0 0 0 2 2 7 3 9 1 2
Đang online:
12
Hôm nay :
70
Hôm qua :
1,722
Tuần này :
9,802
Tuần trước :
9,324
Tháng này :
30,435
Tháng trước:
36,129
19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Tháng 1/1954, Bác đã căn dặn thêm Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước ngày đồng chí ra mặt trận: “Cần nắm chắc nghị quyết của Trung ương và chủ trương của Bộ Chính trị là: “Đánh chắc thắng.”
Bác đã tặng cờ “Quyết chiến Quyết thắng” làm giải thưởng luân lưu để khích lệ mọi người, lập công trong chiến dịch. Tết đến, Bác đã gửi tặng mỗi cán bộ, chiến sỹ ở mặt trận một chiếc ca rất đẹp có in đậm hai hàng chữ đỏ tươi: “Kiên quyết làm tròn nhiệm vụ.”
Chiến dịch Điện Biên Phủ là một trận quyết chiến chiến lược, một cuộc đọ sức toàn diện nhất, quyết liệt nhất giữa ta và địch. Thắng, bại của quân dân ta trong chiến dịch này sẽ có ảnh hưởng lớn đối với dân tộc ta và nhân dân thế giới đang chiến đấu vì độc lập, tự do. Vì vậy, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải có quyết tâm và nỗ lực rất cao.
Trong thư gửi đồng chí Võ Nguyên Giáp tháng 12/1953, Bác Hồ viết: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà cả đối với quốc tế. Vì vậy toàn dân, toàn quân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được.”
Đầu tháng 1/1954, trước khi lên đường ra mặt trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến Khuổi Tát chào Bác. Bác hỏi: “Chú ra mặt trận lần này có khó khăn gì không?” Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời: “Chỉ khó khăn là xa hậu phương nên khi có vấn đề quan trọng và cấp thiết thì khó xin ý kiến của Bác và Bộ Chính trị.”
Bác nói: “Tổng tư lệnh ra mặt trận, tướng quân tại ngoại, trao cho chú toàn quyền.” Khi chia tay, Bác nhắc: “Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng; chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh.”
Những lời dặn dò của Bác là tư tưởng chỉ đạo giúp Đại tướng Võ Nguyên Giáp có căn cứ để xử trí trong quá trình chỉ huy trận đánh. 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của cả dân tộc; trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, Người cũng là vị chỉ huy tối cao. Trong suốt thời gian chỉ huy chiến dịch, Bác Hồ đã tham dự và chủ tọa nhiều cuộc họp của Bộ Chính trị để nhận định, đánh giá tình hình diễn ra trên mặt trận, chỉ đạo sát sao không chỉ trên chiến trường Điện Biên Phủ mà trên cả các chiến trường phối hợp trong cả nước nhằm phục vụ cho việc giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trước hết là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn và sáng tạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là linh hồn của Đảng ta trong việc vạch ra đường lối, chủ trương kháng chiến đúng đắn, sáng tạo và là người chỉ đạo sát sao, giáo dục động viên, cổ vũ kịp thời quân dân ta trong suốt cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 và trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trước hết là thắng lợi của đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn và sáng tạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tháng 10/1953, trong buổi họp của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở Tỉn Keo, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên bàn về kế hoạch chiến lược Đông Xuân 1953-1954, do Bác Hồ chủ trì, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày về ý đồ táo tợn của tướng Pháp H.Nava là tập trung một lực lượng cơ động rất lớn ở đồng bằng Bắc Bộ để khiêu chiến, làm tiêu hao chủ lực của ta, tạo điều kiện để giành quyền chủ động và tiến tới giành một thắng lợi quyết định trong vòng 18 tháng.
Bác nghe chăm chú rồi nói: “Địch tập trung quân cơ động để tạo sức mạnh. Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn.” Bàn tay Bác mở ra, mỗi ngón trỏ về một hướng. Theo tư tưởng chỉ đạo ấy, ta đã nghiên cứu kế hoạch Đông Xuân, cho những bộ phận chủ lực của ta tiến về 5 hướng chiến lược nhằm những nơi hiểm yếu và tương đối yếu của địch, chọn hướng chính là Lai Châu ở Tây Bắc. 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Năm là, có tinh thần thân ái, hợp tác với đồng nghiệp trong thực hiện công việc.
Mọi người cần đoàn kết thân mật, hợp tác chặt chẽ như tay với chân thì công việc mới hoàn thành được. Bác chỉ rõ: “Đối với đồng chí mình phải thế nào? Thân ái với nhau, nhưng không che đậy những điều dở. Học cái hay sửa chữa cái dở. Không nên tranh giành ảnh hưởng của nhau. Không nên ghen ghét đố kỵ và khinh kẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị”[10]. Nếu trong một tập thể mà các thành viên có thành kiến với nhau, dè dặt, đối phó với nhau, kèn cựa lẫn nhau thì “nó làm cho trống đánh xuôi kèn thổi ngược, nó làm cho công tác bị tê liệt, hư hỏng”[11]. Tuy nhiên, thân ái, hợp tác ở đây không phải là bao che khuyết điểm cho đồng nghiệp mà để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ và kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm kỷ luật trong thi hành công vụ và trong cuộc sống.
