0 0 0 2 2 7 4 0 0 1
Đang online:
9
Hôm nay :
159
Hôm qua :
1,722
Tuần này :
9,891
Tuần trước :
9,324
Tháng này :
30,524
Tháng trước:
36,129
19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Ngoài phương pháp “cảm hóa” đối với người bệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đặc biệt quan tâm đến vấn đề đoàn kết của các cán bộ y tế trong sự nghiệp cao cả của mình. Đó là đoàn kết giữa các bác sĩ, các nhân viên y tế để cùng chung sức, chung lòng tìm các phương pháp chữa bệnh nhanh nhất cho bệnh nhân; đoàn kết giữa cán bộ y tế với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân trong quá trình chữa bệnh và chăm sóc. Đối với Người, sự đoàn kết trong nghề y không chỉ được hiểu theo nghĩa thông thường, mà cao hơn, đó phải là “thật thà đoàn kết”; vì nghề y là nghề liên quan trực tiếp đến con người, đến sức khỏe và thể lực của con người. Tuy nhiên, trong quá trình khám, chữa bệnh, có nhiều quan điểm, phương pháp điều trị khác nhau, cách thức chăm sóc khác nhau, ...; điều này tùy thuộc vào tài năng và y đức của từng cán bộ, nhân viên y tế. Chính vì vậy, muốn xây dựng một tập thể những người làm nghề y luôn đặt mục tiêu vì sức khỏe của nhân dân lên trên hết thì phải “thật thà đoàn kết”, đoàn kết thật sự, đoàn kết hết mức. “Thật thà đoàn kết” sẽ giúp cho từng khâu trong toàn bộ hệ thống khám, chữa bệnh hoạt động có hiệu quả và đạt chất lượng tốt nhất.
Ngày nay và mãi mãi mai sau, những quan điểm về y đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn ngời sáng, vẹn nguyên giá trị nhân văn cao cả và luôn là động lực, phương hướng cho sự phát triển của nền y tế nước ta.
Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân của ngành y tế ở nước ta trong những năm gần đây đạt được nhiều thành tựu quan trọng, như Nghị quyết số 46-NQ/TW, ngày 23-5-2005, của Bộ Chính trị đã nhận định: Mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở ngày càng được củng cố và phát triển, nhiều cơ sở y tế miền núi đã được thiết lập, nhiều dịch bệnh nguy hiểm được khống chế và đẩy lùi; các dịch vụ y tế ngày một đa dạng; nhiều công nghệ mới được nghiên cứu và ứng dụng; việc cung ứng thuốc và trang thiết bị y tế đã có nhiều cố gắng hơn trước. Bảo hiểm y tế được hình thành và bước đầu phát huy tác dụng. Nhân dân ở hầu hết các vùng, miền đã được chăm sóc sức khỏe tốt hơn; phần lớn các chỉ tiêu tổng quát về sức khỏe của nước ta đều vượt các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Ngoài việc rèn luyện y đức “lương y kiêm từ mẫu”, một nội dung rèn luyện nữa đối với cán bộ y tế mà Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu là “phải có chí, chịu khó, chịu khổ, phải giàu lòng bác ái, hy sinh”. Đúng vậy, nghề y là một nghề đặc biệt, bởi thế, rèn luyện đạo đức đối với nghề y lại càng đòi hỏi rất cao, khác với những nghề khác. Hơn nữa, nghề y là nghề có thời gian đào tạo lâu dài, trong khi điều kiện đất nước đang gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu các cán bộ y tế phải chịu khó, chịu khổ, khắc phục những khó khăn, thiếu thốn để hoàn thành được nhiệm vụ cao cả mà Đảng và nhân dân giao phó.
Bên cạnh việc nêu lên các nội dung của rèn luyện đạo đức nghề y, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra phương pháp, cách thức của việc giáo dục, tu dưỡng và rèn luyện y đức cho cán bộ ngành y tế. Người nhắc nhở sinh viên Trường Quân y - những cán bộ, nhân viên y tế sau này, “phải chăm lo học hành, gắng thực hiện 5 điều: hăng hái, hy sinh, bác ái, đoàn kết, kỷ luật”(5). Hăng hái, hy sinh là hai yếu tố vô cùng cần thiết đối với cán bộ ngành y tế. Trong những hoàn cảnh cấp bách, người cán bộ y tế có khi phải hy sinh lợi ích của mình, thậm chí cả tính mạng vì người bệnh, vì sức khỏe của nhân dân. Nghề y là nghề đòi hỏi tính kỷ luật cao, bởi kỷ luật là phương pháp rèn luyện và xây dựng ý thức cho mỗi con người. Nghiêm túc, khẩn trương trong các hoạt động y tế, nhất là việc thực hiện đúng, đầy đủ, cẩn thận các bước trong quá trình khám và chữa bệnh,... là những biểu hiện cần thiết của kỷ luật nghề y. Rèn luyện bằng kỷ luật và để có tính kỷ luật là phương pháp quan trọng đối với quá trình tu dưỡng y đức của người cán bộ y tế.
