo đạo đức và phong cách làm báo của Bác, các thế hệ nhà báo Việt Nam đều ý thức sâu sắc về nghề nghiệp của mình đối với sự nghiệp cách mạng. Họ đều hiểu rằng, làm báo là làm chính trị. Ý thức nghề nghiệp chính là ý thức về một lập trường chính trị cách mạng, là thái độ bảo vệ chế độ, bảo vệ dân tộc, bảo vệ giai cấp, kiên quyết chống lại sự phá hoại của kẻ thù.
Kỷ niệm ngày báo chí cách mạng năm nay cũng chính là thời điểm toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang ra sức đưa Nghị quyết Đại hội XI của Đảng vào cuộc sống; thực hiện Nghị quyết TW 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị. Đây là dịp mỗi nhà báo gắn việc tiếp tục đẩy học tập và làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của Bác nói chung và tư tưởng, đạo đức nghề báo nói riêng gắn với nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết Đại hội XI bằng những tác phẩm báo chí thiết thực, mang tính thời sự nóng hổi... Đặc biệt tập trung đi sâu vào những bài viết về công tác xây dựng đảng, chống quan liêu, tham nhũng, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh. Mỗi nhà báo tự vượt lên trên những tính toán vụ lợi, toàn tâm, toàn lực cho sự nghiệp cách mạng hiện nay và để báo công với Bác! 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Phần đông trong đội ngũ cán bộ, đảng viên đã thực hiện tốt nói đi đôi với làm, nêu gương trước cấp dưới, được quần chúng khen ngợi. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý vẫn bộc lộ nhiều hạn chế trong phong cách làm việc: nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, nói một đằng làm một nẻo…
Thực tế này vừa phản ánh phong cách làm việc chưa đáp ứng được yêu cầu mới, vừa phản ánh sự yếu kém về năng lực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một trong những nét nổi bật trong phong cách làm việc của Người là nói đi đôi với làm. Người là tấm gương sáng về nói đi đôi với làm cho mọi người học tập và làm theo. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá: “Mọi lời nói, việc làm của Hồ Chí Minh đều thiết thực và cụ thể. Nói là làm, thường là làm nhiều hơn nói, có khi làm mà không cần nói, tư tưởng hiện ra trong hành động”(1).
Sinh thời, Hồ Chí Minh đã phê phán một số cán bộ chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác, nhưng một việc thiết thực cũng không làm được và yêu cầu cán bộ, đảng viên nói là phải làm, “nói ít, bắt đầu bằng hành động”, “tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”(2). Muốn vậy phải luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình những lời mình đã nói, những việc mình đã làm để phát triển điều hay, sửa đổi khuyết điểm của mình, đồng thời phải hoan nghênh người khác, phê bình mình, phải chống bệnh hữu danh, vô thực, bệnh hình thức. Về phía tổ chức đảng, Người chỉ rõ: “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và những chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”(3).
Với cương vị, trọng trách của người đứng đầu Đảng và Nhà nước, phong cách làm việc nói đi đôi với làm của Hồ Chí Minh đã ảnh hưởng lớn đến việc nâng cao chất lượng lãnh đạo và uy tín của Đảng, đến mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân cũng như việc hoàn thiện nhân cách người cán bộ, đảng viên và phát huy vai trò của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể. Trong tình hình hiện nay, việc đổi mới phong cách làm việc theo tư tưởng và tấm gương về phong cách làm việc của Hồ Chí Minh nói đi đôi với làm đang là vấn đề cấp thiết.
Có thể khẳng định, những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới đất nước thời gian qua luôn gắn liền với vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên; trong đó phải nhắc tới những cố gắng của họ trong việc rèn luyện phong cách làm việc mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phần đông đội ngũ cán bộ, đảng viên đã thực hiện tốt nói đi đôi với làm, nêu gương trước cấp dưới. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý vẫn bộc lộ nhiều hạn chế trong phong cách làm việc: nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, nói một đằng làm một nẻo… Một số cán bộ, đảng viên là cấp uỷ viên, cán bộ giữ vị trí lãnh đạo, quản lý còn có những biểu hiện thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quan liêu, chuyên quyền, độc đoán, hống hách với nhân dân… Tình trạng này không những làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng mà còn làm cho kỷ cương, phép nước bị coi thường. Thực tế này vừa phản ánh phong cách làm việc chưa đáp ứng được yêu cầu mới, vừa phản ánh sự yếu kém về năng lực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Để khắc phục những hạn chế yếu kém trong phong cách làm việc, thực hiện có hiệu quả nói đi đôi với làm, góp phần xây dựng phong cách làm việc của cán bộ, đảng viên hiện nay, các cấp uỷ, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cần tiếp tục đổi mới giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về tư tưởng và phong cách làm việc của Hồ Chí Minh. Đồng thời, tự bản thân của mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, có ý thức nghiêm túc khắc phục những tác hại do phong cách làm việc gây ra, ảnh hưởng đến tổ chức, cơ quan, đơn vị cũng như đối với người khác. Trong làm việc, người cán bộ, đảng viên phải nêu gương, thể hiện rõ thái độ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp dưới, biết tự chỉ trích để tiến bộ.