Người căn dặn chúng ta: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời”. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên phải “Trung với nước, hiếu với dân” “luôn yêu thương con người”. Đó chính là phẩm chất đạo đức cộng sản của người cán bộ chân chính.
Những chuẩn mực đạo đức công vụ này có sự quan hệ, tác động lẫn nhau trong một hệ thống chuẩn mực thống nhất. Có lòng trung với nước hiếu với dân, có lòng yêu thương con người thì mới hết lòng, hết sức đem tài đức của mình phục vụ nhân dân. Có như vậy mới thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, tận tụy vì công việc chung. Nhờ vậy mới giữ được kỷ luật của cơ quan, tổ chức, mới rèn được tinh thần trách nhiệm cao với công việc và ý chí phấn đấu vươn lên không ngừng. Khi giữ được phẩm chất trong sạch, không tham địa vị, danh vọng, tiền tài, có lòng chính trực thì chắc chắn sẽ có tình thân ái, hợp tác với đồng nghiệp trong công việc.
Đạo đức công vụ không phải tự thân nó có. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải tích cực tu dưỡng, rèn luyện theo các chuẩn mực đạo đức công vụ, chắc chắn chúng ta sẽ có một đội ngũ cán bộ “vừa hồng vừa chuyên” theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 4, tr 158-159. [2] Hồ Chí Minh: Sđd, tập 5, tr 104. [3] Hồ Chí Minh: Sđd, tập 7, tr 392. [4] Hồ Chí Minh: Sđd, t.6, tr.490. [5] Hồ Chí Minh: Sđd , tập 6, tr 346. [6] Hồ Chí Minh: Sđd, tập 6, tr 345.[7] Hồ Chí Minh: Sđd, tập 5, tr 644. [8] Hồ Chí Minh:Sđd, tập 7, tr 259. [9] Hồ Chí Minh: Sđd, tập 5, tr 73-74. [10] Hồ Chí Minh: Sđd, tập 5, tr 54-55. [11] Hồ Chí Minh: Sđd, tập 11, tr 155. 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Bốn là, có ý chí cầu tiến bộ, luôn luôn phấn đấu trong công việc.
Người cán bộ phải luôn có chí tiến thủ, tinh thần cầu tiến bộ. “Xã hội ngày càng tiến, công tác của ta cũng ngày càng tiến... Vì vậy, năng lực của ta, sáng kiến của ta, tiến bộ của ta cũng phải luôn phát triển, tiến lên không ngừng. Không tiến, tức là thoái”[8]. Tinh thần cầu tiến bộ, học tập không ngừng là một yêu cầu cao đối với mỗi cán bộ, công chức “Mỗi một đồng chí ta phải có thái độ khiêm tốn, càng cựu, càng giỏi, càng phải khiêm tốn, phải có lòng cầu tiến bộ, phải nhớ lấy câu nói của ông thầy chúng ta. Tự mãn, tự túc là co mình lại, không cho mình tiến bộ thêm”[9]. 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Ba là, chấp hành nghiêm kỷ luật và có tinh thần sáng tạo trong thi hành công vụ.
Mỗi người phải chấp hành nghiêm những quy định của cơ quan, của tổ chức. Theo Hồ Chí Minh, trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” là ta được họ yêu mến. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức khi thi hành công vụ cần phải gương mẫu về đạo đức, tự giác tuân thủ kỷ luật của cơ quan, giữ vững nền nếp công tác, tránh được những cám dỗ. Tinh thần sáng tạo trong công việc cũng là một chuẩn mực đạo đức mà người cán bộ phải phát huy. Theo Hồ Chí Minh, cán bộ phụ trách phải theo đường lối chung nhưng cũng phải suy nghĩ tìm tòi, có những sáng kiến riêng của mình, theo tinh thần “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, như thế công việc mới “chạy” được. 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Hai là, phải có tinh thần trách nhiệm cao với công việc.
Hồ Chí Minh yêu cầu: “Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm”[5]. Người giải thích: “Tinh thần trách nhiệm là gì? Là khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng phải đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy… là không có tinh thần trách nhiệm”[6].
Là cán bộ không nên suy bì xem công việc của mình có quan trọng hay không. Công việc nào cũng cần thiết đối với cách mạng. Vấn đề là ở chỗ khi đã làm việc gì dù gặp khó khăn, trở ngại cũng phải quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ. Vì vậy, Người luôn nhắc nhở: “Đã phụ trách việc gì thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm”[7]. 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đã ghi nhận ý tưởng sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thiết lập một nền công vụ mạnh mẽ, sáng suốt của dân, hoạt động vì nhân dân và chịu sự kiểm soát, bãi miễn của nhân dân; một nền công vụ hiện đại, dân chủ, có hiệu lực từ Trung ương đến cơ sở. Tư tưởng đó tiếp tục được thể hiện nhất quán trong Hiến pháp 1959, trong những sắc lệnh và luật được Nhà nước ban hành.
Ngay từ khi ra đời, nền công vụ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được xây dựng theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh - một nền công vụ dân chủ, thân dân, trọng dân, quý dân. Nền công vụ ấy đã quản lý có hiệu quả mọi hoạt động trong vùng tự do thời chống Pháp, trên phạm vi miền Bắc sau năm 1954, ở vùng kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và những năm đầu khi cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Cho đến hôm nay, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập quốc tế thì những lời dạy của Hồ Chí Minh về một nền công vụ vì dân vẫn còn nguyên giá trị.