Khi nhắc nhở cán bộ y tế phải có tinh thần trách nhiệm và tình cảm trong sáng, cao đẹp trong công tác chăm sóc sức khỏe cho thương, bệnh binh, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “lấy lòng nhân loại và tình thân ái mà cảm động, cảm hóa họ”(6). Ở đây, có thể hiểu cảm hóa là làm thế nào để người bệnh cùng tham gia với các nhân viên y tế trong quá trình chữa bệnh một cách thoải mái nhất, cụ thể là làm thế nào xóa đi những mặc cảm mà người bệnh đang gặp phải, làm cho những rào cản tâm lý của họ về bệnh tật biến mất để hợp tác cùng cán bộ y tế trong quá trình chăm sóc sức khỏe. Muốn vậy, cách hiệu quả nhất là người cán bộ y tế phải xuất phát từ “lòng nhân loại, tinh thần bác ái”, từ lòng thương yêu thật sự đối với người bệnh, lo lắng cho sức khỏe của người bệnh. Tinh thần nhân ái, đức hy sinh của người cán bộ y tế còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở trong “Thư gửi nam nữ học viên Trường Y tá Liên khu I”, đó là “phải giàu lòng bác ái, hy sinh”. 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Từ vai trò to lớn và ý nghĩa cao cả của những người lao động trong nghề y, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm trong việc giáo dục, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức cho họ để có thể xây dựng một nền y đức trong sáng, văn minh, tiến tới xây dựng một nền y tế hiện đại, theo kịp thế giới, góp phần quan trọng củng cố sức khỏe cho các thế hệ tương lai của đất nước.
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về y đức được nêu rõ trong “Thư gửi Hội nghị quân y” (tháng 3-1948): “Người ta có câu: “lương y kiêm từ mẫu”, nghĩa là một người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền”(4). Đến năm 1953, trong “Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc năm 1953”, Người tiếp tục dặn dò: Người cán bộ y tế phải thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt, phải tận tâm, tận lực phụng sự nhân dân, theo đúng nghĩa “lương y kiêm từ mẫu”.
Có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi từ đạo lý truyền thống “lương y kiêm từ mẫu” để khẳng định vai trò của đạo đức đối với nghề y. Theo đó, để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, cán bộ, nhân viên y tế phải thường xuyên rèn luyện đạo đức, trở thành “từ mẫu” (mẹ hiền). Nói cách khác, “từ mẫu” là đạo đức cao đẹp mà cán bộ, nhân viên y tế cần hướng tới. Có tình thương của “từ mẫu”, người thầy thuốc sẽ tránh được những thói hư, tật xấu, như cầu lợi, bất công, phân biệt đối xử giữa người giàu - kẻ nghèo; sự hách dịch, lạnh lùng, qua loa, tắc trách khi tiếp xúc với bệnh nhân; sự kèn cựa, đố kỵ với đồng nghiệp,... Chính vì vậy, “lương y kiêm từ mẫu” là cốt lõi của đạo đức y học. 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh TCCS - Quan điểm về y đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo thời gian, càng mang giá trị nhân văn cao cả. Ngày nay, việc vận dụng sáng tạo quan điểm của Người về giáo dục và rèn luyện y đức đối với người cán bộ y tế luôn luôn trở nên cấp thiết.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến con người và sức khỏe của con người. Người luôn coi sức khỏe của con người là nhân tố quan trọng, quyết định sự cường thịnh của một quốc gia, dân tộc. Theo Người, “khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, thế là sức khỏe”. Ý tưởng này của Người có nhiều điểm tương đồng với định nghĩa sức khỏe được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra năm 1978 trong “Tuyên ngôn An-ma A-ta”: “Sức khỏe là trạng thái thoải mái về tâm hồn, về thể xác, về xã hội”.
Vì luôn quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe cho con người nên Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò, nhiệm vụ của người thầy thuốc và cán bộ, nhân viên y tế đối với sự nghiệp chăm sóc sức khỏe toàn dân. Ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Người thường xuyên căn dặn, nhắc nhở cán bộ, nhân viên y tế phải có nhận thức đầy đủ về vai trò, trách nhiệm của mình: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”(1). Điều này thể hiện rõ nhiệm vụ, trách nhiệm của một người thầy thuốc: không chỉ thực hiện vai trò về chuyên môn, về y thuật, mà còn phải là người bạn tinh thần, giúp đỡ, động viên tinh thần người bệnh. Quan điểm của Người về vai trò, trách nhiệm của người thầy thuốc đã đem lại cách nhìn tổng thể về vai trò, trách nhiệm nói chung của những người lao động trong nghề y đối với bệnh nhân.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, là người chăm sóc sức khỏe của nhân dân, vai trò của ngành y tế không chỉ dừng lại ở việc mổ xẻ, chữa bệnh,… mà còn làm nhiệm vụ vệ sinh phòng bệnh, không để xảy ra các dịch bệnh. Tháng 2-1949, trong “Thư gửi nam nữ học viên Trường Y tá Liên khu I”, Người viết: “Người y tá chẳng những giúp chữa bệnh mà còn phải phổ biến vệ sinh”(2). Theo đó, xây dựng môi trường sống trong sạch, không có dịch bệnh cũng là một nhiệm vụ của ngành y tế. Đến năm 1953, vai trò, nhiệm vụ của người cán bộ y tế lại được Người nêu rõ hơn trong “Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc năm 1953”: “Sức khỏe của cán bộ và nhân dân được bảo đảm thì tinh thần càng hăng hái. Tinh thần và sức khỏe đầy đủ thì kháng chiến càng nhiều thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công. Nhiệm vụ ấy có hai phần: Phòng bệnh cũng cần thiết như trị bệnh…”(3).
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, con người sẽ thực sự hạnh phúc khi sống không có bệnh tật - “nhân sinh vô bệnh thị chân tiên” (nghĩa là, sống không có bệnh tật thì sướng như tiên vậy), và đó cũng là điều Người luôn luôn mong muốn cho sức khỏe của nhân dân. 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 3 - Nâng cao “tính Đảng” là xuất phát từ yêu cầu giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng và những nhiệm vụ mà Đảng phải thực thi trong điều kiện mới. Yêu cầu tự trưởng thành chính là luôn giữ vững bản chất, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng luôn xứng đáng là đội tiên phong và đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. “Tính Đảng” cần được nhận thức không chỉ là giá trị của mỗi đảng viên cộng sản trong quá trình phấn đấu và trưởng thành mà còn là giá trị chung của Đảng trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
Trong giai đoạn hiện nay, khi bối cảnh tình hình chính trị thế giới có sự thay đổi, chứa đựng sự phức tạp chưa thể lường hết được, nhiệm vụ phát triển kinh tế của đất nước ta trước mắt đứng trước những thuận lợi, thời cơ, khó khăn và thử thách mới, đòi hỏi sự đoàn kết thống nhất cao trong toàn Đảng và toàn dân tộc, hơn bao giờ hết “tính Đảng” của người đảng viên cộng sản càng phải được đề cao hơn. Để xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, phấn đấu: “Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì nhân dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc”(1). Củng cố và nâng cao hơn nữa “tính Đảng” sẽ nhân thêm sức mạnh nội lực của Đảng, đồng thời tạo ra thế và lực mới trong lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế và xã hội, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta tiếp tục giành thêm những thắng lợi mới./.
-------------------------------------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t. 9, tr. 285 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 2 - Các yếu tố cấu thành nên nội dung của “tính Đảng” bao gồm các mặt tư tưởng, tổ chức và hoạt động xã hội. Đây là ba mặt không thể tách rời, có quan hệ khăng khít với nhau khi xem xét đến “tính Đảng” của người đảng viên cộng sản.
Về mặt tư tưởng. Tính đảng trong tư tưởng là trung thành với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, còn trong chính trị thì phải kiên quyết phấn đấu cho đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống. Mọi đảng viên đều phải thừa nhận và xem đây là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Phần đông cán bộ đảng viên của chúng ta đều thể hiện sự trung thành tuyệt đối vớinền tảng tư tưởng mà Đảng đã lựa chọn.
Tuy nhiên, cũng có không ít cán bộ, đảng viên do không vững trọn niềm tin nên đã dao động, không thể hiện sự trung thành tuyệt đối với nền tảng tư tưởng với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, khi đất nước đã trong hòa bình, kinh tế đất nước có sự chuyển biến tích cực nhưng không phải không có những “phần tử” cơ hội chạy theo danh lợi mà đứng vào hàng ngũ của Đảng nhưng thực tế thì mặt tư tưởng của “tính Đảng” của người đảng viên cộng sản bị phai mờ hoặc cắt xén. Những phần tử này đã và đang làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đảng.
Công cuộc đổi mới thời gian qua cho thấy, từ sự kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng; từ sự đồng thuận trong đông đảo đội ngũ cán bộ, đảng viên đã “sáng tạo” ra đường lối đổi mới (dựa trên nền tảng tư tưởng và thực tiễn sinh động) đã góp phần vào việc giữ vững cũng như nâng cao “tính Đảng” trong mỗi cán bộ, đảng viên, nó là nhân tố quyết định tạo nên thắng lợi của công cuộc đổi mới. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII trước đây, cũng như Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã và đang giúp cho cán bộ đảng viên có dịp nhìn nhận lại “tính Đảng” trong bản thân mình. Và sự đẩy mạnh thực hiện một cách đồng bộ các giải pháp về xây dựng Đảng trong thời điểm hiện nay của Đảng ta theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI không nhằm ngoài mục đích là nâng cao nền tảng tư tưởng chính trị cho Đảng. Đây là một trong nhiều lý do mà Đảng quyết tâm thực hiện nhằm tạo ra những chuyển biến toàn diện, mạnh mẽ và sâu sắc về nhận thức, tư tưởng của mỗi cán bộ, đảng viên.
Về mặt tổ chức và kỷ luật Đảng. Đối với người đảng viên cộng sản khi tự nguyện gia nhập hàng ngũ của Đảng đồng nghĩa với việc tuân thủ nghiêm ngặt tính tổ chức và tính kỷ luật của Đảng. Đây được xem là “hành lang pháp lý” của Đảng để người đảng viên rèn luyện và phấn đấu không ngừng. Trước hết, đó là sự không ngừng góp phần giữ vững và phát huy nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng, trong đó người đảng viên cộng sản luôn tôn trọng và tuân thủ ý kiến tập thể, chấp hành nghiêm túc các nghị quyết của tổ chức đảng; luôn luôn tự giác trong tự phê bình và phê bình, để tránh sự vấp ngã dẫn đến phải chịu các hình thức kỷ luật của Đảng và hậu quả xử lý theo pháp luật... Chính điều này giúp cho Đảng ta không ngừng lớn mạnh về mặt tổ chức và giữ nghiêm được tính kỷ luật.
Xem xét về mặt này của “tính Đảng” trong cán bộ, đảng viên hiện nay, có một số chiều hướng rất cần được chấn chỉnh. Bên cạnh những hành vi mất dân chủ, chuyên quyền, độc đoán của một số cán bộ có chức, có quyền, cũng có không ít đảng viên đã lợi dụng nguyên tắc dân chủ trong sinh hoạt đảng để đả kích lẫn nhau, gây ra mất đoàn kết nội bộ. Một số đảng viên nhận thức yếu kém về vấn đề dân chủ nên vô tình đấu tranh nhưng sai sự thật, gây mất ổn định tình hình ở cơ quan, đơn vị.
Về mặt hoạt động xã hội. Phần đông cán bộ, đảng viên của chúng ta hiện nay ngoài việc gắn chặt hoạt động của bản thân mình với tổ chức đảng để rèn luyện, tu dưỡng và phấn đấu, còn lấy môi trường hoạt động xã hội làm thước đo đánh giá năng lực hoạt động thực tiễn chính trị - xã hội của mình. Thông thường chuẩn giá trị của người cán bộ, đảng viên được thể hiện không chỉ trong hoạt động của tổ chức mà còn thể hiện trong sức thu hút, tập hợp quần chúng nhân dân lao động, đó là sự tuân thủ các nguyên tắc của Đảng trong từng cử chỉ, lời nói và hành vi thể hiện tính đúng đắn và chuẩn mực trước nhân dân. Trên góc độ này, số đông cán bộ đảng viên của chúng ta luôn giữ vững tính đại diện tiên phong lãnh đạo.
Tuy nhiên, nếu xét trong tổng thể gắn với các mặt tư tưởng, mặt tổ chức thì có một bộ phận cán bộ đảng viên có biểu hiện lời nói không đi đôi với việc làm; không gương mẫu; phát ngôn và hành động ở ngoài xã hội không tuân thủ các nguyên tắc tổ chức đảng, đôi khi là nói trái đường lối, quan điểm của Đảng, xem thường ý kiến chỉ đạo của tổ chức... Điều này đặc biệt nguy hiểm khi nó được phát ra từ một số ít đối tượng có địa vị xã hội, nên đã gây bất bình và tạo ra suy nghĩ trái chiều trong nhân dân. Nếu không có sự chấn chỉnh kịp thời sẽ gây ra những tác hại xấu cho cả trong tổ chức đảng và ngoài xã hội. 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh TCCS - “Tính Đảng” của đảng viên được hiểu là sự thừa nhận một cách tự nguyện và tuyệt đối trung thành với nền tảng tư tưởng, lý tưởng cách mạng mà Đảng lựa chọn: đó là sự tuân thủ tính tổ chức và tính kỷ luật; là những chuẩn mực trong mọi hành vi, lời nói trong các hoạt động xã hội. Việc nâng cao “tính Đảng” của người đảng viên có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, tạo ra sự đồng thuận về mục tiêu, lý tưởng cách mạng; sự thống nhất, đoàn kết trong hành động; sự tiên phong và là tấm gương sáng có sức thu hút dẫn dắt quần chúng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng...
1 - Thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa chứng minh “tính Đảng” là “thuộc tính căn bản, cốt lõi và bản chất” của Đảng Cộng sản. Đảng ta ngay từ khi thành lập đã mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, và cơ sở chính trị - xã hội là giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức tiến bộ mà Đảng là người đại diện lãnh đạo; chiến đấu cho lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Với việc tự nguyện thừa nhận nền tảng tư tưởng, thừa nhận tính tổ chức và tính kỷ luật của Điều lệ Đảng, và khi trở thành đảng viên mang tính “đại diện” tiên phong đó, thì người đảng viên không ngừng gìn giữ và phát huy thông qua các hoạt động cụ thể từ lời nói, hành vi trong hoạt động xã hội cũng như thông qua hoạt động của tổ chức (tuân thủ tính tổ chức và tính kỷ luật nghiêm) nơi cá nhân đảng viên đó sinh hoạt chính trị.
Như vậy, rõ ràng “tính Đảng” của Đảng Cộng sản được thể hiện thông qua tính đại diện của đảng viên cộng sản khi tham gia tổ chức chính trị và trong hoạt động xã hội. Đảng Cộng sản chỉ vững mạnh khi mọi đảng viên chấp hành nghiêm các yếu tố cấu thành nên “tính Đảng” - đó phải là sự chấp hành mang tính nội dung, chứ không phải là sự thừa nhận một cách hình thức 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Thứ tư, kiên quyết xử lý nghiêm minh các trường hợp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Một trong những vấn đề “trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách” hiện nay đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là phải tập trung giải quyết dứt điểm, nghiêm túc những vụ việc tiêu cực, tham nhũng nổi cộm; kiên quyết đấu tranh, xử lý các tổ chức đảng vi phạm kỷ luật, những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, không để “con sâu làm rầu nồi canh”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI chỉ rõ: “Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng”(9). Đó là thể hiện bản lĩnh chính trị của một Đảng cách mạng chân chính, có tinh thần trách nhiệm cao trước nhân dân và dân tộc.
Việc kiên quyết xử lý dứt điểm, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật theo Điều lệ Đảng và kiến nghị chính quyền xử lý nghiêm theo những quy định của pháp luật, cho dù họ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý ở cấp nào, chẳng những làm trong sạch đội ngũ của Đảng mà còn tạo hiệu ứng tích cực đến đời sống chính trị, tinh thần trong toàn xã hội; đồng thời bảo vệ Đảng trước sự tấn công phá hoại của các thế lực thù địch. Vì vậy, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng khi phát hiện có dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống phải khẩn trương kết luận rõ ràng, kiên quyết xử lý nghiêm minh, triệt để các trường hợp sai phạm tùy theo mức độ; khắc phục tình trạng bao che khuyết điểm, nể nang, né tránh, cục bộ, phe nhóm, đùn đẩy trách nhiệm, xử lý “nội bộ”... Đặc biệt, các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước cần nhanh chóng đưa những vụ việc tiêu cực, thất thoát, tham nhũng lớn ra xét xử công khai, dứt điểm, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, lấy lại lòng tin của quần chúng nhân dân, trả lại sự trong sạch của các tổ chức đảng, chính quyền và của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ và vận hội mới, thì đất nước chúng ta cũng đang phải đứng trước những nguy cơ và thách thức mới. Để tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, trước hết toàn Đảng ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh học tập và thực hiện đầy đủ những lời căn dặn đầy tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu trong bản Di chúc: “Trước hết nói về Đảng”; và biểu hiện “Trước hết” đó phải bằng nhận thức, bằng hành động cách mạng cụ thể của mỗi tổ chức đảng, mỗi đảng viên trong nỗ lực xây dựng và chỉnh đốn Đảng./.
----------------------------
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 2, tr. 189
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 7, tr. 207
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 5, tr. 551-552
4. Di cảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 10-5-1969, Lưu trữ tại Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 173-175
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2012, tr. 22
7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 4, tr. 56-57
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t. 3, tr. 217
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, sđd, tr. 26
(*) Các đoạn trích dẫn trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công bố ngày 10-5-1969 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, luật pháp nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Hệ thống cơ chế, chính sách của Đảng và luật pháp của Nhà nước là hành lang pháp lý để mỗi cấp ủy, chính quyền, mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm chỉnh chấp hành. Những hạn chế, bất cập trong cơ chế, chính sách, luật pháp hiện thời sẽ tạo ra các kẽ hở, “khoảng trống pháp lý”, dễ bị một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất lợi dụng để trục lợi cá nhân, tạo “lợi ích nhóm”…
Hiện nay, hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước và của các bộ, ngành, địa phương có nhiều nội dung không còn phù hợp, trong khi tình hình thực tiễn đã có nhiều thay đổi so với trước, đã đặt ra không ít vấn đề mới phải giải quyết. Việc chậm đổi mới, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, luật pháp là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực, tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, để ngăn chặn hữu hiệu những căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc rà soát, nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, luật pháp, tạo cơ sở pháp lý cho cấp ủy, chính quyền các cấp lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành các cơ quan, đơn vị mình chấp hành nghiêm đường lối, cương lĩnh, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; tạo ra môi trường lành mạnh để mỗi cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu và trưởng thành; xây dựng Đảng ta, Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh. 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Thứ hai, tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Trong hoạt động lãnh đạo và công tác xây dựng Đảng, một trong những nguyên lý quan trọng là Đảng phải thường xuyên củng cố, tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân. Đảng phải luôn dựa vào nhân dân, bởi vì sức mạnh của Đảng nằm trong mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Cho nên, việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên nếu không dựa chắc vào nhân dân, không được nhân dân đồng tình, ủng hộ sẽ không đem lại kết quả như mong muốn.
Thực tiễn cho thấy, cộng đồng dân cư hiểu khá rõ về đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp và gia đình họ sinh sống ở địa phương. Vì vậy, cấp ủy, tổ chức đảng ở mỗi cấp phải thường xuyên giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân địa phương nơi có cán bộ, đảng viên của cơ quan, đơn vị mình cư trú; đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền, định hướng cho nhân dân hiểu rõ những quan điểm, chủ trương, phương châm, nguyên tắc của Đảng trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; qua đó tạo sự thống nhất, đồng thuận, phát huy sức mạnh nhân dân vào thực hiện quyết tâm chính trị của Đảng trong thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI. 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Đọc lại bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấm nhuần sâu sắc tư tưởng và lời chỉ huấn quý báu của Người: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”(8). Cho nên, mỗi đảng viên, cán bộ phải luôn luôn suy ngẫm và nỗ lực hành động để góp phần “giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(*). Phải thực hiện tốt những lời căn dặn và có thể coi là những biện pháp lớn để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh mà Người đã nêu trong Di chúc: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”(*). Đọc lại bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau bốn mươi bốn năm, chúng ta càng hiểu rõ hơn ý nghĩa sâu sắc và tầm vóc lớn lao của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đồng thời, càng bồi đắp thêm nghị lực và quyết tâm để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng Đảng.
Suy ngẫm về những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi tổ chức đảng và từng đảng viên cần ra sức hành động để góp phần xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch vững mạnh; trước hết cần nỗ lực thực hiện tốt các giải pháp cơ bản, đồng bộ như Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã xác định, trong đó tập trung vào một số nội dung sau:
Thứ nhất, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, quán triệt sâu sắc đến mọi cán bộ, đảng viên về ý nghĩa, tầm chiến lược của Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.
Hơn một năm qua, trong toàn Đảng ta đã tổ chức quán triệt, học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một cách kịp thời, nghiêm túc từ Trung ương đến cơ sở. Đây không chỉ là một đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn của Đảng mà còn có ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt như một đợt “chỉnh huấn”, “chỉnh Đảng” mà Đảng ta đã tiến hành vào các năm 1952, 1961 và 1965. Sau mỗi lần “chỉnh huấn”, “chỉnh Đảng” như vậy, Đảng ta đã khắc phục được những yếu kém, khuyết điểm nổi cộm, uy tín và vị thế của Đảng được nâng cao, đủ sức lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giành được thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Tuy nhiên, đến nay vẫn còn có những cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao chưa nhận thức được đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI. Việc tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình có những tổ chức đảng còn xuê xoa, nể nang, không vạch rõ những dấu hiệu của sự suy thoái... Vì vậy, để Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống như mong muốn của toàn Đảng, toàn dân, chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, quán triệt cho cán bộ, đảng viên về ý nghĩa, tầm chiến lược của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI; nêu rõ những thuận lợi, khó khăn, tính chất gay go, quyết liệt, phức tạp trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao, để mọi người, mọi tổ chức cùng đồng thuận, đồng tâm kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi những mối hiểm họa cho Đảng, cho đất nước, cho chế độ xã hội chủ nghĩa. 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Thực hiện di huấn của Người trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Nhìn lại hơn bốn mươi năm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước vượt qua những chặng đường đầy sóng gió; phải đương đầu với sự đan xen khốc liệt giữa vận hội và thách thức, giữa thời cơ và nguy cơ để lập nên nhiều kỳ tích trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, quốc phòng, an ninh,... được nhân dân trong và ngoài nước, cùng đông đảo bạn bè trên khắp thế giới yêu mến, tin cậy, cảm phục.
Tuy nhiên, trong những năm qua, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, còn có những lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn trong bản Di chúc về vấn đề xây dựng Đảng, đến nay chưa được thực hiện thường xuyên và trọn vẹn, thậm chí còn gây bức xúc trong dư luận xã hội. Nổi lên đó là “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp,...”; việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chưa thực sự đi vào chiều sâu, ở một số nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, làm theo chưa đạt yêu cầu”; “Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương chưa được khắc phục”; “Tình trạng thiếu trách nhiệm, cơ hội, suy thoái đạo đức, lối sống vẫn diễn ra khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Kỷ luật, kỷ cương ở nhiều tổ chức đảng không nghiêm. Sự đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp ủy chưa tốt”(5). Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…”(6). Những hiện tượng đó nếu không được ngăn chặn, đẩy lùi sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, gây tổn hại nghiêm trọng đến công tác xây dựng Đảng, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước.
Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là có một số tổ chức cơ sở đảng vẫn xảy ra vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, buông lỏng kỷ luật vì những động cơ cá nhân, thực hiện tự phê bình và phê bình một cách hình thức, đại khái, “dĩ hòa vi quý”; chưa chú trọng chăm lo đầy đủ việc giáo dục, rèn luyện, kiểm tra và xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với những đảng viên, cán bộ có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, như tham nhũng, hối lộ, quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, xa rời quần chúng, sách nhiễu nhân dân, cục bộ địa phương, cơ hội, gây bè, kéo cánh, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng, né tránh, bằng mặt không bằng lòng, phát ngôn tùy tiện, nói không đi đôi với làm, tranh công đổ lỗi...; một bộ phận đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, làm tổn hại đến thanh danh và uy tín của Đảng, của dân tộc.
Những tình trạng trên đã gây nên bức xúc trong dư luận xã hội, trước hết làm xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Hệ lụy dẫn đến là vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng bị giảm sút; các nghị quyết, quyết định của cấp ủy đưa ra thường không được thực hiện nghiêm túc và triệt để; không phát huy được sức mạnh của quần chúng nhân dân cả về vật chất, tinh thần và trí tuệ để phục vụ cho nhiệm vụ chung của tập thể, của đất nước. Những biểu hiện tiêu cực đó tạo ra kẽ hở cho các phần tử cơ hội, cho các thế lực thù địch lợi dụng để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta, hòng thực hiện âm mưu chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ chống phá cách mạng nước ta.
Vì vậy, mỗi dịp đọc lại bản Di chúc bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từng đảng viên, cán bộ hơn lúc nào hết cần phải ra sức học tập, suy ngẫm và hành động theo những lời căn dặn của Người: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(7). Phải tập trung xây dựng Đảng nhằm làm cho Đảng thật trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, thống nhất, có đạo đức, có trí tuệ, có năng lực. Có thể xem đó là những mục tiêu trực tiếp và trước hết của công tác xây dựng Đảng ở thời kỳ mới. Nhưng xây dựng Đảng còn nhằm mục tiêu xa hơn, có tính chất quyết định hơn, tức là làm cho Đảng “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(*), một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong Di chúc. 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh TCCS - Bốn mươi bốn năm trước đây, trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta một bản Di chúc lịch sử. Đó là những lời căn dặn cuối cùng và cũng là tình cảm thiêng liêng, niềm tin vô bờ bến của Người đối với tiền đồ và tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, Người đã để lại những lời di huấn quý báu đối với Đảng ta, mong muốn Đảng luôn được củng cố, ngày càng trưởng thành, trong sạch vững mạnh, xứng đáng là một Đảng vừa đạo đức, vừa văn minh.
Xây dựng Đảng luôn phải là công tác “trước hết”, hàng đầu
Trong phần mở đầu bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trước hết nói về Đảng, nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”(*). Thực tiễn suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi và phong phú của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho Đảng và chăm lo hoàn thiện các công việc lãnh đạo của Đảng ta đối với xã hội trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào.
Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Người đã đặt ra câu hỏi: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?”, và Người đưa ra lời giải đáp đó là: “Trước hết phải có đảng cách mệnh... Đảng có vững cách mệnh mới thành công cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(1). Người khẳng định: Đảng phải lấy chủ nghĩa Lê-nin làm cốt, bởi vì đó là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”. Được chủ nghĩa Mác - Lê-nin soi sáng, Người đã dày công xây dựng, giáo dục, rèn luyện Đảng ta với tâm nguyện cao cả là Đảng phải “trở thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc”(2). Tại Hội nghị cán bộ của Đảng ta ngày 18-1-1949, sau khi nêu lên một số vấn đề cần làm ngay trên các lĩnh vực quân sự, kinh tế, chấn chỉnh bộ máy chính quyền các cấp và chỉnh đốn các đoàn thể quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập một vấn đề có tính quyết định của công tác xây dựng Đảng: “Muốn làm được những việc trên, trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng. Phải nêu ra những việc chính, nắm lấy nó mà làm. Đảng ví như cái máy phát điện, các công việc trên ví như những ngọn đèn, máy mạnh thì đèn sáng”(3).
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là một nhiệm vụ hết sức cần kíp, là vấn đề “trước hết” đối với việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Theo tư tưởng của Người, phải coi trọng trước hết đến công tác xây dựng Đảng, bởi đó là công tác tạo ra “máy phát điện” trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng ta. Vì vậy, vào thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bản Di chúc, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam đang ở trong giai đoạn rất gay go, quyết liệt; song Người vẫn luôn giữ vững niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Trong Di chúc, Người căn dặn toàn Đảng ta những công việc phải làm khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giành được thắng lợi hoàn toàn, giang sơn thu về một mối, Tổ quốc thống nhất, thì một trong những nhiệm vụ trọng yếu của Đảng phải tiến hành là đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt hơn”. Người còn nhấn mạnh: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được việc như vậy, thì dù công việc lớn mấy, khó khăn đến mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”(4).
Trong bản Di chúc, Người đề cập vấn đề “Trước hết nói về Đảng” để nói đến vấn đề tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng ta. Người căn dặn: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(*). Người nêu tới bốn lần cụm từ “Đoàn kết”. Trước khi viết đoạn kết bản Di chúc bất hủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã di huấn: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(*).
Như vậy, ở đâu và trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn trăn trở, quan tâm đến nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam là Đảng Cộng sản Việt Nam. Người nêu vấn đề “Trước hết nói về Đảng” và đặt lên hàng đầu cho nhiệm vụ “chỉnh đốn lại Đảng”; điều đó không có nghĩa là Đảng ta đã phạm phải những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng nào, mà ở chỗ tình hình mới, điều kiện mới của cách mạng đòi hỏi Đảng phải không ngừng nâng cao chất lượng, năng lực lãnh đạo, trình độ trí tuệ của Đảng lên tầm cao mới, để Đảng đủ sức đảm đương vai trò lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn mới. 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Năm là, thường xuyên chỉnh đốn và đổi mới Đảng
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng, bởi lẽ, bên cạnh số đông đảng viên ưu tú, thì vẫn còn không ít đảng viên chưa thật sự trong sạch, vững mạnh. Chỉnh đốn để gột rửa tất cả những lỗi lầm, sai trái. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người căn dặn: “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân” (30). Người cũng từng nhấn mạnh: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” (31).
Người chỉ rõ: “Muốn hoàn thành tốt mọi việc, thì toàn thể đảng viên và cán bộ phải chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và chính sách của Đảng. Và muốn như vậy, thì các cấp uỷ đảng phải tăng cường công tác kiểm tra. Vì kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân. Do đó mà góp phần vào việc củng cố đảng về tư tưởng, về tổ chức”(32).
Trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay, bên cạnh những thời cơ mới, vận hội mới, dân tộc ta cũng đứng trước không ít những khó khăn, thách thức. Vai trò lãnh đạo của Đảng càng phải được khẳng định, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng cần được nâng cao hơn bao giờ hết để xứng tầm với các yêu cầu, nhiệm vụ mà lịch sử dân tộc giao phó. Đảng cần xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, trong đó, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ góp phần làm cho Đảng ta trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”, vững vàng trước mọi thử thách của lịch sử./.
----------------------------------------------
Chú thích:
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2002, t. 6, tr. 479;
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 510;
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2012, tr. 21;
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2012, tr. 22;
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 02, tr. 259;
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 05, tr. 233 - 234;
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 02, tr. 267;
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 08, tr. 231;
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 02, tr. 268;
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 02, tr. 268;
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 07, tr. 517;
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 08, tr. 496;
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 07, tr. 231;
(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 08, tr. 498;
(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 07, tr. 229;
(16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 08, tr.216;
(17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 05, tr.504;
(18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 05, tr. 505;
(19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 05, tr. 261;
(20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 497 - 498;
(21) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 05, tr. 258;
(22) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 311;
(23) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 06, tr. 175;
(24) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 510;
(25) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 05, tr. 698;
(26) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 05, tr. 269;
(27) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 05, tr. 273;
(28) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 05, tr. 274;
(29) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 05, tr. 252 - 253;
(30) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 503;
(31) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 557 - 558;
(32) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 300. 18/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Bốn là, quan tâm xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ vị trí, vai trò của người cán bộ trong sự nghiệp cách mạng. Theo Người, “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt ra chính sách đúng. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” (26).
Do đó, theo Người, Đảng ta cần quan tâm tới việc xây dựng, phát hiện và sử dụng cán bộ: “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Vì vậy, Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta” (27). Tuy nhiên, Người cũng yêu cầu, “Khi cất nhắc một cán bộ, cần phải xét rõ người đó có gần gụi quần chúng, có được quần chúng tin cậy và mến phục không. Lại phải xem người ấy xứng với công việc gì. Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc. Nếu cất nhắc không cẩn thận, không khỏi đem người bô bô la la, chỉ nói mà không biết làm, vào những địa vị lãnh đạo. Như thế rất có hại” (28).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra tiêu chí của một người cán bộ tốt, đó là người cán bộ đó phải vừa có đức, vừa có tài. Trong đó, đạo đức là gốc, Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” (29).