-----------------------------
(1) Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh - Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, NXB Sự thật, HN, 1990, tr. 64-65.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NxbCTQG-ST, HN.2002, tập 5, tr.108.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NxbCTQG-ST, HN.2002, tập 5, tr.250. 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp với đặc điểm tâm lý, xã hội của đối tượng
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Dân ở đó sinh hoạt thế nào, ta cũng phải sinh hoạt như họ. Nếu dân dậy sớm mà mình ngủ trưa, dân đang làm việc mà mình nằm ngủ lì, thì sẽ bị dân ghét và ảnh hưởng xấu đến việc tuyên truyền. Thấy dân làm việc gì, bất kỳ to nhỏ, ta cũng ra tay làm giúp. Đó là cách gây cảm tình tốt nhất, nó sẽ giúp cho việc tuyên truyền kết quả gấp bội”(11). Theo Hồ Chí Minh, để đạt hiệu quả tuyên truyền, cán bộ tuyên truyền cần nắm vững đối tượng và phân loại đối tượng. Người chỉ rõ: “Dân chúng không nhất luận như nhau, trong dân chúng cũng có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau, có lớp tiên tiến, có lớp lừng chừng, có lớp lạc hậu”(12) và “bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng hái, hạng vừa vừa, và hạng kém. Mà trong ba hạng đó, hạng vừa vừa, hạng ở giữa, nhiều hơn hết, hạng hăng hái và hạng kém đều ít hơn”(13). Vì vậy, cán bộ tuyên truyền không thể sử dụng một nội dung, một phương pháp cho mọi đối tượng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh nói riêng là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta, là kim chỉ nam cho cán bộ làm công tác tuyên giáo các cấp. Vận dụng linh hoạt, sáng tạo phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh vào thực tiễn công tác vừa góp phần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vừa là việc làm thiết thực trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
(1) HCM toàn tập, NXBCTQG, HN, 2002, tập 5, tr.162.
(2), (4), (5), (6). Sách đã dẫn, tập 7, tr.120-121, 119, 117, 119
.(3). Bác Hồ với đồng bào các dân tộc thiểu số, NXB Thông tấn, HN, 2007, tr.97.
(7) (8) (9) (11) (12) (13) Sđd, tập 5, tr.295-298, 297, 297, 400, 296, 289.
(10) Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, NXB Văn học, HN, 1977, tr.40. 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Dân chủ, gợi mở vấn đề
Quan điểm của Hồ Chí Minh về thực hiện dân chủ trong phương pháp tuyên truyền là: “Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng... Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết”(8). Tuy nhiên, Người cũng chỉ rõ, nghe dân, học dân, trao đổi thảo luận với dân nhưng không phải nhân dân nói gì cũng nhắm mắt làm theo, mà phải: “Đem các ý kiến khác nhau để so sánh kỹ, phân tích kỹ các nội dung của các tầng lớp xã hội có cái ý kiến đó. Xem rõ cái nào đúng, cái nào sai. Chọn lấy ý kiến đúng, đưa ra cho dân chúng bàn bạc, lựa chọn lại, để nâng cao dần dần sự giác ngộ của dân chúng”(9). Tính dân chủ trong phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh được biểu hiện trong toàn bộ hoạt động tuyên truyền của Người. Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại, khi về nước (năm 1941) trực tiếp lãnh đạo công cuộc kháng chiến, kiến quốc, khi xây dựng chương trình huấn luyện: “Bác phân công mỗi người làm từng mục: tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện, đấu tranh. Khi mỗi người phác xong, tất cả họp lại thông qua đề cương, rồi mới viết. Viết xong lại họp lại, đọc chung và sửa. Cách làm việc của Bác kiên nhẫn, chu đáo”(10). Đây là cách làm việc hết sức dân chủ của Người, đó là không phân biệt cấp bậc, chức vụ cao hay thấp mà hướng vào việc sửa chữa những sai xót cá nhân.