Để xây dựng được nền công vụ đó, đội ngũ cán bộ, công chức cần có những chuẩn mực đạo đức công vụ. Đạo đức công vụ thể hiện trong các hành vi cụ thể qua công việc của mỗi cán bộ, công chức. Đạo đức công vụ được bao hàm trong đạo đức cách mạng. Đạo đức công vụ cần có những quy tắc, chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức bắt buộc mỗi cán bộ, công chức phải tuân thủ.
Bất kỳ nhà nước nào cũng có những chuẩn mực đạo đức công vụ. Ngoài những nội dung, chuẩn mực tương tự như nhau, tuỳ theo đặc điểm văn hoá, tâm lý, xã hội... mỗi nước có những chuẩn mực đạo đức công vụ riêng. Mặt khác, do đặc trưng mỗi công việc trong nền công vụ khác nhau, hệ giá trị mà mỗi nghề nghiệp hướng tới là không giống nhau nên chuẩn mực đạo đức của mỗi nghề sẽ khác nhau trong những tiêu chí cụ thể hoặc mức độ yêu cầu đối với mỗi chuẩn mực có thứ bậc ưu tiên khác nhau.
Ở nước ta, theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức công vụ được thể hiện trong những nguyên tắc đạo đức, chuẩn mực cơ bản sau:
Một là, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Theo Hồ Chí Minh, để phụng sự đoàn thể, giai cấp, nhân dân và Tổ quốc ngày càng tốt hơn thì mọi người đều phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Người nói “anh em viên chức bây giờ cần có bốn đức tính là cần, kiệm, liêm, chính”[1]. Và nhấn mạnh, “những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không giữ đúng cần, kiệm, liêm, chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”[2]. Người cán bộ, công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước, tức là từ sự đóng góp của nhân dân. Nhân dân trả công cho cán bộ để phục vụ họ thì cán bộ phải cố gắng làm để phục vụ ngày càng tốt hơn cho nhân dân, đúng như Bác căn dặn: “Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi, nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy, chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân. Muốn làm như vậy, chúng ta phải cố gắng thực hành cần, kiệm, liêm, chính”[3]. Người cán bộ, công chức làm việc công, tiêu tiền công, lại có ít nhiều quyền hành nếu không có ý thức, tinh thần cao thì rất dễ hủ bại.
Theo Người, sở dĩ có nạn tham ô và lãng phí là do bệnh quan liêu. Vì mắc bệnh quan liêu thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững. Kết quả là những người xấu, những cán bộ kém tha hồ mà tham ô, lãng phí. Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu đi liền với nhau, trong đó quan liêu tạo điều kiện cho tham ô, lãng phí nảy nở và phát triển. Vì vậy, phải chống quan liêu, phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân, phải thực hành phê bình và tự phê bình, phải làm kiểu mẫu: cần kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong khi “chiến sĩ thì hy sinh xương máu, đồng bào thì hy sinh mồ hôi nước mắt để đóng góp. Mà những kẻ tham ô, lãng phí và quan liêu thì phá hoại tinh thần, phí phạm sức lực, tiêu hao của cải của chính phủ và của nhân dân. Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”[4]. Chống lại kẻ địch này “giặc nội xâm” còn khó khăn, phức tạp, quyết liệt hơn so với đánh giặc ngoại xâm.
Những tư tưởng về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí của Bác được nêu ra cách đây đã hơn 60 năm. Liên hệ với tình hình thực tế nước ta hiện nay, cho thấy, những lời dạy của Người hết sức sáng suốt, có giá trị thực tiễn sâu sắc. Kinh tế thị trường bên cạnh những mặt mạnh, có nhiều tác động có hại: Đó là khát vọng làm giàu bằng mọi cách, tâm lý chạy theo lợi nhuận tối đa, coi trọng giá trị đồng tiền một cách mù quáng. Nó kích thích thói ích kỷ, tự tư, tự lợi, đặt lợi ích cá nhân và gia đình lên trên lợi ích của tập thể và xã hội. Nó sinh ra thói dối trá, gian xảo, lừa lọc, thực dụng, lối sống coi trọng vật chất của xã hội tiêu thụ… Những tệ nạn này là nguy cơ “tự diễn biến” từ bên trong, không thể coi thường. Nguyên nhân chủ yếu là do chủ nghĩa cá nhân; do cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, đạo đức; tự phê bình, phê bình và sửa chữa khuyết điểm chưa nghiêm túc; đấu tranh chống các tệ nạn xã hội chưa quyết liệt; nói chưa đi đôi với làm. Những tệ nạn này tạo điều kiện cho các thế lực thù địch công kích, lợi dụng để gây sức ép, chống phá Đảng và công cuộc xây dựng đất nước.
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư có mối quan hệ biện chứng, gắn bó mật thiết với nhau. Theo Hồ Chí Minh: “Cần và Kiệm, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người. Cần mà không Kiệm,“thì làm chừng nào xào chừng ấy”… Kiệm mà không Cần thì không tăng thêm, không phát triển được”. “Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm. Cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần. Có Kiệm mới có Liêm được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam”. “Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới hoàn toàn. Một người có Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn”. Bác nhấn mạnh: Cần, Kiệm, Liêm, Chính là vô cùng quan trọng và cần thiết, là nền tảng của đời sống mới, là cái cần để làm việc, làm người, làm cán bộ, phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại; là thước đo văn minh tiến bộ của một dân tộc. Theo Người: Một dân tộc biết Cần, Kiệm, Liêm, Chính “là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”. 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh là nhân cách của một chiến sĩ cách mạng bình dị nhưng cao đẹp, tiêu biểu và vĩ đại. Nghiên cứu nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh là một công việc khó và đòi hỏi phải có thời gian, song là một công việc hết sức cần thiết cho công cuộc đổi mới đất nước hôm nay. Cũng như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ sống mãi trong sự nghiệp cách mạng dân tộc Việt Nam và nhân loại tiến bộ.
* Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng.
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 15, NXB CTQG, Hà Nội 2011, tr 615.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, NXB CTQG, Hà Nội 2011, tr 382.
[3] Xem thêm: GS Tương Lai: Không cộng thêm cái gì vào tư tưởng Hồ Chí Minh, Tuần Việt Nam, 19-5-2009. 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Nét đặc sắc nhất ẩn chứa trong nhân cách Hồ Chí Minh làm thành nét chói sáng tiêu biểu của tư tưởng Hồ Chí Minh là tính đồng bộ, hệ thống. Hệ thống đồng bộ trong những quan hệ tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, chuyển hóa thành nhau của chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tức là các chiều cạnh của cuộc sống xã hội. Đây chính là khái niệm mới về nền văn minh.
Hồ Chí Minh không bị đẩy lệch về kinh tế, không rơi vào “kinh tế luận”, cũng không bị đẩy lệch về chính trị để rơi vào cái vũng bùn của quan điểm “chính trị là thống soái” từng gây nên bao thảm họa. Hồ Chí Minh càng không lệch về quân sự, để rơi vào sự sùng bái bạo lực, “chính quyền ra đời từ đầu ngọn súng” đấu tranh giai cấp, “một mất một còn” trong cuộc chiến “ai thắng ai”, cội nguồn của bao tai họa mà hệ lụy của nó vẫn chưa gột sạch, có lúc lại trở thành cách đánh lạc hướng những đòi hỏi về dân chủ, dân quyền và dân sinh rất thiết thực trong đời sống của người dân. Không bị rơi vào những sai lầm, lệch lạc đó, vì Hồ Chí Minh có nhận thức sâu sằc về tính hệ thống đồng bộ xã hội, và trong tổng thể xã hội ấy, một quan niệm về xã hội mới mà Hồ Chí Minh muốn xây dựng. Trong đó, Hồ Chí Minh đặt con người ở vị trí trung tâm. Đó là nét đặc sắc nổi bật của nhân cách và tư tưởng Hồ Chí Minh. Mà như thế có nghĩa là đặc biệt coi trọng văn hóa, vì nói đến con người, điểm quy tụ cuối cùng, chính là nói đến văn hóa.
Hồ Chí Minh đã làm hết sức mình để nâng cao trình độ phát triển kinh tế của đất nước. Không coi nhẹ kinh tế, không coi nhẹ chính trị, nhưng đặc biệt coi trọng văn hóa. Cố nâng đời sống kinh tế lên cho từng người, từng nhóm người, đặc biệt cho nhóm người đang có mức sống quá thấp, để trên cái nền của đời sống vật chất được nâng cao dần lên đó, có điều kiện đem lại hạnh phúc cho người dân. Văn hóa là nhân tố đặc biệt quan trọng. Văn hóa bao gồm trí tuệ, tình cảm, phẩm chất, đạo đức, tóm lại là “cuộc sống người của con người”. Với đặc sắc tư tưởng nổi bật như vậy, Hồ Chí Minh đã mở ra con đường và phương pháp xây dựng xã hội mới của Việt Nam, cũng có thể có giá trị đối với các nước đang phát triển. Thấy khoa học, thấy công nghệ, thấy kinh tế, thấy lý trí và trí tuệ, nhưng những cái đó không phải cái đặc sắc và sáng tạo của Hồ Chí Minh. Chỗ đặc sắc và sáng tạo của Hồ Chí Minh là nhận thức sâu sắc về tổng thể con người, về văn hóa. Tổng thế và văn hóa, tức là con người. Đó chính là tầm nhìn và cách tư duy để tìm kiếm con đường hiện đại, có thể rút ngắn đoạn đường, đi tắt để phát triển. Phát triển theo triết lý đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh, thì về kinh tế sẽ tránh rơi vào nền kinh tế thị trường hoang dã, chụp giật mà làm kinh tế; làm chính trị chính là nhằm tôn vinh dân chủ, tức là tôn vinh người dân và con người. Nếu làm kinh tế thị trường đơn thuần và chính trị với hàm nghĩa những mưu lược mục tiêu dù đạt được cũng dễ làm mất văn hóa, dễ “nuốt trôi” mất văn hóa. Ngựơc lại, xuất phát từ văn hóa, tức là từ con người thì sẽ nâng cao kinh tế và chính trị lên với những nội dung văn hóa được đưa vào, sẽ làm cho kinh tế và chính trị thấm đẫm bản chất nhân văn; tạo lập nền tảng vững bền cho phát triển quốc gia. Nếu hiểu một cách sâu sắc đặc điểm nổi trội ấy của nhân cách Hồ Chí Minh sẽ giúp hình thành một hệ thống giá trị chân chính của xã hội mới.