0 0 0 2 2 7 3 9 1 2
Đang online:
12
Hôm nay :
70
Hôm qua :
1,722
Tuần này :
9,802
Tuần trước :
9,324
Tháng này :
30,435
Tháng trước:
36,129
27/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, song lời hiệu triệu cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vang vọng núi sông; tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Người vẫn thôi thúc hàng triệu, hàng triệu trái tim người Việt Nam lao động hăng say và sẵn sàng xả thân bảo vệ Tổ quốc.Củng cố hòa bình, tiến tới thống nhất đất nước
Tháng 9.1950, tại chiến khu Việt Bắc, khi trả lời phỏng vấn của nhà báo pháp Léo Figuères, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự báo đế quốc Mỹ sẽ thất bại nếu can thiệp vào chiến tranh Đông Dương. Phóng viên hỏi: “Ý kiến của Chủ tịch đối với việc đế quốc Mỹ công nhiên can thiệp vào nội tình Việt Nam?”, Người trả lời: “Việc can thiệp đó có tính chất xâm lược, phản dân chủ và không Mỹ chút nào. Nhất định đế quốc Mỹ sẽ thất bại như ở Trung Hoa trước đây”.
Một ngày sau khi quân ta toàn thắng ở Điện Biên Phủ, ngày 8.5.1954, trong thư khen bộ đội, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào Tây Bắc, Bác Hồ đã viết: “Quân ta đã giải phóng Điện Biên Phủ… Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu”.
Tham dự Hội nghị lần thứ sáu (mở rộng), Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa II, ngày 15.7.1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc báo cáo quan trọng gồm hai phần: Tình hình mới và Nhiệm vụ mới. Ở phần Tình hình mới, sau khi giới thiệu thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thái độ của Mỹ đối với Hội nghị, Người khẳng định: “Mỹ là kẻ thù chính của hòa bình thế giới… Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt, Miên, Lào”. Từ tình hình đó, Người xác định: “Bất kỳ hòa bình hay chiến tranh, ta cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”.
Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng nêu lên phải đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Cả hai nhiệm vụ ấy đều nhằm mục tiêu chung là củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, thiết thực tăng cường hệ thống xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam châu Á và thế giới. 26/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta từ khi có Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, mở ra bước ngoặt trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, đất nước và dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài để tìm đường cứu nước, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Tháng 5/1941, Bác đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ VIII của Đảng tại Khuổi Nậm (Pác Bó). Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Mặt trận Việt Minh đã lôi cuốn, tập hợp quần chúng cả nước đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền, góp phần quyết định vào sự thành công của Cách mạng Tháng Tám. Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh vô cùng to lớn, người cầm lái con tàu cách mạng vượt qua bão táp để cập bến độc lập, tự do.
Sau một thời gian chuẩn bị, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, gồm 34 chiến sĩ do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy, được thành lập ngày 22/12/1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo, tỉnh Cao Bằng. Sau khi ra đời, Đội đã giành được thắng lợi tại trận Phay Khắt ngày 25/12 và Nà Ngần ngày 26/12/1944. Những thắng lợi mở đầu của Đội có ảnh hưởng to lớn đối với phong trào cách mạng cả nước.
Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Ðông Dương. Ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Ðảng tổ chức hội nghị mở rộng ở Ðình Bảng (Bắc Ninh) kịp thời ra chỉ thị: Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta.
Tháng 8/1945, sau khi phát xít Đức đầu hàng Đồng minh, Bác Hồ cùng Trung ương Đảng họp Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân ở Tân Trào. Đại hội Quốc dân Tân Trào đã hoàn thành nhiệm vụ như một Quốc hội dân cử. Đại hội đã thể hiện sự đoàn kết nhất trí của toàn dân tộc Việt Nam trong Mặt trận Việt Minh, biểu thị lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, biểu thị ý chí và quyết tâm đưa cuộc Tổng khởi nghĩa đến thắng lợi hoàn toàn.
Sau Đại hội Quốc dân (16-8), Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên Tổng khởi nghĩa.
Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta trong cả nước đã nhất tề vùng dậy khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 19/8, Tổng khởi nghĩa thành công ở Hà Nội và ngày 25/8 thành công ở Sài Gòn. Chỉ trong một thời gian ngắn, cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước đã thành công.
Ngày 02/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945 đã thể hiện sức mạnh của lòng dân, thể hiện bài học đại đoàn kết, sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đánh giá về ý nghĩa lớn lao này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta”. 26/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Với ý chí tự lực, tự cường đem sức ta mà giải phóng cho ta; dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập, chỉ trong mười lăm ngày, cuộc Tổng khởi nghĩa thành công trên cả nước. Thay mặt toàn thể nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuyên ngôn khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.
Độc lập là khát vọng cháy bỏng của dân tộc và Hồ Chí Minh. Vì vậy, chúng ta quyết giữ bằng được giá trị thiêng liêng, cao quý đó. Nhưng độc lập mới chỉ là thành quả bước đầu. Với Hồ Chí Minh, nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Vì vậy, từ sau Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền cảm hứng khát vọng phát triển cho cả dân tộc. Những tháng ngày đầu tiên của một đất nước độc lập, Người đã chuyển tải một thông điệp về xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại, làm sao cho theo kịp các nước trên hoàn cầu; làm cho nước Việt Nam tươi đẹp, bước tới đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu.
Trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nghĩ tới một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường. Người gắn kết khát vọng giải phóng với khát vọng phát triển. Trong ác liệt của bom đạn do đế quốc Mỹ gây ra, Người khẳng định “chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Khát vọng phát triển, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc được khẳng định trong Di chúc: “Còn non, còn nước, còn người/ Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Người dặn lại Đảng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo, để tránh khỏi bị động, thiếu sót, sai lầm. Kế hoạch đó tập trung vào phát triển kinh tế và văn hóa để không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.
Khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc và phát triển đất nước trong di sản Hồ Chí Minh được Đảng ta nhấn mạnh trong các văn kiện Đại hội XIII với quan điểm chỉ đạo “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.
Khơi dậy khát vọng phát triển vì một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, cùng tiến bước và sánh vai với các cường quốc năm châu trở thành nguồn cảm hứng bất tận từ Hồ Chí Minh đến Đại hội XIII của Đảng. Chúng ta nguyện thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng vủa toàn dân tộc ta. 26/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Khát vọng độc lập, tự do, hạnh phúc và phát triển đất nước trong di sản Hồ Chí Minh được Đảng ta nhấn mạnh trong các văn kiện Đại hội XIII với quan điểm chỉ đạo “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.
Cuối thế kỷ XIX, tư tưởng phong kiến đã hoàn toàn bất lực và thất bại trước các nhiệm vụ lịch sử. Đầu thế kỷ XX, tư tưởng tư sản cũng bất lực và thất bại hoàn toàn. Một bầu không khí ảm đạm bao trùm đất nước. Nhiều người than thở: “Đêm sao đêm mãi tối mò mò/Đêm đến bao giời mới sáng cho”. Các nhà yêu nước ngồi đàm đạo chỉ với một câu hỏi: “Ai có thể giúp ta đánh đuổi thực dân Pháp để giải phóng đất nước? Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ.
Trong bối cảnh đó, với lòng yêu nước, căm thù xâm lược, muốn cho đất nước được độc lập, Nguyễn Tất Thành trăn trở về con đường cứu nước, cứu dân. Trạc mười ba tuổi, khi còn trên ghế trường tiểu học, lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành biết đến mấy chữ Pháp: Tự do - Bình đẳng - Bác ái. Lúc bấy giờ, Anh đã có sự hoài nghi những chữ đó, vì chẳng thấy tự do, bình đẳng, bác ái, chỉ thấy áp bức, bóc lột, bất công. Ngay từ lúc đó, Nguyễn Tất Thành đã có ý định sang Pháp tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau các chữ đó.
Ý định sang Pháp theo suốt cuộc hành trình của Nguyễn Tất Thành từ Vinh đến Huế và Sài Gòn. Đi tới đâu Anh cũng thấy đồng bào mình bị đọa đầy, đau khổ. Sau một thời gian ở Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành quyết định sang Pháp và các nước khác xem xét họ làm ăn ra sao rồi sẽ trở về giúp đồng bào ta. Đó là một quyết định táo bạo, chứa đựng trí tuệ, bản lĩnh, tầm nhìn, cách thức và khát vọng độc lập.
Với cuộc hành trình mười năm, Nguyễn Tất Thành làm nhiều nghề lao động chân tay để vừa kiếm sống vừa khám phá, tìm hiểu cuộc sống ở các nước tư bản và các nước thuộc địa. Anh nhận được nhiều điều mới mẻ. Bao suy nghĩ và câu hỏi được đặt ra như ở Pháp cũng có người nghèo khổ như bên ta. Tại sao người Pháp không khai hóa dân tộc họ trước khi sang khai hóa chúng ta? Anh nhận ra rằng trên đầu Tượng thần Tự do tỏa ra ánh hào quang, nhưng những nơi khác ở Mỹ, dưới chân Tượng thần, vẫn còn nhiều người sống rất nghèo khổ. Chứng kiến cảnh sống của giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở nhiều nước trên thế giới, Nguyễn Tất Thành nhận xét rằng dù màu da, tiếng nói, chủng tộc khác nhau, nhưng vẫn có thể coi nhau như anh em một nhà, và cũng chỉ có một tình hữu ái là thật mà thôi, tình hữu ái vô sản.
Cuộc hành trình qua Pháp, Mỹ, Anh và nhiều thuộc địa khác đem lại cho Nguyễn Tất Thành nhiều điều bổ ích, càng nung nấu khát vọng giành độc lập cho dân tộc mình và các dân tộc khác. Trở lại Pháp cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành thật sự bước chân vào con đường hoạt động cách mạng chuyên nghiệp. Anh vào Đảng Xã hội Pháp chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực An Nam thuộc địa và là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái.
Hoạt động và cống hiến nổi bật đầu tiên của Nguyễn Tất Thành trong giai đoạn này là thay mặt những người Việt Nam ở Pháp gửi tới Hội nghị Vécxây bản yêu sách của nhân dân An Nam đòi các quyền tự do. Cũng từ đây tên gọi Nguyễn Ái Quốc - Nguyễn “người yêu nước” bắt đầu xuất hiện trên các diễn đàn quốc tế.
Nguyễn Ái Quốc viết nhiều bài đăng trên báo L’Humanité tiếp tục khẳng nguyện vọng tự do của nhân dân An Nam, đồng thời lên án chính sách cai trị, những thủ đoạn đàn áp, cướp bóc của thực dân Pháp ở Đông Dương. Người cũng tham gia các hoạt động của Ủy ban Quốc tế III của Đảng Xã hội Pháp thành lập cuối năm 1919 để bảo vệ cách mạng Nga.
Giải phóng dân tộc mình và các dân tộc thuộc địa là trục chính xuyên suốt trong suy nghĩ và hành động của Nguyễn Ái Quốc khi vào Đảng Xã hội Pháp. Chính điều đó đã giúp Người vượt lên tất cả những hạn chế của mình trong nhận thức những vấn đề chính trị khác. Khi trong Đảng Xã hội Pháp tranh luận về việc tham gia Đệ tam Quốc tế, hay Đệ nhị Quốc tế, thậm chí thành lập Quốc tế hai rưỡi, chính Nguyễn Ái Quốc nêu lên một câu hỏi mà người ta không đề cập đến, đó là tổ chức nào bênh vực, đoàn kết với các dân tộc thuộc địa và giúp họ thực hiện sự nghiệp giải phóng? Các đồng chí trong Đảng Xã hội Pháp đưa cho Người bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin.
Tác phẩm của Lênin đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập dân tộc và tự do cho đồng bào. Sau này, khi nhắc lại sự kiện đó, Nguyễn Ái Quốc khẳng định “lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đưa Người tin theo Lênin và Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin vừa làm công tác thực tế, dần dần Người hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Đó là một đúc kết sâu sắc có ý nghĩa đột phá về lý luận, giải quyết mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Đến với chủ nghĩa Lênin năm 1920, Nguyễn Aí Quốc kết thúc cuộc hành trình “tìm đường” đó là giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Từ năm 1921 trở đi, Người thực hiện nhiệm vụ “mở đường” cho đến năm 1930, chuẩn bị chín muồi các nhân tố để thành lập Đảng. Nguyễn Ái Quốc ghi trên lá cờ Đảng “đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập, dựng ra Chính phủ công nông binh”. Từ đó trở đi đến năm 1945, Người cùng Đảng ta thực hiện nhiệm vụ “dẫn đường” cho toàn dân tộc để giành độc lập. Khi cả dân tộc phải chịu ách áp bức “một cổ hai tròng” của cả Pháp và Nhật, Người khẳng định nhiệm vụ duy nhất, cao nhất là giải phóng dân tộc. Bởi vì nếu dân tộc không được giải phóng, không giành được độc lập, thì quyền lợi của giai cấp, của bộ phận đến vạn năm cũng không đòi lại được. Không giành được độc lập dân tộc, sẽ không có gì hết, mãi mãi kiếp nô lệ. 26/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 3. Với Đảng bộ TP. Hà Nội, Bác Hồ luôn có những quan tâm, hướng dẫn từ chủ trương, bước đi cụ thể. Dự Hội nghị Đảng bộ ngày 25-4-1959, Bác lưu ý “phải xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành một Thủ đô xã hội chủ nghĩa” và yêu cầu: “Hà Nội cần phải củng cố và phát triển Đảng”… Đảng viên, đoàn viên bất cứ ở đâu, bất cứ làm công việc gì, phải thật gương mẫu. Đảng bộ Hà Nội phải làm gương mẫu cho các đảng bộ khác”. Người cho rằng, then chốt của công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh chính là xây dựng chi bộ, bởi “Đảng mạnh là do các chi bộ mạnh. Chi bộ mạnh là do các đảng viên hăng hái và gương mẫu”.
Ngày 14-5-1966, tuy sức khỏe đã giảm sút nhưng Bác vẫn đến dự lớp huấn luyện đảng viên mới, Người khẳng định nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên là phải ra sức học tập lý luận Mác - Lênin, phải học tập đường lối của Đảng, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam; thái độ và phương pháp học tập phù hợp, hiệu quả, đặc biệt là phải gắn liền lý luận với thực tiễn; phải “gương mẫu trong sản xuất và chiến đấu, phải gương mẫu trong đạo đức cách mạng. Hằng ngày phải tự kiểm điểm để cố gắng làm đúng 10 nhiệm vụ đảng viên”... Người không những đặc biệt quan tâm đến công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, các cấp chính quyền về vấn đề tăng gia sản xuất, đắp đê phòng chống lũ lụt, chống hạn để phát triển kinh tế mà còn lưu ý những vấn đề liên quan đến giáo dục, xây dựng cuộc sống mới, quản lý hộ khẩu... để xây dựng và phát triển Thủ đô. Người gửi thư và mong HĐND thành phố “sẽ ra sức vận động đồng bào Thủ đô đoàn kết chặt chẽ, hăng hái tham gia thực hiện mọi chủ trương công tác của Đảng và Chính phủ…
4. Trở lại Thủ đô sau 9 năm trường kỳ kháng chiến ở Việt Bắc, trải qua 15 năm sống và làm việc tại Hà Nội, cứ mỗi dịp đón Tết cổ truyền của dân tộc, Người luôn dành trọn những ngày nghỉ của mình để đi thăm và chúc Tết đồng bào, chiến sĩ. Đặc biệt là những đêm giao thừa, Người thường ghé thăm những người lao động nghèo mà không có sự chuẩn bị từ trước. Ai cũng cảm nhận được tấm lòng nhân ái, sự quan tâm chu đáo và tình thương bao la vô bờ bến của Người dành cho các tầng lớp nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân Thủ đô Hà Nội nói riêng. Những lần gặp Người đó là kỷ niệm không bao giờ phai nhạt trong ký ức của người dân cũng như các cán bộ và chiến sĩ Thủ đô.
Bác đã đi xa hơn 50 năm, song tấm lòng, tình cảm, lời dặn dò tâm huyết và những chỉ dẫn kịp thời của Người đã trở thành nguồn sức mạnh tinh thần to lớn đối với Đảng bộ và nhân dân Hà Nội trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Thủ đô trong những năm tháng cả nước tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đó cũng chính là ánh sáng soi đường, cổ vũ, động viên cán bộ và nhân dân Thủ đô trên những chặng đường cách mạng, để một Hà Nội với bề dày truyền thống lịch sử luôn được bảo tồn và phát triển, không chỉ hào sảng trong lửa đạn của chiến tranh mà còn thơ mộng, hòa bình trong “trái tim của cả nước”; xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước Việt Nam đổi mới và hội nhập; luôn là niềm tin yêu, hy vọng của nhân dân cả nước trước những thách thức của hôm nay và mai sau. 26/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 2. Gắn bó với những địa danh Bắc Bộ Phủ, Ba Đình, Vạn Phúc, chùa Trầm, Thanh Oai, Phủ Chủ tịch... của Hà Nội; những bài nói, bài viết, những lần đi thăm cơ sở của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1945 đến 1969 không chỉ thể hiện tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ mà còn là minh chứng sinh động cho sự quan tâm đặc biệt của Người với Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Thủ đô Hà Nội trên mỗi bước đường chiến đấu và chiến thắng .
Ngay sau khi đọc Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Bác liền gửi thư nhắn nhủ chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô, những người đã dũng cảm “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” rằng, “lòng Già Hồ luôn luôn ở bên cạnh các em”.
Trong những năm tháng gian lao kháng chiến chống Pháp, Bác đã gửi thư cho đội du kích Thủ đô và đồng bào vùng Hà Nội, khen ngợi những chiến công của quân dân Hà Nội. Bác “viết thư này với cả tấm lòng thương xót, yêu mến và tin tưởng”; đồng thời nhấn mạnh: “Đồng bào vùng Hà Nội đang nêu gương dũng cảm cho toàn quốc”… Dù phải gian lao kháng chiến, dù bộn bề công việc quốc gia đại sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành cho đồng bào và chiến sĩ Thủ đô sự quan tâm ân cần, chu đáo. Bác dõi theo mỗi khó khăn, thắng lợi và từng bước phát triển để kịp thời chia sẻ, động viên, cổ vũ quân dân Thủ đô kiên cường và kiên trì kháng chiến, cùng đồng bào, chiến sĩ cả nước làm nên thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Khi Thủ đô được giải phóng, Bác kêu gọi nhân dân làm cho Hà Nội thành một Thủ đô yên ổn, tươi vui và phồn thịnh, giữ gìn truyền thống “thứ nhất kinh kỳ”, “ngàn năm văn hiến” ngày một hồi sinh và phát triển.
Không những quan tâm đến sự phát triển của Hà Nội, Bác còn rất chú trọng bảo vệ Hà Nội. Từ những ngày đầu chiến đấu, Bác đã suy nghĩ đến việc bảo vệ không phận Hà Nội, Bác nói: “Hà Nội chưa có pháo cao xạ như nhà chưa có nóc”. Rồi Bác nhận định: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua mới chịu thua. Phải dự kiến mọi tình huống càng sớm càng tốt… Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu sau khi thua trận trên bầu trời Hà Nội”. Trong một lần đến thăm bộ đội tại trận địa phòng không Hà Nội, Bác đã căn dặn: “Dù đế quốc Mỹ lắm súng nhiều tiền, Dù chúng có B57, B52 hay “bê ” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy lính Mỹ, chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng”. Lời của Bác không chỉ thể hiện quyết tâm kháng chiến thắng lợi, mà còn là chỉ thị cho bộ đội và quân dân Hà Nội phải tìm mọi cách để đánh được máy bay B52. Sau 10 năm chuẩn bị, quân và dân Hà Nội đã đập tan cuộc tập kích đường không bằng máy bay chiến lược B52 vào Hà Nội tháng 12-1972, bắn rơi 16 chiếc trong tổng số 193 chiếc B52 của Mỹ hiện có. Tổn thất đó buộc Tổng thống Mỹ phải chấp nhận thua cuộc và ký hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam theo đúng nhận định của Hồ Chí Minh . 26/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện tấm lòng trân trọng, mối quan tâm sâu sắc giàu tình nhân ái và những mong muốn thiết tha về Hà Nội. Với Hà Nội, Người xác định vị trí “đầu tàu”, “gương mẫu” của nơi mà “cả nước nhìn về Thủ đô ta. Thế giới trông vào Thủ đô ta” nên Người mong muốn làm sao để cho Hà Nội thành một Thủ đô bình yên tươi đẹp, mạnh khỏe cả về vật chất và tinh thần.
1. Hà Nội là nơi ghi đậm những dấu mốc lịch sử quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người và của dân tộc. Ngày 26-8-1945, Người từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội và tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam đọc Tuyên ngôn Độc lập trước quốc dân đồng bào rằng: “Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.
Cả Quảng trường vang lên tiếng hô đáp lại: Việt Nam độc lập muôn năm! Ủng hộ Mặt trận Việt Minh! Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!
Làng Vạn Phúc, quận Hà Đông nằm bên dòng sông Nhuệ, cách trung tâm TP. Hà Nội hơn 10km là nơi Bác Hồ viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến bên ngọn đèn dầu trong căn gác nhỏ, giữa đêm đông giá lạnh đã mãi mãi đi vào lịch sử.
Tại hang Trầm, ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến qua Đài Tiếng nói Việt Nam: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Câu nói ấy đã ngân vang đến mọi miền đất nước và đi vào tâm thức của mỗi người dân Việt Nam như một lời hiệu triệu của non sông đất nước. Trong những ngày không quân Mỹ đánh phá ác liệt TP. Hà Nội, tại đây Bác Hồ đã soạn thảo và đọc “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước của Hồ Chủ tịch” ngày 17-7-1966, khẳng định quyết tâm chống Mỹ cứu nước của dân tộc “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Rồi cũng ở Hà Nội, Bác Hồ đã viết những dòng Di chúc trước lúc đi xa, để lại muôn vàn tình thương yêu cho đồng bào, đồng chí, cho dân tộc Việt Nam.
Với vị trí địa lý và vai trò đặc biệt của mình, Thủ đô Hà Nội có vinh dự, tự hào là một trong những nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc lâu nhất, cũng là nơi có nhiều địa danh in dấu chân Bác và đã từng được Người dành sự quan tâm, đến thăm và căn dặn. Hầu hết các tầng lớp nhân dân, từ công nhân, nông dân, trí thức đến các chiến sĩ bộ đội, anh chị em dân quân, tự vệ, các nhân sĩ, trí thức, đồng bào tôn giáo, dân tộc, các cụ phụ lão, các cháu thanh, thiếu niên, nhi đồng, các chị lao công... đều được Bác gặp gỡ, thăm hỏi, động viên, khuyên nhủ ân cần. Qua các bài nói, bài viết, bức điện hay những chuyến thăm của Người đều để lại những dấu ấn không thể nào quên. 26/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
Trong cuốn sổ ghi chép những bài thơ do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng tác trong lao tù của chế độ Tưởng Giới Thạch (1942-1943) sau này tập hợp lại thành tập thơ Nhật ký trong tù, Người nêu định nghĩa giản dị mà sâu sắc về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Phải đem văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường, tự chủ”. Hồ Chí Minh đề ra chủ trương diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, khơi dậy phong trào bình dân học vụ, bổ túc văn hóa để dồn sức xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí. Hồ Chí Minh khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Người nhấn mạnh: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề cùng phải chú ý đến, cùng phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa”. Nói về Đảng và lý tưởng của Đảng, Người nhắc nhở: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng… Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng. Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân…”. Về vai trò, trách nhiệm của Chính phủ, Người nhấn mạnh: “Chúng ta cần phải hiểu rằng các cơ quan của Chính phủ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Người lưu ý: “Trong các hoạt động của chúng ta, nào chính trị, nào kinh tế, nào quân sự, văn hóa, chắc không thiếu những người có năng lực, có sáng kiến… Nhưng vì cách lãnh đạo của ta còn kém, thói quan liêu còn nồng cho nên có những người như thế cũng bị dìm xuống, không được cất nhắc. Muốn tránh khỏi sự hao phí nhân tài, chúng ta cần phải sửa chữa cách lãnh đạo. Thí dụ: “bắt buộc trong mỗi ngành phải thiết thực báo cáo và cất nhắc nhân tài”. Người nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, trong đó tư cách của người cách mạng phải được đặt lên hàng đầu. Văn hóa được Người quan niệm là một trong bốn lĩnh vực cấu thành đời sống xã hội và văn hóa cần phải được coi trọng ngang với chính trị, kinh tế, xã hội. Tư tưởng của Người một mặt nhấn mạnh vai trò quan trọng của văn hóa, ngang với các lĩnh vực trọng yếu khác, mặt khác phê phán quan niệm coi nhẹ công tác văn hóa, không thấy vai trò nền tảng, vai trò sáng tạo, dẫn dắt của văn hóa. Hồ Chí Minh khẳng định “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Để hiểu đúng và làm được điều hệ trọng này, theo Người phải: “1- Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường; 2- Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng; 3- Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội; 4- Xây dựng chính trị: dân quyền; 5-Xây dựng kinh tế”. Như vậy, xây dựng văn hóa là tiến hành xây dựng đồng bộ và toàn diện về tâm lý, luân lý, xã hội, về chính trị và kinh tế. Hồ Chí Minh cũng cho rằng: Để văn hóa soi đường cho quốc dân đi, mỗi cán bộ, đảng viên ở các cấp, các ngành phải là tấm gương để mọi người noi theo: “Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Người chỉ rõ “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận”, “Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”, cần đoàn kết tập hợp đội ngũ trí thức, những nhà văn hóa và toàn quân, toàn dân phấn đấu cho sự nghiệp “phò chính, trừ tà”, góp phần quan trọng vào việc nhân đạo hóa con người, cổ vũ con người vươn tới chân, thiện, mỹ. Văn hóa phải “gắn liền với lao động, sản xuất, văn hóa xa đời sống, xa lao động là văn hóa suông”. Văn hóa phải thấu hiểu và đi sâu vào đời sống, “bày tỏ được cái tinh thần anh dũng và kiên quyết của quân và dân ta, đồng thời để giúp phát triển và nâng cao tinh thần ấy”. Hồ Chí Minh cho rằng: “Để phục vụ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa thì văn hóa phải xã hội chủ nghĩa về nội dung và dân tộc về hình thức”. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng”. Hồ Chí Minh nêu một yêu cầu cơ bản: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa; muốn có con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, muốn có tư tưởng xã hội chủ nghĩa phải gột rửa tư tưởng cá nhân chủ nghĩa”, vì theo Người, chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân đẻ ra các căn bệnh làm hại đến sự phát triển của đất nước. 26/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 3. Văn hóa Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ (ngày 3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong đó có 2 nhiệm vụ cấp bách thuộc về văn hóa: Một là, cùng với diệt giặc đói phải diệt giặc dốt. Hai là, phải giáo dục tinh thần cho nhân dân. Đây là hai nhiệm vụ giản dị nhưng lại hết sức quan trọng ở tầm nhìn, tầm nắm bắt yêu cầu của cách mạng, lấy dân làm gốc. Đầu năm 1946, Ban Trung ương vận động đời sống mới được thành lập với sự tham gia của nhiều nhân vật có uy tín như Trần Huy Liệu, Dương Đức Hiền, Vũ Đình Hoè..., Tổng thư ký của Ban là nhà văn Nguyễn Huy Tưởng.
Đường lối văn hóa kháng chiến dần hình thành trong Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” ra ngày 25/11/1945 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng; thể hiện rõ trong bức thư “Nhiệm vụ văn hóa Việt Nam trong công cuộc cứu nước và xây dựng nước hiện nay” của đồng chí Trường Chinh gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 16/11/1946. Trong bộn bề công việc của Nhà nước chống lại giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ Nhất khai mạc ngày 24/11/1946 tại Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội. Theo kế hoạch, Hội nghị dự định làm việc trong 3 ngày, nhưng do tình hình chiến sự căng thẳng tại Hải Phòng và đang có nguy cơ bùng nổ sớm ở Hà Nội nên đã bế mạc ngay sau một ngày làm việc sôi nổi, khẩn trương, hết sức bổ ích, mang đậm dấu ấn lịch sử. Hội nghị đón tiếp hơn 200 nhà hoạt động văn hóa tiêu biểu trong cả nước tham dự. Trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nền văn hóa mới của nước nhà lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”. Từ cách đặt vấn đề “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ”, Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa liên lạc mật thiết với chính trị. Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ. Tâm lý của ta lại còn muốn lấy tự do, độc lập làm gốc. Văn hóa phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do. Đồng thời, phải làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng mình. Đối với xã hội, văn hóa phải làm thế nào cho mỗi người dân Việt Nam, từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hạnh phúc của mình nên được hưởng. Số phận dân ta là ở trong tay ta. Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. Văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ”.
Người tha thiết đề nghị: “Tôi mong chúng ta đem văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường, và sáng tạo”. Báo cáo của Uỷ ban Vận động Văn hóa toàn quốc nêu bật những thành tích đã đạt được, đồng thời kêu gọi tăng cường đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau và đề ra nhiệm vụ của văn hóa Việt Nam trong tình hình mới. Hội nghị bầu Uỷ ban văn hóa toàn quốc gồm 15 uỷ viên chính thức và 5 uỷ viên dự khuyết. Thành công to lớn của Hội nghị đã đặt cơ sở cho nền văn hóa mới Việt Nam.
Tháng 3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tài liệu “Đời sống mới” giải thích rất dễ hiểu những vấn đề thiết thực trong đường lối, chủ trương về văn hóa của Đảng và Nhà nước ta. Vẫn trong những năm tháng đầy hy sinh gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo tổ chức Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai, họp từ ngày 16 đến 20/7/1948 tại Việt Bắc. Trong thư gửi các đại biểu tham dự Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc vĩ đại của dân tộc ta, văn hóa gánh một phần rất quan trọng. Từ ngày chính quyền dân chủ thành lập đến nay, các nhà văn hóa ta đã cố gắng và đã có thành tích. Song từ nay trở đi chúng ta cần phải xây dựng một nền văn hóa kháng chiến kiến quốc của toàn dân. Muốn đi đến kết quả đó, các nhà văn hóa ta cần tổ chức chặt chẽ và đi sâu vào quần chúng. Nhiệm vụ của văn hóa chẳng những để cổ động tinh thần và lực lượng kháng chiến kiến quốc của quốc dân, mà cũng phải nêu rõ những thành tích kháng chiến kiến quốc vĩ đại của ta cho thế giới. Các nhà văn hóa ta phải có những tác phẩm xứng đáng chẳng những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến kiến quốc bây giờ mà còn để lưu truyền cả lịch sử oanh liệt kháng chiến, kiến quốc cho hậu thế”.
Ngày 18/7/1948, thay mặt Đảng ta, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày Báo cáo quan trọng tại Hội nghị với tên gọi “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam”. Báo cáo hệ thống hóa, cụ thể hóa và phát triển các quan điểm, nguyên tắc, phương châm của Đề cương văn hóa 1943 của Đảng, có giá trị như là Cương lĩnh văn hóa của Đảng thời kỳ kháng chiến, kiến quốc. Báo cáo có 7 phần quan trọng: (1) Văn hóa và xã hội; (2) Lập trường văn hóa mác xít; (3) Văn hóa Việt Nam xưa và nay; (4) Tính chất và nhiệm vụ văn hóa dân chủ mới Việt Nam; (5) Mặt trận văn hóa thống nhất trong mặt trận dân tộc thống nhất; (6) Văn hóa Việt Nam trong mặt trận văn hóa dân chủ thế giới; (7) Mấy vấn đề cụ thể trong văn học.
Báo cáo nhấn mạnh 6 nhiệm vụ chủ yếu của văn hóa: (1) Xác định mối quan hệ giữa văn hóa và cách mạng giải phóng dân tộc, cổ động văn hóa cứu quốc; (2) Xây dựng nền văn hóa dân chủ mới Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng mà khẩu hiệu thiết thực lúc này là dân tộc, dân chủ; (3) Tích cực bài trừ nạn mù chữ, mở đại học, trung học, cải cách việc học theo tinh thần mới, bài trừ cách dạy học nhồi sọ; (4) Giáo dục lại nhân dân, cổ động thực hành đời sống mới; (5) Phát triển cái hay trong văn hóa dân tộc, đồng thời bài trừ cái xấu xa hủ bại, ngăn ngừa sức thâm nhập của tàn dư văn hóa thực dân, phản động, học cái hay, cái tốt của văn hóa thế giới; (6) Hình thành đội ngũ trí thức mới đóng góp tích cực cho công cuộc kháng chiến kiến quốc và cho cách mạng Việt Nam.
Để xây dựng nền văn hóa mới, rất cần có người trí thức, người nghệ sĩ và tổ chức văn hóa, văn nghệ mới. Thái độ của người trí thức, văn nghệ sĩ Việt Nam mới là “1- Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với kháng chiến; không thoả hiệp với tư tưởng và văn hóa phản động, không trung lập, không giữ thái độ bàng quan. 2- Yêu khoa học, lấy khoa học Mác xít làm kim chỉ nam cho hành động, biết và làm đi đôi, lý luận và thực tiễn kết hợp. 3- Một lòng một dạ phục vụ nhân dân; gần gũi quần chúng công, nông, binh, cảm thông với quần chúng, học hỏi nhân dân, giáo dục, dìu dắt nhân dân. Đó là thái độ chân chính của các chiến sĩ văn hóa mới chúng ta, và cũng là bí quyết thành công của chúng ta”.
Ba ngày sau Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai là Hội nghị Văn nghệ toàn quốc được tổ chức từ ngày 23 đến 25/7/1948. Hơn 80 văn nghệ sĩ đại biểu cho các ngành văn học, sân khấu, âm nhạc, kiến trúc, mỹ thuật từ các nẻo đường kháng chiến đã về dự Hội nghị. Tại sự kiện quan trọng này, Hội Văn nghệ Việt Nam được thành lập, là sự tiếp nối tốt đẹp Hội Văn hóa cứu quốc được thành lập năm 1943. Lãnh đạo Hội và Ban chấp hành của Hội ra mắt, với sự tham gia lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng, Trưởng ban Tuyên truyền của Trung ương; đồng chí Tố Hữu được Trung ương giao trực tiếp tổ chức chỉ đạo công tác văn nghệ; Tiểu ban Văn nghệ còn có các đồng chí Trần Huy Liệu, Nguyễn Khánh Toàn, Hải Triều, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Nam Cao, Nguyễn Sơn… Sau Hội nghị, các văn nghệ sĩ nô nức đi vào cuộc kháng chiến với khẩu hiệu “Cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt”.
Từ năm 1950 trở đi, mô hình xây dựng văn hóa kháng chiến có sự điều chỉnh, hình thức “hội nghị văn hóa toàn quốc” không còn được sử dụng. Nhân Triển lãm hội họa (năm 1951), trong thư gửi các họa sĩ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Người nhấn mạnh vai trò xung kích của văn hóa, văn nghệ trong sứ mệnh giải phóng dân tộc. Văn hóa cùng với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự... phải tạo thành những mặt trận có sức mạnh to lớn trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. “Văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”; “chính trị, kinh tế, văn hóa đều “phải coi là quan trọng ngang nhau”.
Văn kiện Đại hội III của Đảng (9/1960) xác định đường lối xây dựng nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc. Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng xác định văn hóa, tư tưởng là một cuộc cách mạng, tiến hành đồng thời gắn bó chặt chẽ với cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học kỹ thuật. Đường lối tiến hành cuộc cách mạng văn hóa, tư tưởng, xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa mang đặc trưng dân tộc, khoa học, đại chúng tiếp tục được phát triển, bổ sung trong những năm đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12/1976) xác định xây dựng con người mới, xây dựng nền văn hóa mới... tiến hành đấu tranh chống tư tưởng và sản phẩm văn hóa phản động, độc hại. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (3/1982) chỉ rõ nền văn hóa mới mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc, có tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc, thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Đại hội V cũng trình bày rất đầy đủ nội hàm khái niệm “Con người mới xã hội chủ nghĩa” và đưa ra phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm văn hóa”. 26/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 2. Đường lối, quan điểm về văn hóa của ta từ ngày thành lập Đảng đến Đề cương văn hóa 1943
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng ta do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập và ra đời. Những năm sau đó, dù phải hoạt động bí mật với muôn vàn gian khổ, hy sinh, năm 1943, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng vận dụng các quan điểm của Chủ nghĩa Mác, của Đảng ta và của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đã soạn thảo Đề cương Văn hóa Việt Nam (còn gọi Đề cương Văn hóa 1943). Lần đầu tiên Đảng Cộng sản Việt Nam nêu cương lĩnh văn hóa, nội dung, tính chất, tổ chức, định hướng phát triển của một cuộc cách mạng văn hóa chỉ có thể gắn với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và tương lai của nền văn hóa ấy sau khi cách mạng đã thành công. Đề cương Văn hóa Việt Nam (1943) xác định xây dựng nền văn hóa Việt Nam (bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật), “… sẽ do cách mạng dân chủ giải phóng thắng lợi mà được cởi mở xiềng xích và sẽ đuổi kịp văn hóa tân dân chủ thế giới”; khẳng định ba nguyên tắc: “Dân tộc hóa”; “Đại chúng hóa”; “Khoa học hóa”. “Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa)”, “Sự nghiệp văn hóa là của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng; khẳng định rõ “đảng tiên phong phải lãnh đạo văn hóa tiên phong”. Tính chất nền văn hóa mới Việt Nam: dân tộc về hình thức, tân dân chủ về nội dung. 26/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Khi xác định đặc trưng và bản sắc văn hóa Việt Nam, dù có những điểm nhìn khác nhau, thì nhiều người, nhiều giới đều dễ gặp nhau ở những điểm chung nhất. Đó là các phẩm chất yêu nước, thương nòi, đoàn kết, tôn kính tổ tiên, dũng cảm, tài trí, hiếu học, cần cù, ngay thẳng, tình nghĩa, hòa hiếu, khoan dung...
1. Truyền thống văn hóa vẻ vang của dân tộc Việt Nam
Do vị trí địa lý và các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội… trong suốt hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta phải đương đầu với nhiều thử thách do thiên tai, địch họa, nhất là các cuộc chiến tranh xâm lược từ bên ngoài. Truyền thống yêu nước, đoàn kết, bản lĩnh, cốt cách, phẩm giá dân tộc đã giúp chúng ta tồn tại vững vàng và phát triển mạnh mẽ. Quá trình đó cũng xây dựng, hun đúc, phát triển truyền thống văn hóa vẻ vang của dân tộc; bản sắc và sức sống mãnh liệt của văn hóa Việt Nam.
Khi xác định đặc trưng và bản sắc văn hóa Việt Nam, dù có những điểm nhìn khác nhau, thì nhiều người, nhiều giới đều dễ gặp nhau ở những điểm chung nhất. Đó là các phẩm chất yêu nước, thương nòi, đoàn kết, tôn kính tổ tiên, dũng cảm, tài trí, hiếu học, cần cù, ngay thẳng, tình nghĩa, hòa hiếu, khoan dung… Từ ngày có Đảng, nhất là từ khi đất nước ta thoát khỏi ách nô dịch của chế độ phong kiến, thực dân, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa, văn hóa Việt Nam cùng với các yếu tố đậm đà bản sắc dân tộc đã có, còn được bổ sung và phát triển thêm các phẩm chất mới mang tính tiên tiến. Tiên tiến về trình độ học vấn, về dân trí, trình độ khoa học và công nghệ; tiên tiến về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống; tiên tiến về sự kết hợp giữa hiện đại và truyền thống, giữa hình thức và nội dung; giữa văn hiến dân tộc và chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Bản sắc dân tộc về văn hóa là sự thống nhất trong tính đa dạng và phong phú của văn hóa các dân tộc, tôn giáo, vùng miền; là những phẩm chất được xây dựng, sáng tạo, chắt lọc, kế thừa, phát huy từ đời này sang đời khác, tạo nên sức sống mãnh liệt và bất diệt của dân tộc. 26/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Ngoại giao phải bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc
Ngoại giao là một mặt trận đấu tranh cực kỳ quan trọng, là một bộ phận không thể tách rời của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Tạo ra và sử dụng sức mạnh tổng hợp là phương pháp cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Xây dựng và phát huy sức mạnh tổng hợp của ngoại giao Việt Nam là một bộ phận quan trọng của phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh. Trong suốt 58 năm hoạt động cách mạng (1911-1969), Bác Hồ đã trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, phát triển và phát huy sức mạnh của ngoại giao nhân dân, đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước tạo nên sức mạnh tổng hợp của nền ngoại giao hiện đại Việt Nam. Nhận thức sâu sắc tư tưởng về phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh, khi tiến hành các hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế phải tiến hành đồng thời hoạt động của các “binh chủng” ngoại giao, các hình thức ngoại giao, phối hợp chặt chẽ các binh chủng, các lực lượng ngoại giao: ngoại giao Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ), ngoại giao Đảng (với các Đảng cộng sản, công nhân, các đảng cầm quyền, các đảng đối lập); ngoại giao nhân dân (với các đoàn thể, các tổ chức phi chính phủ, các cá nhân…), ngoại giao văn hóa, ngoại giao kinh tế, ngoại giao quốc phòng, an ninh… chủ động hội nhập quốc tế.
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, với tư cách là Chủ tịch chính phủ kiêm Bộ trưởng ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo công cuộc kháng chiến kiến quốc đồng thời Người rất coi trọng lãnh đạo chỉ đạo, tổ chức các hoạt động đối ngoại, vận động các nước lớn, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước láng giềng… công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và thiết lập quan hệ ngoại giao với họ. Bác Hồ rất quan tâm chỉ đạo Việt Nam tham gia nhiều tổ chức quốc tế và khu vực.
35 năm qua, dưới ánh sáng soi đường của tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và đoàn kết quốc tế, ngoại giao Việt Nam đã phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước, ngoại giao nhân dân, ngoại giao văn hóa, ngoại giao kinh tế, ngoại giao quốc phòng… làm tốt vai trò tiên phong trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, chủ động tích cực đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng; huy động nguồn lực to lớn từ bên ngoài phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên thế giới.
Hiện nay, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới yêu cầu mới nặng nề phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Để góp phần xứng đáng cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hoàn thành thắng lợi mục tiêu tổng quát của Đại hội Đảng lần thứ XIII quyết định: Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh toàn diện, củng cố tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp sức mạnh thời đại, đẩy mạnh toàn diện đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngoại giao Việt Nam trên cơ sở quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và đoàn kết quốc tế, triển khai đồng bộ, sáng tạo hiệu quả cao đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng hợp tác cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế!
-----------------------------------------------
[1] Tư tưởng Hồ Chí Minh và thời đại. Ban khoa học xã hội Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Xuất bản 1992. Trang 11.
[2] Sách đã dẫn. Trang 11
[3] Bác Hồ trong trái tim các nhà ngoại giao. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội 1999. Trang 213 26/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Phong cách nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và đoàn kết quốc tế - tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh được thể hiện thông qua hệ thống quan điểm, nguyên tắc, phương pháp, phong cách nghệ thuật ngoại giao sau:
- Quan điểm cơ bản - nền tảng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là: Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tất cả hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế phải xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc, đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết trước hết. Tất cả phải nhằm mục tiêu bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Không có gì quý hơn độc lập tự do!
- Không ngừng nâng cao thực lực của cách mạng để nâng cao sức mạnh và hiệu quả của hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn”. Tư tưởng ngoại giao rất quan trọng này đã xác định vị trí và mối quan hệ giữa xây dựng thực lực của cách mạng, xây dựng và phát huy sức mạnh của dân tộc với sức mạnh và hiệu quả của hoạt động ngoại giao. Trong mối quan hệ này, hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế là rất quan trọng, còn xây dựng thực lực cách mạng có ý nghĩa quyết định.
- Quan điểm coi ngoại giao là một mặt trận, mặt trận ngoại giao cần và có thể triển khai trên khắp thế giới và ngay tại hậu phương của đối phương, đối tượng do đó phải chủ động tiến công ngoại giao: “Tiến công ngoại giao là một tiến công quan trọng có ý nghĩa chiến lược”[3]. Tiến công ở đây là phải chủ động tiến công, phải chủ động lấy cái chính nghĩa, lấy cả nghĩa cả tình (Nghĩa, lý ở đây là chân lý, lẽ phải, là pháp lý, là sự thật…; tình ở đây là khát vọng hòa bình là tinh thần hòa hiếu, hòa giải, khoan dung…) để tiến công, để thuyết phục, để cảm hóa, để tranh thủ, lôi kéo, để tập hợp. Do đó chiến lược ngoại giao phải dựa trên bối cảnh quốc tế, nắm vững đối tác, đối tượng, dự báo đúng các xu hướng phát triển, các quy luật vận động của thế giới, chiến lược của các nước, nhất là các nước lớn, các khu vực, các tổ chức quốc tế, dự báo thời cơ để quyết định các chiến dịch tiến công ngoại giao. Cần xác định kịp thời từng nội dung, từng chính sách ứng xử linh hoạt, khôn khéo để đạt hiệu quả cao.
- Nguyên tắc định hướng mọi hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế là: Kiên định vững chắc về mục tiêu chiến lược đồng thời linh hoạt mềm dẻo về sách lược. Nguyên tắc ở đây cần kiên định đó là mục tiêu giành và giữ vững độc lập cho dân tộc, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ quốc gia (cả vùng đất, vùng trời, vùng biển), đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết trước khi tiến hành các hoạt động đối ngoại. Phải rất năng động, mềm dẻo trong thực hiện các phương châm, chính sách ngoại giao, biết nhân nhượng, thỏa hiệp có nguyên tắc, biết lợi dụng triệt để mâu thuẫn trong nội bộ của đối tượng để lôi kéo, phân hóa, cô lập tối đa đối tượng. Biết vận động thuyết phục, cảm hóa các Đảng phái, các tầng lớp nhân dân các nước đồng tình ủng hộ sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp kháng chiến, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Muốn thực hiện đúng đắn và hiệu quả nguyên tắc nêu trên khi tiến hành các hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế phải vận dụng nhuần nhuyễn phương châm: biết mình, biết người, biết thời, biết thế, biết tiến, biết thoái, biết nhu, biết cương, biết dừng và biết biến!
- Trong hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế phải xử lý tốt mối quan hệ giữa độc lập tự chủ, tự lực tự cường gắn liền với hợp tác quốc tế sẽ kết hợp tối ưu sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Đây là mối quan hệ cơ bản có tầm quan trọng hàng đầu trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Ngoại giao độc lập, tự chủ tự cường là một chuẩn mực đảm bảo quyền độc lập thực sự của một quốc gia. Độc lập tự chủ tự cường là “cái gốc”, “cái điểm mấu chốt” của mọi chủ trương, chính sách, là phương thức khơi dậy mọi nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Độc lập tự chủ trong ngoại giao không chỉ dừng lại ở việc chủ động hoạch định chính sách, biện pháp mà điều quan trọng hơn phải biết chủ động khai thác nội lực trên tinh thần tự lực, tự cường. Mặt khác, tự lực tự cường không đồng nghĩa với khép kín, đóng cửa, cô lập mà phải chủ động tăng cường mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác quốc tế. Bác Hồ từng chỉ rõ một trong những nguyên nhân suy yếu của các dân tộc phương Đông trong lịch sử là sự cô lập, là chính sách bế quan, tỏa cảng”. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Bác Hồ đã chỉ rõ: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, gắn bó mật thiết với phong trào cách mạng tiến bộ trên thế giới vì hòa bình, độc lập, tiến bộ xã hội. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ, tự cường đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đã được lịch sử hơn 90 năm của cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm. Đảng ta khẳng định đây là bài học kinh nghiệm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Xây dựng, phát triển và phát huy sức mạnh tổng hợp của ngoại giao Việt Nam là quan điểm tư tưởng rất quan trọng trong phương pháp cách mạng, phương pháp nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh. 26/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và đoàn kết quốc tế
Tìm hiểu, nghiên cứu tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh chúng ta không chỉ dừng ở việc nghiên cứu trước tác phẩm của Người trong toàn tập Hồ Chí Minh, Văn kiện Đảng toàn tập, mà một phương pháp rất quan trọng là chúng ta phải tìm hiểu, nghiên cứu các hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức và trực tiếp thực hiện các hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế của Người. JeanLacoutute (Giăng Lacutuya) một nhà lãnh đạo Đảng cộng sản Pháp đã có một nhận định rất sâu sắc: “Qua lăng kính tư tưởng của vị nguyên Tổng Bí thư Đảng cộng sản Đông Dương, kế đó là Đảng Lao động Việt Nam xuất hiện một hệ thống học thuyết hình thành bởi những hành động hơn bởi những từ ngữ.”[1]
Giáo sư Trần Văn Giàu đã khẳng định sự đúng đắn trong phương pháp tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh từ hành động: “Cụ Hồ là người chứng minh sự vận động bằng đi đứng”, thể hiện lý thuyết bằng hành động: “Xét cho cùng thì hành động, hành động trước sau như một, lắm khi còn trung thành, chân thật hơn là lời nói và câu văn”[2].
Tìm hiểu tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, tiếp cận từ các hoạt động trực tiếp của Người từ khi ra đi tìm đường cứu nước, trong thời kỳ hoạt động ở Pháp, Nga, Anh, Trung Quốc… (1911-1941) Bác đã có hàng loạt các hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế. Đó là các hoạt động tìm hiểu các dân tộc bị áp bức, bóc lột ở các thuộc địa, tìm hiểu các lực lượng tiến bộ trên thế giới, kể cả ở “mẫu quốc” chống lại chủ nghĩa thực dân, đế quốc…; tìm hiểu các thế lực phản động hiếu chiến trong giới cầm quyền của các nước đế quốc, nhất là đế quốc Pháp để hiểu chúng và phân hóa chúng; các hoạt động tuyên truyền, vận động tập hợp lực lượng quốc tế ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam.
Trong thời kỳ ở Pháp và Nga, các hoạt động đối ngoại của Bác Hồ và các đồng chí của Người đã tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của Đảng cộng sản Pháp, của Hội liên hiệp các tổ chức thuộc địa, của quốc tế cộng sản; các hoạt động thiết lập các mối quan hệ với các lãnh đạo phong trào cách mạng thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng. Thời kỳ hoạt động ở Trung Quốc, bằng các hoạt động ngoại giao khôn khéo của Bác và các đồng chí của mình, đã lợi dụng được chính quyền Quốc dân Đảng Trung Quốc, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ của Đảng cộng sản Trung Quốc, nên đã tổ chức ở Côn Minh. “Việt Nam dân chúng hưởng ứng Trung Quốc khẳng định hậu vận hội”, tạo thế hợp pháp cho các hoạt động cách mạng của ta. Tranh thủ chính quyền của Tưởng Giới Thạch để chúng ta lập “Việt Nam độc lập đồng minh hội Hải ngoại biện sự xứ” là cơ quan đại diện của mặt trận Việt Minh ở nước ngoài nhằm duy trì các quan hệ với quốc dân Đảng Trung Quốc và làm nơi liên lạc quốc tế của ta. Với cơ quan đại diện này, cách mạng Việt Nam đã bắt liên lạc được với các lực lượng cách mạng ở Trung Quốc và các nước Đông Nam Á.
Trình bày một số vấn đề trên đây giúp chúng ta đi tới một nhận thức: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và đoàn kết quốc tế hình thành và phát triển gắn chặt với toàn bộ hơn 60 năm hoạt động cách mạng của Người. Do đó khi nghiên cứu tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, chúng ta phải tiếp cận từ các bài viết, bài nói của Người, từ các văn kiện về đường lối, chính sách đối ngoại, đoàn kết quốc tế của Đảng và nhà nước ta, từ các tác phẩm của các học trò xuất sắc của Bác, từ các chiến sĩ cộng sản quốc tế, từ các chính khách, các nhân sĩ tri thức và bạn bè quốc tế viết và nói về Bác; và rất coi trọng tiếp cận các hoạt động trực tiếp của Bác khi Người tiến hành các hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế. Do đó tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về thế giới, về thời đại, về chiến lược sách lược về nghệ thuật ứng xử trong quan hệ quốc tế nhằm phục vụ thắng lợi sự nghiệp cách mạng trong từng thời kỳ tiến lên giành thắng lợi cho sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm Châu, là bạn với mọi quốc gia vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. 26/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Ngoại giao Việt Nam trên cơ sở quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và đoàn kết quốc tế, triển khai đồng bộ, sáng tạo hiệu quả cao đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa đa phương hóa quan hệ đối ngoại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của Đảng cộng sản Việt Nam và của dân tộc Việt Nam, người anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, danh nhân văn hóa kiệt xuất thế giới. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người đã để lại cho Đảng ta và dân tộc ta những di sản vô giá - đó là sự nghiệp giành độc lập cho dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu, là bạn với các quốc gia trên thế giới vì hòa bình độc lập, tiến bộ xã hội và Tư tưởng Hồ Chí Minh – cùng với chủ nghĩa Max-Lenin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và đoàn kết quốc tế - Tư tưởng Ngoại giao Hồ Chí Minh là một bộ phận rất quan trọng và đặc sắc trong hệ thống các quan điểm của Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Là người khai sinh ra nền ngoại giao của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh hình thành và phát triển gắn liền với toàn bộ sự nghiệp hoạt động cách mạng của Người. Trước hết tư tưởng đối ngoại và đoàn kết quốc tế của Người đã thể hiện nổi bật trong hệ thống các tác phẩm báo chí, các bức thư, các lời kêu gọi, các tác phẩm chính luận của Người. Các quan điểm đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển, hoàn thiện được thể hiện tập trung trong “Đường cách mệnh” (1927), Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt (1930), Chương trình 10 điểm của mặt trận Việt Minh (1944), Tuyên ngôn Độc lập (2.9.1945), thể hiện tập trung nhất trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong văn kiện Đại hội, Nghị quyết của Trung ương, nghị quyết của Bộ chính trị từ 1930 đến nay.