Nghiên cứu phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh chúng ta dễ dàng nhận thấy những vấn đề mà Người khêu gợi đã tác động sâu sắc tới tất cả mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi trong xã hội. Những câu hỏi mà Người đặt ra bao giờ cũng phù hợp với sự băn khoăn, thắc mắc mà trong thực tế nhân dân đang tìm lời giải đáp và hướng dẫn nhân dân hành động theo đường lối của Đảng. 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Hình thức diễn đạt dễ hiểu, dễ thực hiện
Tính dễ hiểu theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: \"...muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của người xem...\"(4). Người cho rằng, tuyên truyền bằng ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ viết thì mỗi câu, mỗi chữ có một ý nghĩa, một mục đích. Người tuyên truyền khi nói ra, khi viết ra cốt là “để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình. Để phục vụ quần chúng”(5). Nếu cán bộ tuyên truyền khi nói, viết “người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là không viết đúng, nhằm không đúng mục đích”(6).
Theo Hồ Chí Minh, không có cách nào làm cho nhân dân hiểu nhanh nội dung tuyên truyền bằng cách so sánh giữa hình tượng này với hình tượng khác. Người căn dặn cán bộ tuyên truyền: “Đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay so sánh... Phải đem cách nhân dân so sánh, xem xét, giải quyết các vấn đề, mà hóa thành cách chỉ đạo nhân dân”(7).
Với mục đích cao nhất là diễn đạt nội dung tuyên truyền một cách thực sự dễ hiểu, dễ thực hiện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng linh hoạt, uyển chuyển, đa đạng, phong phú các hình thức tuyên truyền. Chẳng hạn, khi sử dụng phương pháp tuyên truyền bằng lời nói trực tiếp, Hồ Chí Minh đã dùng những hình thức như: lên lớp, diễn giảng, giải thích, nói chuyện, kể chuyện, hướng dẫn, mạn đàm, trao đổi, thảo luận... Khi sử dụng phương pháp tuyên truyền bằng ngôn ngữ viết, Hồ Chí Minh dùng các hình thức như: viết truyện, viết ký, viết văn chính luận, viết tiểu phẩm, viết kịch, làm thơ, viết thư khen, thư thăm hỏi và lời kêu gọi... tất cả đều mang lại hiệu quả thiết thực. 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nêu: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm”(1). Phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh là sự tổng hợp những cách thức, là khoa học và nghệ thuật mà Người đã tiếp thu, kế thừa, vận dụng một cách sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, tinh hoa văn hoá của dân tộc và nhân loại, để giải thích, chứng minh, cổ vũ, động viên mọi tầng lớp nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng vảo bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tuyên truyền giàu kinh nghiệm, Người đã vận dụng nhiều phương pháp tuyên truyền khác nhau một cách sáng tạo và hiệu quả, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp cách mạng. Có thể khái quát các phương pháp tuyên truyền Hồ Chí Minh như sau:
Nội dung ngắn gọn, sâu sắc, thiết thực, cụ thể
Theo Người, nội dung ngắn gọn có nghĩa là “Phải viết gọn gàng, rõ ràng, vắn tắt. Nhưng vắn tắt không phải là cụt đầu, cụt đuôi mà phải có đầu, có đuôi, có nội dung… Nói ít nhưng nói cho thấm thía, nói cho chắc chắn thì quần chúng thích hơn”(2). Ngắn gọn trong cách nói, cách viết theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về mặt nội dung thì phải cô đọng, hàm súc, ý nhiều lời ít, không có lời thừa, ý thừa, chữ thừa, mỗi câu, mỗi chữ có một ý nghĩa, có một mục đích, không phải rỗng tuếch. Tuy nhiên, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, không phải nhất thiết cái gì cũng ngắn mới tốt, mà mục đích của việc nói ngắn, viết ngắn là để chữa cái bệnh “nói dài, viết rỗng”, tức là tùy thuộc điều kiện hoàn cảnh, đối tượng cụ thể quy định nói, viết ngắn hay dài, nhưng phải có nội dung. Mỗi câu, mỗi chữ phải chứa một ý nghĩa, mang một nội dung nhất định, không dư thừa; nói đúng tư tưởng, phản ánh đúng nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng của quần chúng nhân dân. Trong bài nói tại hội nghị tuyên giáo miền núi, Bác đã nói: “Công tác tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực. Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách thế nào? đó là những vấn đề các chú phải tự hỏi, tự trả lời. Chứ không phải chờ trên gửi tài liệu xuống, rồi theo một, hai, ba, bốn mà làm”(3). 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 2. “Lương y phải như từ mẫu” - yếu tố cốt lõi của đạo đức ngành y.