[3] 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Chính điều này vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của sự gắn bó máu thịt giữa lãnh tụ và quần chúng, niềm tin yêu của nhân dân dành cho lãnh tụ của mình và là “ham muốn, ham muốn đến tột bậc” của Hồ Chí Minh về cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân mình. Với đặc điểm này, cho dù với sự khiêm tốn tuyệt đối cần thiết, cũng phải nói rằng, so với những lãnh tụ cách mạng khác, Hồ Chí Minh có sự kết đọng đậm đặc hơn, quán triệt hơn, sâu xa và thấm thía hơn trong sự gắn bó tin yêu với nhân dân của mình và đồng thời hình ảnh Hồ Chí Minh sống trọn vẹn trong trái tim của họ. Hồ Chí Minh ở trong họ, gần gũi thân thiết với họ, nâng họ lên để cùng đứng với mình chứ không bao giờ đứng trên họ. Hồ Chí Minh với nhân dân mình là một. Nói như nhà báo Úc Burchett: Nói tới một người mà cả cuộc đời mình để lại ân tình sâu nặng trong nhân dân thì không có ai ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh, và như đòi hỏi của Charles Fourniau, nhà sử học Pháp: Cần làm nổi bật một cách hiển nhiên và trên mọi tầm vóc, hình ảnh một con người đã là một trong ba hoặc bốn nhân vật vĩ đại nhất của phong trào công nhân và cách mạng thế giới, một trong những vĩ nhân của thế kỷ chúng ta. Hồ Chí Minh là con người của hành động, hành động rất thiết thực. Con người ấy không viết nhiều, không nói nhiều, không viết dài nói dài, song là con người làm, làm rất nhiều. Con người ấy nói ít, làm nhiều, thậm chí không cần nói, chỉ cần làm để rồi bằng việc làm cụ thể mà thuyết phục người ta làm theo mình. Nhưng như thế không hề là chủ thuyết của một nhà “triết học vô ngôn”, hoặc một “chính khách vô ngôn”. Hồ Chí Minh không phải không có những tác phẩm, những công trình, những bài viết, những diễn văn, những lời kêu gọi... Nhưng, tác phẩm lớn hơn cả, bài học sâu sắc nhất chính là cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.
Giờ đây đọc lại hệ thống luận điểm của Hồ Chí Minh, khởi đầu từ những năm 20 của thế kỷ trước, cho đến tư tưởng chỉ đạo hai cuộc kháng chiến cứu nước, giải phóng dân tộc là trước sau như một nhất quán với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” mới thấy vào thời ấy, hệ thống luận điểm của Hồ Chí Minh mới mẻ đến kỳ lạ, khó lòng tưởng tượng. Nó nằm trong dòng sáng tạo cách mạng của những con người mà cống hiến lý luận và sự nghiệp đấu tranh vạch đường cho thời đại. Đó là một con người sáng tạo, rất sáng tạo, con người đổi mới, thường xuyên đổi mới, đổi mới rất táo bạo. Con người ấy có sự dị ứng bẩm sinh với bệnh giáo điều rập khuôn, bệnh công thức sáo mòn. Từ quan điểm, đường lối cho đến cách sống, cách nói, cách viết, Hồ Chí Minh quyết liệt chống sự sáo mòn, hướng tới cái thiết thực, đạt tới hiệu quả cao nhất. Trong con người ấy có sự hòa quyện nhuần nhị lý trí với tình cảm và tâm linh, sự gắn kết rất tự nhiên giữa tâm hồn nhạy cảm của một nhà thơ, với bản lĩnh tinh nhạy của một chính khách và sự khoan hòa, nhân ái của một lãnh tụ nhân dân. Đặc điểm nổi bật ấy tạo ra phong thái rất độc đáo của Hồ Chí Minh không trộn lẫn vào đâu được. Nhờ vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đến với mọi tầng lớp nhân dân một cách dễ dàng, vì nó gần gũi với cách cảm, cách nghĩ của họ, vừa rất truyền thống, vừa rất hiện đại. Biết cách làm cho dễ hiểu để đến được với người có trình độ học vấn thấp, song lại biết cách nâng cao lên để diễn đạt được chân lý của cuộc sống, thể hiện được khát vọng thầm kín và sâu xa của con người, nhất là những con người cùng khổ, con người bị áp bức. Cách tư duy cũng như cách ứng xử của Hồ Chí Minh, như có người quan sát và kể lại cách Hồ Chí Minh chọn và ngắt một bông hoa hồng trong vườn Phủ Chủ tịch để tặng một người phụ nữ Pháp là 100% châu Âu. Nhưng cách Bác Hồ bưng bát nước chè xanh của một cụ già nông dân mời, vừa thổi, vừa uống thì 100% là Việt Nam. Ở trong ứng xử cũng như trong cách viết, cách trả lời nhà báo nước ngoài, cách diễn đạt những mệnh đề lý luận của Hồ Chí Minh có sự tinh tế nhuần nhuyễn của triết lý phương Đông và văn hóa phương Tây; vừa dân tộc, vừa quốc tế. Việt Nam, Phương Đông, Phương Tây, thế giới, thời đại đều có trong cốt cách ứng xử của Hồ Chí Minh. Không quá cường điệu khi Hélène Tourmaire, một nhà văn và cũng là nhà báo đã nói: Hình ảnh Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên. 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Đạo đức cách mạng hoàn mĩ và trong sáng; khả năng dự đoán chính xác, trình độ tư duy chính trị cao, nhanh nhạy và sáng tạo; tầm vóc hiểu biết sâu rộng; bản lĩnh dám nghĩ, dám làm v.v. đã tạo nên uy tín đích thực của nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh. Uy tín, khả năng cảm hoá, thuyết phục Hồ Chí Minh là kết quả học tập, đấu tranh cách mạng mà Người tạo dựng trong suốt cuộc đời. Uy tín ấy đã trở thành sức mạnh, thành sự ám thị, tạo nên sự tín nhiệm tuyệt đối của hàng triệu triệu con người. Mỗi một con người trong thời đại chúng ta đều hạnh phúc tự hào bởi vì được nhân cách Hồ Chí Minh tỏa sáng và chiếu rọi trong mình; tự hào vì mình được sống trong thời đại Hồ Chí Minh.
Nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh còn là nhân cách mà trong đó chứa đựng sức mạnh và ý chí, nghị lực, khát vọng phi thường. Ý chí ấy, sức mạnh ấy đã thực hiện, tạo ra sự quyết tâm cao của hàng triệu triệu con người Việt Nam và nhân loại tiến bộ trong đấu tranh cách mạng. Ý chí ấy, sức mạnh ấy đã làm cho kẻ thù phải kính nể Người. Ý chí ấy là kết quả của sự rèn luyện, tu dưỡng không ngừng với phương châm của Người mà không phải chỉ có riêng Hồ Chí Minh, mà bất cứ ai nếu cố gắng vẫn làm được, thực hiện được:
Gạo đem vào giã bao đau đớn,
Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông;
Sống ở trên đời người cũng vậy,
Gian nan rèn luyện mới thành công.[2]
Trước hết và sau cùng, bao trùm lên tất cả, nhân cách Hồ Chí Minh là nhân cách một con người rất người, một người Việt Nam rất Việt Nam. Đúng là “dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch” theo đúng nghĩa sâu sắc, đậm đặc và rất nhất quán một nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh, rất Việt Nam. Những gì là lý luận, là khoa học, là uyên bác, là thâm thúy đều thể hiện ở Hồ Chí Minh. Đó chính là sự hòa quyện, sự kết đọng của sự thông tuệ dân gian; là sự thông minh, tế nhị và mộc mạc của tinh hoa văn hóa Việt Nam thể hiện trong ứng xử hàng ngày của người dân quê trên đồng ruộng, giữa núi rừng, nơi “ thôn cùng xóm vắng ” [Nguyễn Trãi]. Những uyên bác, những thâm thúy, những tế nhị và mộc mạc hòa quyện vào trong sự thông tuệ dân gian ấy được Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc rồi thể hiện một cách dung dị, sâu lắng, tế nhị nhưng rất minh triết. 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Phẩm chất nhân cách văn hoá thứ ba ở Hồ Chí Minh là tình yêu quê hương, đất nước, yêu nhân dân sâu sắc gắn liền với lý tưởng và tình cảm cách mạng của Người. Vì quê hương, đất nước, vì nhân dân mà Người làm cách mạng, làm chính trị. Mặt khác, Người cũng xác định rõ ràng là chỉ có làm cách mạng, làm chính trị mới đảm bảo thực sự cho lý tưởng vì nước, vì dân được thực hiện. Với chí hướng và lập trường như vậy, cho nên trong cuộc đời hoạt động cách mạng, hoạt động chính trị của mình, Hồ Chí Minh có quan niệm thống nhất và cách giải quyết đúng đắn, thành công giữa vấn đề dân tộc và giai cấp; quốc gia và quốc tế. Đây cũng là cơ sở để chúng ta hiểu được vì sao cả nhân loại (ngay cả kẻ thù của cách mạng) cũng phải khâm phục, kính trọng Người, đánh giá rất cao về Người.
Chủ nghĩa yêu nước kết hợp với việc tiếp thu những tinh hoa của nền văn hóa Việt Nam và văn hóa nhân loại (cả văn hóa Phương Đông và Phương Tây) cùng với điều kiện thực tiễn của Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX là những tiền đề cơ bản để Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Người đi tìm con đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin không phải để trở thành một lãnh tụ cách mạng, một chính khách mà trước hết vì lòng ham muốn mọi người được hạnh phúc, ấm no, độc lập, tự do, bởi tình yêu của Người đối với nhân dân Việt Nam và những người cần lao trên thế giới. Hồ Chí Minh trở thành một con người vĩ đại, một nhân cách văn hoá tiêu biểu của thời đại trước tiên vì Người là con người như thế - một con người mà suốt đời đã sống và hoạt động vì chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Tư tưởng vì dân, lấy dân làm gốc không chỉ là quan điểm nhân văn, là cốt cách làm người của Người mà còn là một quan điểm xuyên suốt trong mọi đường lối, chiến lược, sách lược chính trị của Người, trở thành triết lý nhân sinh và hành động.
Trong những phẩm chất tạo nên nhân cách văn hoá ở Hồ Chí Minh là tầm vóc và hiểu biết cao về lý luận cách mạng; khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn một cách sáng tạo là một phẩm chất cơ bản và cốt lõi. Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân loại một di sản lý luận to lớn, sâu sắc bao trùm nhiều lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và giáo dục. Những tư tưởng, quan niệm của Người thường rất khái quát, rõ ràng và cụ thể; dễ giúp cho mọi người học tập, vận dụng vào thực tiễn. Di sản ấy là kết quả của việc tiếp thu những tinh hoa của văn hóa dân tộc và nhân loại và chủ nghĩa Mác - Lênin. Khi còn sống, Người thường căn dặn mọi người (nhất là người cộng sản) không nên chỉ biết học thuộc lòng chủ nghĩa Mác - Lênin mà phải nghiên cứu kĩ, hiểu khái quát và sâu sắc. Đặc biệt, học chủ nghĩa Mác - Lênin là để vận dụng sáng tạo vào điều kiện cách mạng cụ thể của Việt Nam, của mỗi nước. Ngoài học ở trường, ở sách vở, còn cần phải học lẫn nhau và học nhân dân. Không ai khác, chính Người là một nhà cách mạng, một nhà hoạt động chính trị mẫu mực về học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn cuộc sống và thực tiễn cách mạng. 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Phẩm chất tiêu biểu thứ hai ở nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh là chí hướng, nhân sinh quan, thế giới quan khoa học, lý tưởng sống, niềm tin sâu sắc vào sự nghiệp cứu dân, cứu nước, sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam và nhân dân lao động toàn thế giới. Chí hướng ấy, niềm tin ấy bộc lộ ngay khi Người ra đi tìm đường cứu nước cho đến khi Người từ biệt chúng ta trở về cõi vĩnh hằng. Chí hướng ấy, niềm tin ấy đã được chính Người, những bạn bè và đồng chí của Người, được nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người, biến thành sự thật.
Trong suốt cả cuộc đời, dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào, ở vị trí nào, Hồ Chí Minh luôn có cách nhìn, quan niệm đúng đắn sáng tạo, biện chứng về sự vật, hiện tượng, con người, nhất là những vấn đề có liên quan đến sự nghiệp cách mạng. Hồ Chí Minh, trong suốt cả cuộc đời, đã sống và hoạt động đâu phải cho riêng mình mà cho mọi người, cho tất cả những người cần lao trên thế giới. Lý tưởng sống của Người là lí tưởng cách mạng, sống vì hạnh phúc, ấm no, vì nền độc lập, tự do cho dân cho nước. Lời Di chúc trước lúc đi xa của Người thật vô cùng cao cả, vô cùng xúc động: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”[1].
Chính vì lẽ đó, khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, có người đã khẳng định: Vấn đề hàng đầu trong tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề giải phóng dân tộc, là độc lập cho dân tộc. Cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh, lịch sử cách mạng hiện đại Việt Nam đã chứng minh nhận định ấy và Không có gì quý hơn độc lập, tự do - là nguyên lí, nguyên tắc đầu tiên, trước hết và trên hết trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Không có gì quý hơn độc lập, tự do dẫn đến một cách tự nhiên ý chí tự lập, tự cường. Tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo trong đường lối cũng như trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, không ỷ lại trông chờ bên ngoài, không rập khuôn sao chép. Con đường, chí hướng, lý tưởng sống, niềm tin của Hồ Chí Minh là cứu nước và giải phóng dân tộc gắn liền với con đường cách mạng vô sản, gắn liền với sự nghiệp đi lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, Hồ Chí Minh không chỉ là người anh hùng dân tộc vĩ đại mà còn là một nhà lãnh đạo cách mạng vô sản, một nhà chính trị lỗi lạc, tiêu biểu của thời đại. 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh sinh ra là một con người như bao nhiêu con người khác. Cuộc sống và hoạt động của Người là cả một quá trình để hình thành và tạo dựng cho bản thân một nhân cách mà trước tiên là nhân cách của một con người theo đầy đủ ý nghĩa của nó đồng thời nhân cách Hồ Chí Minh còn là nhân cách của một lãnh tụ chính trị vĩ đại và tiêu biểu.
Nhiều thế hệ người trong thời đại chúng ta có thể học tập và chịu ảnh hưởng bởi những giá trị làm người, giá trị xã hội to lớn của nhân cách Hồ Chí Minh, song không thể có ai khác mà chỉ có Người mới hình thành và tạo nên một nhân cách như nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu di sản Hồ Chí Minh nói chung và nhân cách văn hoá nói riêng ở Người là một công việc hết sức cấp bách và quan trọng, song đó cũng là một công việc khó khăn, vì: Di sản Hồ Chí Minh rất sâu và rộng lớn. Đến nay, có hàng chục chương trình, đề tài khoa học các cấp, nhiều đầu sách và các bài viết về Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, cho đến nay, những tìm tòi nghiên cứu vẫn chỉ được coi là bước đầu.
Trước tiên, theo suy nghĩ của chúng tôi, đặc trưng cơ bản và thiết yếu ở nhân cách của Hồ Chí Minh được thể hiện ở sự khâm phục, đánh giá cao của xã hội, ở niềm tin và sức sống bất diệt bởi những giá trị làm người, giá trị xã hội mà nhân cách Hồ Chí Minh đã được các thế hệ người Việt Nam và nhân loại trên hành tinh chúng ta thừa nhận Người là vị lãnh tụ tối cao của dân tộc Việt Nam; là người anh hùng dân tộc vĩ đại; là chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; là danh nhân văn hóa kiệt xuất; chính khách vĩ đại và tiêu biểu. Hồ Chí Minh đã đi gặp C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin hơn bốn thập kỉ; song nhân cách làm người đạt đến chiều sâu nhất là nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh vẫn tỏa sáng, sống mãi trong nhận thức, tình cảm và hành động của hàng triệu con người. 19/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Tuy nhiên, ngành y tế nước ta hiện nay vẫn còn nhiều bất cập và yếu kém, như hệ thống y tế chậm đổi mới, chưa thích ứng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự thay đổi của cơ cấu bệnh tật; chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nhân dân; điều kiện chăm sóc y tế cho người nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn; năng lực sản xuất và cung ứng thuốc còn yếu, giá thuốc chữa bệnh còn cao so với thu nhập của nhân dân; tổ chức và hoạt động của y tế dự phòng còn nhiều bất cập; một bộ phận nhân dân chưa hình thành được ý thức và thói quen tự bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe; vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm chưa được kiểm soát chặt chẽ; những việc làm vi phạm đạo đức nghề nghiệp của một số cán bộ y tế chậm được khắc phục…
Phương hướng phát triển nền y tế nước ta hiện nay đã được Đảng ta đề ra, đó là: Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển, nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ với chất lượng ngày càng cao, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Phát triển bảo hiểm y tế toàn dân, nhằm từng bước đạt tới công bằng trong chăm sóc sức khỏe, thực hiện sự chia sẻ giữa người khỏe với người ốm, người giàu với người nghèo, người trong độ tuổi lao động với trẻ em, người già; công bằng trong đãi ngộ đối với cán bộ y tế. Có thể thấy, phương hướng đó có nhiều điểm trùng hợp và kế thừa triệt để quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về y đức, cũng như về sự phát triển của nền y tế nước nhà nói chung.
Một giải pháp có ý nghĩa quan trọng và rất cấp thiết đối với việc rèn luyện, tu dưỡng, nâng cao đạo đức cho cán bộ, nhân viên y tế hiện nay là giáo dục đạo đức y học. Bộ Y tế cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có giải pháp thiết thực để nâng cao đạo đức nghề y cho sinh viên ngành y. Năm học 2010 - 2011, môn học đạo đức y học đã bắt đầu được triển khai thành môn học riêng, có giáo trình riêng, có lượng giá hết môn học ở một số trường đại học, như ở Trường Đại học Y Hà Nội. Những nội dung của môn học y đức trong chương trình học chính khóa sẽ sớm giúp cho sinh viên nhận thức đúng đắn về hành vi, thái độ thực hành chuyên môn và giao tiếp với bệnh nhân; khi trở thành bác sĩ, họ sẽ có khả năng thực hành y đức tốt hơn. Năm 2011, Bộ môn Y đức và Y xã hội học của Trường Đại học Y Hà Nội đã được thành lập, có nhiệm vụ giảng dạy đạo đức y học cho các hệ sinh viên trong nhà trường. Hiện nay, môn đạo đức y học đã được 8 trường y, dược trên cả nước đưa vào giảng dạy, trở thành một môn học chính thức, có lượng giá kết thúc môn học. Mặc dù giáo trình, chương trình, nội dung về giảng dạy đạo đức y học giữa 8 trường đó còn chưa thực sự thống nhất, song bước đầu đã mang lại những kết quả tích cực. Hiện nay, Bộ Y tế cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo đang cố gắng thống nhất nội dung, giáo trình môn học này trong các trường y, dược cả nước.
Giải pháp đào tạo, giáo dục đạo đức y học hiện nay được coi là phương pháp cần thiết nhất đối với việc nâng cao đạo đức nghề y của cán bộ y tế. Trước khi môn học đạo đức y học có sự thống nhất về chương trình, nội dung trong cả nước, việc giáo dục và rèn luyện đạo đức người cán bộ y tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh là giải pháp hữu hiệu nhất, và đó không chỉ là giải pháp trước mắt mà còn là giải pháp thường xuyên, lâu dài. Hơn thế, trước mắt cũng như lâu dài, trong chương trình, nội dung của môn học đạo đức y học, nên có một dung lượng thích đáng đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về y đức.
Sự nghiệp phát triển y tế ở nước ta hiện nay đang gặp nhiều thách thức. Để vượt qua những thách thức, đưa y nghiệp phát triển, tiếp thu những tiến bộ của y học cũng như y nghiệp trên thế giới, cần phải coi trọng hơn nữa việc giáo dục và rèn luyện đạo đức đối với người cán bộ y tế. Đặc biệt, việc vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục và rèn luyện y đức đối với người cán bộ y tế luôn luôn trở nên cấp thiết./.
Chú thích
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 395
(2) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 6, tr. 34
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 8, tr. 154
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 5, tr. 395
(5) Hồ Chí Minh: Sđd, t. 4, tr. 456
(6) Hồ Chí Minh: Sđd, 1995, t. 5, tr. 395