Dân tộc ta có truyền thống tôn sư trọng đạo, rất quý trọng người thầy: Thầy giáo và thầy thuốc. Nhân dân ta đặt địa vị người thầy dạy chữ ngang hàng với cha, người thầy thuốc như mẹ, bởi nghề thầy thuốc là nghề chữa bệnh cứu người, là người mẹ thứ hai của những người bệnh. Để chǎm sóc sức khoẻ con người, cần có đội ngũ những người thầy thuốc giỏi về chuyên môn, có lương tâm nghề nghiệp. Sau ngày thành lập nước Việt nam dân chủ cộng hòa (2-9-1945), Đảng và Chính phủ đã đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ y tá, y sĩ, bác sĩ, lương y chữa bệnh bằng thuốc tây, thuốc nam, thuốc bắc và các phương tiện y học tiên tiến, có y đức và y thuật cao. Giáo sư Hồ Đắc Di, Giáo sư, bác sĩ Tôn Thất Tùng, bác sĩ Đặng Văn Ngữ, bác sĩ Vũ Đình Tụng, Giáo sư Đặng Văn Chung… là những giáo sư, bác sĩ đầu ngành của nền y học Việt Nam thời hiện đại, có công rất lớn trong sự nghiệp cách mạng nước nhà.
Hồ Chí Minh là người rất quan tâm đến vấn đề y đức, một người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là một người mẹ hiền hết lòng vì bệnh nhân. Trong thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc năm 1953, Người viết: “Cán bộ y tế (bác sĩ, y tá, những người giúp việc) cần phải: Thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt. Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân. Lương y phải kiêm từ mẫu” (Sđd, t7, tr.88). Trong Tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức là gốc rễ của con người, của tài năng. Với các thầy thuốc, Bác càng đặc biệt chú ý hơn về đạo đức. Bác dặn: \"Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. Lương y phải như từ mẫu, câu nói ấy rất đúng\" (Sđd, t7, tr.476). Điều này thể hiện tinh thần nhân văn cao cả, tấm lòng nhân hậu hết mực vì nhân dân, vì con người của Hồ Chí Minh.
Người thầy thuốc không những cứu chữa cho người bệnh về thể xác mà còn phải động viên, khích lệ và cảm thông về mặt tinh thần. Trong thư gửi Hội nghị quân y (3-1948), Người viết: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”. Thầy thuốc như mẹ hiền còn phải được thể hiện ở sự hết lòng với người bệnh, vì mục đích cứu người nên không phân biệt sang hèn, giàu nghèo, thân sơ, không được cầu lợi, kể công mà cǎn cứ vào bệnh nặng, nhẹ, nguy, lành mà sắp xếp việc cứu chữa.
Hồ Chí Minh không chỉ coi lương y phải như từ mẫu mà còn vạch rõ phương hướng đào tạo đội ngũ thầy thuốc Việt Nam thành những “lương y kiêm từ mẫu”. Đó là \"về chuyên môn: cần luôn học tập, nghiên cứu để luôn luôn tiến bộ, nhưng phải chú trọng cái gì thiết thực và thích hợp với hoàn cảnh kháng chiến của ta\". \"Về chính trị: cần trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ: yêu nước, yêu dân, yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác ...” (Sđd, t7, tr.88). Để thực hiện được những nhiệm vụ mà Đảng và Chính phủ giao phó, Bác ân cần căn dặn cán bộ ngành y tế: “Trước hết là phải thật thà đoàn kết… Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế, từ các bộ trưởng, thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh chị giúp việc. Bởi vì công việc và địa vị tuy có khác nhau, nhưng người nào cũng là một bộ phận cần thiết trong ngành y tế, trong việc phục vụ nhân dân” (Sđd, t7, tr.476).
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác y tế và sức khoẻ là kim chỉ nam giúp Đảng ta xây dựng những quan điểm cơ bản có ý nghĩa định hướng cho sự phát triển một nền y học Việt Nam hiện đại và một ngành y tế xã hội chủ nghĩa có tính ưu việt trong thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân.