0 0 0 2 2 7 3 9 1 2
Đang online:
12
Hôm nay :
70
Hôm qua :
1,722
Tuần này :
9,802
Tuần trước :
9,324
Tháng này :
30,435
Tháng trước:
36,129
26/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 3. Xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc để giữ vững nền hòa bình của đất nước
Ý chí, quyết tâm: “Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!/ Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!/ Kháng chiến thắng lợi muôn năm!” trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh 75 năm trước, không chỉ có giá trị trực tiếp thể hiện, quy tụ và phát huy tinh thần đấu tranh bảo vệ nền độc lập, tự do, hòa bình của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, mà còn là kim chỉ nam, định hướng, chỉ đạo cho toàn thể nhân dân ta suốt 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai hòng xâm lược, chia cắt và thôn tính lâu dài đất nước ta; cũng như các cuộc đấu tranh bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ, biển, đảo của đất nước ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc trong những năm 1975 đến 1989.
Với khát vọng độc lập, tự do, thống nhất, hòa bình, vượt lên trên mưa bom, bão đạn, chiến tranh tàn phá, xâm lược, chia cắt, xâm lấn lãnh thổ và bao vây, cấm vận đối với Tổ quốc ta của các thế lực thực dân, đế quốc, bè lũ diệt chủng và bành trướng, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã luôn thực hành chủ trương “dựa vào sức mình là chính”, nêu cao tinh thần “tự lực, tự cường”, kháng chiến kết hợp với kiến quốc, vừa đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, vừa xây dựng đất nước giàu mạnh; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại… làm cho thế và lực của đất nước ngày càng lớn mạnh, phát triển không ngừng; sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, ngày càng thu được nhiều thắng lợi quan trọng, có ý nghĩa quyết định.
Trong công cuộc đổi mới, để giữ vững và bảo vệ nền độc lập, tự do, hòa bình lâu dài của đất nước, tư tưởng “hòa bình” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh thắp lên từ ngày đầu phát động nhân dân bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã luôn soi đường, chỉ lối cho Đảng ta, nhân dân và các lực lượng vũ trang ta tập trung vào thực hành và giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khát vọng hòa bình, ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ phá hoại, xâm lấn, xâm lược, bảo vệ vững chắc nền độc lập, tự do đất nước ta không chỉ được nuôi dưỡng, hun đúc, phát huy trong mọi tầng lớp nhân dân và các lực lượng vũ trang ta, mà còn được cụ thể hóa bằng những hành động, việc làm cụ thể trong xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh và hạnh phúc. Sau 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay; là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin son sắt để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững vàng bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Từ khát vọng hòa bình được nêu cao từ ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, cùng ý chí và tinh thần đấu tranh anh dũng, kiên cường bảo vệ nền độc lập, tự do của đất nước; tinh thần lao động, sáng tạo không ngừng, đạt được những thành tựu vĩ đại trong công cuộc đổi mới vừa qua của nhân dân và lực lượng vũ trang ta trong suốt 75 năm qua, đã tạo tiền đề vật chất và tinh thần vững chắc cho Đại hội XIII của Đảng xác định quan điểm chỉ đạo: Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường của dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước theo tầm nhìn và định hướng phát triển đến năm 2025, 2030 và 2045, đưa nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa…
Xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc đã trở thành mệnh lệnh từ mỗi trái tim của con người Việt Nam, và là con đường đúng đắn nhất để khẳng định, giữ vững, bảo vệ nền hòa bình lâu dài của đất nước./. 26/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 2. Muốn hòa bình, không chỉ biết nhân nhượng mà còn phải biết đấu tranh
Lịch sử về xây đắp nền hòa bình của dân tộc Việt Nam đã chứng minh: Muốn có hòa bình, dân tộc Việt Nam đã không chỉ biết nhân nhượng mà còn phải biết đấu tranh. Suốt chiều dài lịch sử đối đầu với các thế lực phong kiến phương Bắc hùng mạnh và tàn bạo nhất, các nhà nước, triều đại phong kiến Việt Nam đã luôn thực hành chủ trương nhân nhượng, đàm phán hòa bình để giữ vững và bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc. Hòa bình vừa là mục đích vừa là mưu lược, kế sách giữ nước lâu bền của các vương triều, nhà nước Việt Nam nhằm trì hoãn, ngăn ngừa chiến tranh xâm lược. Tuy vậy, nền hòa bình của Việt Nam không phải là một nền hòa bình nhu nhược, khiếp sợ, chủ nghĩa hòa bình thuần túy. Trái lại, nền hòa bình của Việt Nam là nền hòa bình dựa trên nguyên tắc giữ vững nền độc lập, tự do, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia - dân tộc của Tổ quốc. Bằng mưu lược, kế sách của mình, các triều đại, nhà nước trong lịch sử dân tộc Việt Nam đã luôn biết vận dụng nhiều phương thức, biện pháp đấu tranh có hiệu quả để bảo vệ vững chắc nền hòa bình, độc lập, tự do của Tổ quốc.
Trước mưu đồ quyết lập lại sự thống trị của thực dân Pháp tại Đông Dương và Việt Nam trong tuyên bố Prazzaville của tướng De Gaulle, ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tìm mọi cách thương lượng với thực dân Pháp để tránh một cuộc chiến tranh trở lại cho dân tộc Việt Nam và dân tộc Pháp. Hồ Chí Minh đã liên tiếp viết thư kêu gọi Chính phủ, Quốc hội, Thủ tướng Pháp và trực tiếp gặp những người đứng đầu quân đội Pháp ở Hà Nội để cứu vãn hòa bình. Đảng, Chính phủ ta và bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không bỏ qua bất cứ cơ hội nào để thương lượng, đàm phán giữ gìn hòa bình, kể cả ký Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp ngày 6/3/1946, rồi sang tận Pháp để ký với Chính phủ Pháp Tạm ước 14/9/1946… Nhưng suốt thời gian đó, quân Pháp vẫn đẩy mạnh các cuộc tiến công xâm lấn nhiều thành phố, thị xã quan trọng khắp từ Nam ra Bắc. Đặc biệt, Bộ Chỉ huy quân Pháp còn liên tiếp gửi hai tối hậu thư, đòi tước vũ khí của tự vệ ta, đòi chiếm Bộ Công an và tuyên bố quân Pháp sẽ tự mình đảm nhiệm trị an tại Hà Nội chậm nhất vào ngày 20/12/1946. Ngày 17/12, chúng đã gây hấn ở Thủ đô Hà Nội, bắn phá trụ sở tự vệ ta, thảm sát ở phố Yên Ninh, Hàng Bún; ngày 18/12 chúng chiếm Bộ Tài Chính, Bộ Giao thông công chính và ra sức khiêu khích nhiều điểm ở Thủ đô…
Với dã tâm và hành động phát động chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, không thể trì hoãn được nữa, Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bàn định rất kỹ càng, thận trọng để đi đến quyết định chấp nhận một cuộc kháng chiến trường kỳ, đấu tranh chống xâm lược, bảo vệ nền độc lập, tự do và hòa bình của dân tộc Việt Nam. Đêm ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Sáng ngày 20/12, Lời kêu gọi do Người đọc đã được phát đi, vang vọng trên sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam, thúc giục quân dân cả nước đồng lòng, chung sức đứng lên cứu Tổ quốc. Lời kêu gọi không chỉ thể hiện rõ tinh thần, khát vọng yêu chuộng hòa bình cháy bỏng, sự nhân nhượng tới mức giới hạn của nhân dân ta với thực dân Pháp, mà còn tỏ rõ ý chí, quyết tâm của toàn thể dân tộc Việt Nam sẵn sàng đứng lên đấu tranh bảo vệ nền hòa bình đó: “chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!”.
Dẫu nhân dân ta buộc phải bước vào cuộc kháng chiến với nhiều bất lợi, khó khăn chồng chất từ một nhà nước dân chủ nhân dân non trẻ, kinh tế kiệt quệ, lại bị bao vây, tiến công bởi nhiều kẻ thù, nhất là thế lực thực dân, quân đội Pháp hiếu chiến, xâm lược với vũ khí, súng đạn vượt trội hơn ta gấp nhiều lần, nhưng lại mang theo cả một truyền thống đấu tranh hào hùng của dân tộc, khí phách quật cường của người Việt Nam. Hào khí “Sát thát” của cha ông đã thắp sáng và thổi bùng lên bằng tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Thà chết không chịu làm nô lệ”... Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến này, nhân dân ta có được sự lãnh đạo, chỉ đạo bởi một bộ tham mưu tài giỏi là Đảng ta và một lãnh tụ tài tình là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với một đường lối vừa kháng chiến, vừa kiến quốc đúng đắn, phát huy cao độ nghệ thuật chiến tranh nhân dân của dân tộc lên một tầm cao mới; biết nêu cao ý chí tự lực, tự cường, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để giành chiến thắng từng bước, từng phần, tiến đến chiến thắng quyết định bằng chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, nhờ đó mà giành lại nền độc lập, tự do, hòa bình cho dân tộc ta…
Bài học về biết nhân nhượng và cũng biết đấu tranh trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã soi đường chỉ lối cho Đảng, Nhà nước, nhân dân và các lực lượng vũ trang ta không chỉ trong các cuộc kháng chiến, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước sau này, mà còn trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, nhằm giữ vững và bảo vệ nền hòa bình lâu dài của đất nước. 26/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Cách đây 75 năm, sáng ngày 20/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng, Chính phủ phát đi “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, phát động toàn dân tộc Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Lời kêu gọi của Người đã trở thành dấu ấn lịch sử, khẳng định khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nhân dân Việt Nam, trở thành phương châm chiến lược chỉ đạo con đường cách mạng tiến đến thực hiện khát vọng phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam ngày nay.
1. Hòa bình - khát vọng ngàn đời của dân tộc Việt Nam
Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, dựa trên tinh thần bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp 1791 và thực tiễn thành quả cách mạng là “nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Cộng hòa Dân chủ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng, Chính phủ lâm thời và toàn thể nhân dân Việt Nam đọc Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tuyên bố với thế giới rằng: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập”.
Với bản Tuyên ngôn đó, hòa bình của nhân dân và dân tộc Việt Nam đã được lập lại trên cơ sở vững chắc của nền độc lập, tự do mà nhân dân ta vừa giành được sau gần 100 năm đô hộ của thực dân, phát xít và phong kiến. Bản Tuyên ngôn còn khẳng định khát vọng hòa bình mà nhân dân Việt Nam đã đấu tranh, phấn đấu gìn giữ qua hàng ngàn năm lịch sử. Là một dân tộc nhỏ bé, để tồn tại và phát triển, dân tộc Việt Nam luôn thể hiện lòng dũng cảm, kiên cường, bất khuất, vượt qua biết bao cuộc chiến tranh xâm lược, cường bạo trong lịch sử. Từ buổi đầu dựng nước, với truyền thuyết Thánh Gióng, Nỏ thần Kim Quy, đến thời kỳ đấu tranh giành độc lập, khẳng định quyền tự chủ với bài thơ thần - Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, rồi đến Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi… đã không chỉ khẳng định nền độc lập, tự chủ và tự do mà còn sang sảng tuyên bố khát vọng hòa bình và chung sống hòa bình của dân tộc Việt Nam với các lân bang.
Tiếp nối khát vọng, phát huy truyền thống hòa bình của dân tộc, trước bối cảnh thực dân Pháp quyết thực hiện âm mưu chiến tranh xâm lược Việt Nam một lần nữa từ năm 1945 đến cuối năm 1946, đã buộc Đảng ta, Chính phủ ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh phải ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Tuy là lời phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược cho toàn thể dân tộc Việt Nam, nhưng lời kêu gọi ấy lại tỏa sáng khát vọng, ý chí hòa bình ngàn đời của dân tộc ta, nêu cao tinh thần chính nghĩa, giá trị nhân văn cao đẹp của người Việt Nam, đề cao tư tưởng tiến bộ của nhân loại và thời đại. Một lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến nhưng lại không có một ngôn từ nào thuộc về “chiến tranh”, “tiêu diệt”, “bắn giết” kẻ thù… Trái lại, nó hoàn toàn là những ngôn từ thể hiện tư tưởng hòa bình, chính nghĩa được nêu cao hơn bao giờ hết, mà trước hết là tư tưởng: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng”.
Chính những ngôn từ hòa bình trong Lời kêu gọi này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi dậy truyền thống, khát vọng hào hùng của dân tộc Việt Nam ta, cổ vũ tinh thần chiến đấu hy sinh giữ vững nền độc lập, tự do của toàn thể nhân dân, dân tộc Việt Nam; đồng thời, làm cho cộng đồng thế giới, nhân dân tiến bộ Pháp thấy được tính chất chính nghĩa và ủng hộ sự nghiệp kháng chiến, tham gia bảo vệ nền độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam; làm cho nội bộ các thế lực thực dân Pháp xâm lược và đế quốc can thiệp bị lên án, phân hóa, cô lập trên trường quốc tế; làm cho việc kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại của nhân dân Việt Nam ngày càng trở nên thuận lợi và được phát huy, tạo nên sức mạnh tổng hợp, tiến lên giành thắng lợi từng phần, tiến đến giành thắng lợi toàn cục và quyết định trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. 22/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Sự gặp gỡ như một tất yếu lịch sử
Nguyễn Ái Quốc đã đi một con đường hoàn toàn khác với những con đường các nhà cách mạng trước đó đã đi. Khi đó không chỉ có một mình Nguyễn Ái Quốc là người yêu nước, không chỉ có một mình Nguyễn Ái Quốc muốn cứu nước. Nhưng chỉ Nguyễn Ái Quốc tìm được con đường đúng đắn cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc khi đến với chủ nghĩa Lênin.
Đó là quyết định quan trọng thứ hai sau quyết định sang phương Tây tìm đường cứu nước - quyết định đưa cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam theo con đường của Cách mạng Tháng Mười.
Bắt đầu từ cuộc Cách mạng Tháng Mười và Luận cương của Lênin, sau đó tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc không chỉ "sáng tỏ", "tin tưởng" mà còn khẳng định rằng đó là chủ nghĩa "cách mạng nhất, chân chính nhất". Thế giới trong những năm 20, 30 của thế kỷ 20 còn có nhiều chủ nghĩa, nhiều học thuyết khác nhưng trong Đường Kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc sớm khẳng định cuộc cách mạng giải phóng của dân tộc Việt Nam sẽ đi theo con đường của chủ nghĩa Mác-Lênin, theo con đường Cách mạng Tháng Mười.
Người viết: "Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật... Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin"(4).
Tư tưởng yêu nước truyền thống cùng với khát vọng cứu nước của Nguyễn Ái Quốc khi ra đi tìm đường giải phóng dân tộc đã có thêm những yếu tố mới của thời đại và gặp Chủ nghĩa Mác-Lênin như một tất yếu. Sự gặp gỡ này phản ánh nhu cầu đang đặt ra của lịch sử là xác định một con đường đúng đắn cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc là người đảm nhận nhiệm vụ lịch sử này. Con đường này đã được khai mở từ quyết tâm tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh rồi được dòng ánh sáng tư tưởng của Lênin và hiện thực của cuộc Cách mạng Tháng Mười soi rọi.
---------------------------------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, H.2011, tập 15, tr 387.
(2) Những đoạn trích Luận cương... dẫn từ V.I.Lenin Toàn tập - Nxb Tiến bộ, Matxcova, 1977 (Tiếng Việt), tập 41, tr. 197 - 206.
(3) Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử , Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2006, tập 1, tr 112.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, H.2011 tập 2, tr 304. 22/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Tia sáng đầu tiên của dòng ánh sáng
Năm 1919, trong Đảng Xã hội Pháp nổ ra nhiều cuộc tranh luận sôi nổi về vấn đề: Nên ở lại Quốc tế II hay tham gia Quốc tế III? Quốc tế II bị chủ nghĩa sô-vanh làm tha hóa trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã không còn vai trò tiên phong và cách mạng. Quốc tế III (Quốc tế cộng sản) do V.I.Lênin sáng lập tháng 3/1919 tạo ra bước chuyển biến trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng như trong phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ 20. Cho đến khi nổ ra những cuộc tranh luận đó, Nguyễn Ái Quốc chưa đọc tác phẩm nào của V.I.Lênin. Điều Nguyễn Ái Quốc muốn biết nhất là Quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc?
Trong hai số liên tiếp ngày 16 và ngày 17/7/1920, báo L’Humanité (Nhân đạo) đăng Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa (Luận cương) của V.I.Lênin. Luận cương này sẽ được V.I.Lênin trình bày tại Đại hội II Quốc tế cộng sản họp từ ngày 19/7 đến ngày 7/8/1920. Đây là lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc được đọc một tài liệu đề cập trực tiếp và mạnh mẽ về những điều Người khát khao đi tìm.
Trong Luận cương của mình, V.I.Lênin vạch rõ rằng phải: "phân biệt thật rõ rệt những dân tộc bị áp bức, phụ thuộc, không được hưởng quyền bình đẳng, với những dân tộc đi áp bức, bóc lột, được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi, để đập lại sự lừa dối kiểu dân chủ tư sản đang che giấu việc tuyệt đại đa số nhân dân trên trái đất bị một thiểu số nhỏ bé những nước tư bản tiên tiến rất mực giàu có, nô dịch về mặt thuộc địa và tài chính, - sự nô dịch này là đặc điểm của thời đại tư bản tài chính và chủ nghĩa đế quốc" (Luận cương)(2).
Điều được V.I.Lênin nhấn mạnh trong Luận cương là phải xác lập mối quan hệ và tình đoàn kết đấu tranh trên thực tế giữa phong trào công nhân tại các nước tư bản với phong trào đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa, các nước chậm phát triển.
Theo V.I.Lênin: "điều quan trọng nhất trong chính sách của Quốc tế cộng sản về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa phải là làm cho vô sản và quần chúng lao động của tất cả các dân tộc và tất cả các nước gần gũi nhau để tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng chung nhằm lật đổ bọn địa chủ và giai cấp tư sản" (Luận cương). Bởi vì "...nếu không có chiến thắng đó thì không thể thủ tiêu được ách áp bức dân tộc và tình trạng bất bình đẳng" (Luận cương).
Cũng theo V.I.Lênin, nước Nga Xô-viết khi đó: "tập hợp chung quanh mình, một mặt là các phong trào của công nhân tiên tiến ở tất cả các nước ủng hộ nhà nước xô-viết; và mặt khác là tất cả các phong trào giải phóng dân tộc trong các thuộc địa và trong các dân tộc bị áp bức mà kinh nghiệm đau đớn đã làm cho họ tin chắc rằng đối với họ không có con đường cứu vãn nào khác ngoài sự chiến thắng của Chính quyền xô-viết đối với chủ nghĩa đế quốc thế giới" (Luận cương).
Luận cương của V.I.Lênin đã tạo cho Nguyễn Ái Quốc cảm xúc mạnh mẽ. Những luận điểm của V.I.Lênin về những vấn đề dân tộc và thuộc địa trong bối cảnh mới của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc trên toàn thế giới được luận giải trong Luận cương đã làm cho Người hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba.
Những luận điểm này đã giải đáp những băn khoăn, thắc mắc của Nguyễn Ái Quốc trước câu hỏi: Đứng về Quốc tế nào? Người đã có câu trả lời rõ ràng: Đứng về Quốc tế III của V.I.Lênin. Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy trong tư tưởng của V.I.Lênin sự ủng hộ và nguồn sức mạnh vươn tới cái đích của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Trong nửa cuối năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã "xông vào các cuộc tranh luận" trong Đảng xã hội Pháp ở Paris-như sau này Người kể lại. Với sự giúp đỡ của các đồng chí như Marcel Cachin, Paul Vaillant Couturier, Mongmusso... dần dần Nguyễn Ái Quốc đã có được những nhận thức cơ bản về chủ nghĩa Mác-Lênin. Những hoạt động thực tiễn và nghiên cứu lý luận đã rèn luyện thêm bản lĩnh chính trị của Nguyễn Ái Quốc.
Ngày 30/12/1920, tại Đại hội Tua, Nguyễn Ái Quốc là một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III(3). Từ thời điểm đó, Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên chính thức là một chiến sĩ đấu tranh cho lý tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong bóng tối dày đặc của chủ nghĩa thực dân, từ một người yêu nước nhiệt thành, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành một chiến sĩ cách mạng tiên phong, trở thành một người cộng sản. 22/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Bắt đầu từ cuộc Cách mạng Tháng Mười và Luận cương của Lênin, rồi sau đó tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã giải quyết được vấn đề lịch sử đặt ra trước đây đối với dân tộc Việt Nam là xác định một con đường đúng đắn cho cuộc đấu tranh tự giải phóng khỏi ách áp bức của chủ nghĩa thực dân.
Cuộc cách mạng có sức hấp dẫn lớn
Cuối năm 1917, khi Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp, Cách mạng Tháng Mười đã thành công. Cách mạng Tháng Mười mở ra một trang mới trong lịch sử nước Nga và thế giới, đánh dấu một xu thế phát triển xã hội mới. Một số nhà yêu nước, nhà cách mạng ở phương Đông khi đó tuy cũng bày tỏ mối thiện cảm với Cách mạng Tháng Mười như Tôn Trung Sơn (Trung Quốc), Phan Bội Châu (Việt Nam)... song không chọn đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười - chủ yếu vì họ chưa đánh giá đúng được tầm ảnh hưởng của cuộc cách mạng đó với cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc ở các nước phương Đông.
Chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành nhanh chóng nhận thấy đây là một biến cố lịch sử lớn, có sức lôi cuốn, thức tỉnh quần chúng vì lần đầu tiên nhân dân lao động lập được chính quyền của mình. Với bề dày trải nghiệm trong hoạt động thực tiễn và sự nhạy bén về chính trị, Nguyễn Tất Thành từ "nhận thức cảm tính", thông qua nghiên cứu sách báo, tài liệu đã có những nhận thức sâu hơn về Cách mạng Tháng Mười.
Cùng với sự nhận thức về "mười ngày rung chuyển thế giới" (chữ của John Reed viết về Cách mạng Tháng Mười, 1919) mở ra một thời đại mới, Nguyễn Ái Quốc còn nhận ra sự cần thiết đoàn kết cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc ở Đông Dương với cuộc đấu tranh của nhân dân đang bị áp bức ở các nước thuộc địa khác.
Nói về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười với các dân tộc thuộc địa, sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế"(1). 21/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nếu các đối thủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều có quân đội “nhà nghề”, được trang bị những vũ khí hiện đại thì Chủ tịch Hồ Chí Minh phải xây dựng quân đội cách mạng trong điều kiện bí mật và thiếu thốn về khí tài, vật dụng chiến tranh. Với phương châm “Người trước, súng sau”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa con người và vũ khí để từng bước nâng cao sức mạnh, sức chiến đấu của Quân đội cách mạng.
Sức mạnh của một quân đội luôn phụ thuộc vào 2 nhân tố cơ bản là con người và vũ khí, nhưng nếu con người biết làm ra vũ khí, biết lấy vũ khí của địch để đánh địch, biết cách phát huy cao độ công dụng của các loại vũ khí có trong tay thì vũ khí, dù có sức công phá đến mấy, vẫn chỉ là vật “vô tri, vô giác” do con người chế tạo, sử dụng.
Cho nên, con người phải là nhân tố quyết định, vũ khí là nhân tố quan trọng. Thiếu vũ khí, đặc biệt là vũ khí hiện đại, là đặc điểm của mọi phong trào kháng chiến ở Việt Nam. Vì thế, phát huy nhân tố con người là phương châm nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi xây dựng, rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam.
Chú trọng việc đào tạo cán bộ quân sự, từ khi hoạt động ở Trung Quốc (1925-1927), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử một số thanh niên xuất sắc trong tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên theo học ở Trường Quân sự Hoàng Phố. Nhiều người trong số họ sau này đã trở thành những vị tướng tài của Quân đội nhân dân Việt Nam như Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Lê Hồng Sơn…
Năm 1941, Hội nghị Trung ương 8 quyết định sẽ giành chính quyền bằng con đường khởi nghĩa vũ trang nhưng một số cán bộ vẫn băn khoăn: Sẽ lấy ở đâu vũ khí để khởi nghĩa? Người kiên trì giải thích: “Không sợ thiếu vũ khí. Chỉ sợ khi thời cơ đến lại thiếu người cầm vũ khí”; việc khẩn cấp bây giờ là phải xây dựng lực lượng vũ trang, đào luyện con người, mở rộng căn cứ địa. Khi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập, 34 người chiến sĩ đầu tiên được trang bị bằng “2 khẩu súng thập, 17 khẩu súng trường, vừa giáp năm, giáp ba, vừa khai hậu và súng tàu chế tạo, 14 khẩu súng kíp” (Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb CTQG, H, 2012, tr.144). Vũ khí không đồng nhất và rất thiếu thốn nên trong 10 lời thề danh dự của đội viên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân có lời thề “hết sức giữ gìn vũ khí, không bao giờ để vũ khí hư hỏng hay rơi vào tay quân thù”. Trong hoàn cảnh thiếu thốn nghiêm trọng về vũ khí, phát huy sức mạnh tinh thần, ý chí sáng tạo của người lính cách mạng là sự lựa chọn duy nhất đúng.
Nói đến quân đội, trước hết là nói đến những người lính trực tiếp chiến đấu. Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đào tạo những thế hệ cầm súng có lý tưởng cách mạng, dám “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” vì cho rằng, nếu không có động lực tinh thần thì “đại bác chỉ là một cục sắt”. Người yêu cầu các chiến sĩ “phải luôn phát triển cái kỷ luật nghiêm như sắt, cái tinh thần vững như đồng, cái chí khí quật cường tất thắng, cái đạo đức: Trí, dũng, liêm, trung”. Những người lính phải dày dạn kinh nghiệm chiến đấu, biết sử dụng thành thạo, linh hoạt các vũ khí có trong tay nên họ cần chăm chỉ học tập và rèn luyện kỹ năng tác chiến.
Chú trọng nhân tố con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất đề cao vai trò của đội ngũ tướng lĩnh và kiên trì đào luyện cho họ những phẩm chất “trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”. Người yêu cầu họ phải thương yêu, chăm sóc chiến sĩ theo tinh thần: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên... Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa đủ áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt”. Về mặt tình cảm, chính trị viên đối với chiến sĩ “phải thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn”. Có như vậy, chiến sĩ mới kính trọng và tuân lệnh của chỉ huy, trên - dưới mới một lòng hoàn thành nhiệm vụ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng việc rèn luyện cho đội ngũ quân nhân tinh thần chịu đựng gian khổ. Đây là điểm khác biệt lớn giữa quân đội đế quốc, quân đội đánh thuê và Quân đội nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đúc kết: “Lính Mỹ được trang bị rất đầy đủ, chúng có cả kẹo cao su để nhai cho ngọt miệng. Nhưng chúng thiếu một thứ vũ khí quan trọng nhất, chúng thiếu tinh thần”. Trong khi đó, những người lính của Quân đội nhân dân Việt Nam “chỉ cần nắm rau, bát cơm, tí muối là đánh được cả ngày”, chỉ cần “một dây ná, một cây chông cũng tiến công giặc Mỹ”. Chú trọng yếu tố tinh thần, coi trọng việc xây dựng nhân cách quân nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo cho quân đội ta sức mạnh kỳ diệu như khả năng vô tận của con người.
Mặt khác, với tư duy biện chứng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không phủ nhận vai trò của vũ khí và các phương tiện hiện đại để phục vụ chiến tranh. Thực tế cho thấy, chỉ khi sức mạnh tinh thần kết hợp với sức mạnh vật chất thì quân đội mới làm nên thắng lợi. Ngược lại, nếu không tìm cách tăng cường sức mạnh vật chất thì sức mạnh tinh thần dù lớn đến mấy, cũng dần kiệt quệ.
Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm mọi cách để quân đội có vũ khí. Trước hết, Người kêu gọi sự ủng hộ của nhân dân. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu phát động nhân dân đóng góp cho “Quỹ độc lập” để mua vũ khí chi viện cho miền Nam đánh Pháp và trang bị cho những đội quân Nam tiến. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, trong hoàn cảnh thiếu thốn nghiêm trọng về vũ khí, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”.
Với tinh thần tự lực cánh sinh, ngày 15/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh thành lập Phòng Quân giới thuộc Bộ Quốc phòng và trực tiếp chỉ dẫn việc tổ chức sản xuất và mua sắm vũ khí cho quân đội. Người đưa kỹ sư Phạm Quang Lễ, tức Trần Đại Nghĩa (1913-1997) từ Pháp về nước để đảm nhiệm chức vụ Cục trưởng Cục Quân giới Việt Nam. Việc ngành quân giới non trẻ Việt Nam đã chế tạo thành công đạn Bazooka để bắn xe tăng, súng SKZ, ĐKZ có khả năng tấn công lô cốt đã làm quân Pháp sững sờ, kinh ngạc.
Sau này, trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng các tuyến đường 559 và 759 để chuyên chở vũ khí vào Nam. Tóm lại, buộc phải tiến hành một cuộc chiến tranh không cân sức, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã giải quyết vấn đề vũ khí một cách rất linh hoạt theo nguyên tắc “có gì đánh nấy, tìm nguồn trang bị ngoài tiền tuyến, lấy vũ khí giặc diệt giặc, ra sức tự sản xuất lấy, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các nước anh em”. Sự sáng tạo, linh hoạt của quân và dân ta khi kết hợp tự lực và viện trợ, giữa vũ khí truyền thống và vũ khí hiện đại… đã từng bước hóa giải khó khăn về vũ khí để Quân đội nhân dân Việt Nam càng đánh càng mạnh, càng đánh thắng.
Thắng lợi của Quân đội ta trong các cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc là ví dụ vô song về sự toàn thắng của trí tuệ con người đối với vũ khí, máy móc. Những kỳ tích mà Quân đội nhân dân Việt Nam đạt được dưới sự rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi là thiên anh hùng ca về sức mạnh vô địch của con người. Phương châm “Người trước, súng sau”, phát huy động lực con người do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra không chỉ đắc dụng trong quá khứ mà vẫn là phương hướng để xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại và một số đơn vị tiến thẳng lên hiện đại. 21/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình hiện nay
Từ khi Đảng ra đời, do có đường lối đúng đắn và có sự gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng đã được nhân dân thừa nhận là Đảng duy nhất trong suốt tiến trình đi lên của cách mạng Việt Nam. Và lịch sử đã chứng minh, với sự lãnh đạo của Đảng và sự đồng lòng, đoàn kết của mọi tầng lớp nhân dân, dân tộc ta đã làm nên những thắng lợi vĩ đại, từ đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc đến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và ngày nay là đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới.
Kế thừa sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt những thập kỷ qua, Đảng ta đã không ngừng chăm lo xây dựng, chỉnh đốn cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Nghị quyết Trung ương 23, khóa III (tháng 12/1974) về xây dựng Đảng đã tạo sức mạnh, sự thống nhất ý chí, hành động của Đảng, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến toàn thắng. Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) là sự tự phê bình, phê bình nghiêm túc, một cuộc chỉnh đốn lớn để đi đến hoạch định đường lối đổi mới. Hội nghị Trung ương 3, khóa VII (tháng 6/1992) về đổi mới, chỉnh đốn Đảng đã góp phần quan trọng cho công cuộc đổi mới phát triển mạnh mẽ vượt qua thách thức của sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô…
Bên cạnh những kết quả, thành tích đã đạt được, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng cũng còn những hạn chế, khuyết điểm: một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, giảm sút ý chí chiến đấu, đặc biệt là sa vào chủ nghĩa cá nhân, vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước; công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên còn hạn chế. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch nhiều lần tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam, bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn nhằm kích động, lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh, chính trị trật tự an toàn xã hội; hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.
Nhận thấy rõ nhiều nguy cơ, Hội nghị Trung ương 4, khóa XI đã ban hành Nghị quyết Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; tiếp đến Hội nghị Trung ương 4, khóa XII tiếp tục ban hành Nghị quyết về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, thể hiện rõ quyết tâm chính trị, nhằm lập lại kỷ cương trong Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Và đến Hội Nghị Trung ương 4 khóa XIII, Trung ương Đảng đã ban hành Kết luận về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; và Quy định mới Về những điều đảng viên không được làm.
Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ tư, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: "Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn luôn là nhiệm vụ then chốt, đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, chế độ ta. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ này".
Đứng trước tình hình thế giới và trong nước đang tạo ra cả thuận lợi và thách thức đan xen, toàn Đảng ta tiếp tục kiên định lập trường, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hoá. Đồng thời, tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch, tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, nhằm nâng cao tinh thần, trách nhiệm, lãnh đạo đất nước thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập.
Theo TTXVN
---------------------------------------------
(1) (2): Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 2, tr. 289
(3): Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 5, tr. 620
(4): Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 15, tr. 622
(5): Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 9, tr. 521
(6): Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 5, tr. 301
(7): Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 6, tr. 16
(8): Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 14, tr. 168
(9): Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 5, tr. 279
(10): Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 11, tr. 612
(11): Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 11, tr. 603
(12): Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 5, tr. 502
(13): Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 5, tr. 335.
(14): Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 15, tr. 280
(15): Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 5, tr. 338 21/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Người nhấn mạnh cách mạng muốn thành công, trước hết phải tập hợp lực lượng cách mạng, muốn thức tỉnh dân tộc đi theo con đường cách mạng thì trước hết phải giác ngộ cách mạng cho thanh niên và từ thức tỉnh thanh niên để thức tỉnh dân tộc. Chính vì vậy, khi truyền bá tư tưởng cách mạng vào trong nước, Hồ Chí Minh đã chọn đối tượng đầu tiên là lực lượng thanh niên để phát triển phong trào cách mạng.
Ngày 5/6/1911 Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành từ Bến cảng nhà Rồng, đã ra đi tìm đường cứu nước với ý thức và khát vọng “cứu lấy nước ta, cứu lấy dân ta”. Lý tưởng, ước mơ cao cả đó cũng chính là khát khao chân chính của thế hệ trẻ Việt Nam khi đó. Quyết tâm giải phóng đất nước khỏi ách xâm lược của thực dân Pháp Người thanh niên ấy đã dành trọn tuổi thanh xuân bôn ba khắp năm châu, bốn biển để tìm con đường cách mạng và đã trở thành người Đảng viên cộng sản vào thời điểm lịch sử mà thế giới đang có nhiều trào lưu chính trị khác nhau, phải có tầm nhìn mang tầm thời đại thì mới nhận ra được con đường cách mạng chân chính. Tầm nhìn đó có được ở người thanh niên Việt Nam mang tên Nguyễn Ái Quốc.
Người quyết định tự mình đi tìm con đường giải phóng dân tộc nhưng làm sao để biến lý tưởng cháy bỏng đó thành ngọn lửa cách mạng. Từ trải nghiệm bản thân, Nguyễn Ái Quốc đã thôi thúc lòng quyết tâm ra đi tìm cứu nước để giải phóng dân tộc. Năm 1917, cách mạng tháng Mười Nga thành công như một luồng gió mới thổi vào phong trào cách mạng của các dân tộc trên thế giới, mở ra con đường đấu tranh cách mạng mới. Trước tình hình đó, tháng 6/1925, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tại Trung Quốc thu hút nhiều thanh niên yêu nước tham gia. Ở Cao Bằng, tiêu biểu có đồng chí Hoàng Đình Giong tham gia những ngày đầu thành lập. Trong những năm 1930 - 1940 phong trào ở Cao Bằng phát triển mạnh mẽ tiêu biểu ở các huyện: Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình. Trong thời gian này, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến quan trọng. Tháng 9/1939, chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, tháng 6/1940 Pháp đầu hàng phát xít Đức. Tháng 9/1940, Nhật nhảy vào Đông Dương, thực dân Pháp đầu hàng Nhật. Nhân dân Đông Dương nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng phải chịu hai tầng lớp áp bức bóc lột và không còn con đường nào khác chỉ có con đường đứng lên giải phóng dân tộc. Nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra, tiêu biểu như khởi nghĩa Nam Kỳ, khởi nghĩa Bắc Sơn...
Trước tình hình đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã về Tĩnh Tây, Trung Quốc để tiếp tục hoạt động cách mạng. Đầu năm 1941, tại thôn Nặm Quang - Tĩnh Tây, Người đã mở một lớp Huấn luyện chính trị ngắn ngày hơn 40 học viên. Lớp học ngắn hạn do chính lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giảng dạy, học lý thuyết tại nhà ông Hứa Gia Khởi, học thực hành ở ngoài rừng. Đây chính là lớp học đào tạo ra các đồng chí cán bộ chủ chốt để lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam sau này. Ngày 28/01/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã cùng 5 đồng chí cán bộ cách mạng của ta trở về Pác Bó, nơi có địa thế hiểm trở, núi non hùng vĩ, đặc biệt là đồng bào nơi đây có lòng yêu nước nồng nàn, được giác ngộ cách mạng từ rất sớm. Tại lán Khuổi Nặm với tư cách là đại diện Quốc tế cộng sản, Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (từ ngày 10/5 - 19/5/1941). Tham gia Hội nghị có các đồng chí: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên, Hoàng Quốc Việt… Hội nghị xác định cuộc cách mạng trước mắt là cách mạng giải phóng dân tộc. Để tập hợp và động viên các tầng lớp nhân dân đứng lên đánh đuổi phát xít Pháp - Nhật, Hội nghị quyết định thành lập Việt Nam đồng minh Hội (gọi tắt là Việt Minh) và các Hội cứu quốc trong đó có Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam. Hội nghị xác định: Việt Nam thanh niên cứu quốc Đoàn từ nay là Đoàn thể của tất thảy thanh niên từ 18 đến 22 tuổi muốn đấu tranh Pháp, đuổi Nhật”.
Tại Pác Bó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc liên tiếp mở nhiều lớp huấn luyện về tổ chức Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc. Người trực tiếp bắt tay thực hiện chương trình thí điểm hình thành mặt trận Việt Minh và tổ chức các đoàn thể cứu quốc tại các châu Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình. Sau ba tháng thí điểm tổ chức Việt Minh, số hội viên ở ba châu nêu trên có tới 2.000 người thuộc nhiều thành phần dân tộc. Có thể nói các sự kiện lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước và Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh đã phát triển tổ chức các đoàn thể cứu quốc, trong đó có Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam đã tạo ra bước nhảy vọt cho phong trào cách mạng Cao Bằng. Từ đầu năm 1941, theo chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, các cán bộ ưu tú của Đảng như: Vũ Anh, Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Thiết Hùng… đã đến Cao Bằng để giúp cán bộ và nhân dân Cao Bằng triển khai các nhiệm vụ do Trung ương đề ra.
Đối với việc tổ chức Đoàn Thanh nên Cứu quốc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chọn đồng chí Đàm Minh Viễn, một cán bộ Đoàn đã được dự lớp huấn luyện ở Tĩnh Tây hồi cuối năm 1940 mà Người biết được và giao cho trọng trách này. Anh Đàm Minh Viễn được Già Thu (bí danh của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lúc này) cho vào làm việc tại Pác Bó với Người. Việc đầu tiên là soạn thảo Điều lệ Đoàn Thanh niên Cứu quốc. Anh Đàm Minh Viễn đã căn cứ vào bản Điều lệ Việt Minh và Điều lệ của các tổ chức quần chúng khác để viết ra bản dự thảo đầu tiên và báo cáo với Già Thu. Già Thu đã trực tiếp sửa và giao cho đồng chí đoàn viên Bế Vân Trình viết lên bảng đá để in thành phiếu bản bằng giấy dó được bà con chế ra từ nguyên liệu tại địa phương. Bế Vân Trình là một học sinh tham gia hoạt động mạng, bị địch lùng bắt phải trở về địa phương. Từ khi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về ở và làm việc tại Pác Bó, anh được chọn vào giúp việc cho Già Thu về in ấn tài liệu. Anh và đồng chí Thế An phụ trách in báo “Việt Nam độc lập”. Đồng chí Đàm Minh Viễn đã mang bản điều lệ này tuyên truyền, giác ngộ một nhóm thanh niên đầu tiên ở xóm Nà Mạ cho các đồng chí khác như: Bát Ngư, Phục Quốc, Phục Hưng. Ngày 20/04/1941, chi đoàn thanh niên cứu quốc đầu tiên đã được thành lập ở vùng Nà Mạ - Pài Cốc do anh Đức Thanh làm bí thư. Từ nhóm đoàn viên đầu tiên này, công tác tuyên truyền, giáo dục về Đoàn ngày một phát triển, thu hút được nhiều thanh niên yêu nước tham gia. Tổ chức Việt Minh có mặt ở đâu thì ở đó có tổ chức Đoàn. Rất nhiều đoàn viên trước khi vào Đoàn đều được học tập cuốn “Việt Nam ngũ tự kinh” (chương trình, điều lệ của mặt trận Việt Minh được chuyển từ văn xuôi sang văn vần cho dễ nhớ) để đồng bào các dân tộc có thể truyền miệng cho nhau dễ dàng.
Tháng 11/1941 theo chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Đội du kích thoát ly đầu tiên của Pác Bó đã được thành lập tại Pài Co Nhản, gồm 12 đồng chí do đồng chí Lê Quảng Ba làm đội trưởng, đồng chí Lê Thiết Hùng làm chính trị viên. Trong đội du kích có rất nhiều đội viên trẻ là đoàn viên, thanh niên. Với nhiệm vụ là bảo vệ cơ quan lãnh đạo Đảng, bảo vệ cán bộ, làm giao thông liên lạc, vũ trang tuyên truyền, huấn luyện đội tự vệ. Đến cuối năm 1942, trong thanh niên có phong trào luyện tập quân sự tại các địa phương, cơ sở đoàn phát triển ở hầu hết các châu trong tỉnh. Tuy số lượng đoàn viên không đồng đều nhưng ở đâu có tổ chức Việt Minh thì ở đó có cơ sở đoàn Thanh niên Cứu quốc. Ngày 22/12/1942 Hội nghị cán bộ Đoàn thanh niên Cứu quốc đã bầu đồng chí Đàm Minh Viễn (bí danh Đức Thanh) làm bí thư tỉnh Đoàn. Đầu năm 1943 phong trào Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc được củng cố vững chắc trên địa bàn tỉnh ở các châu: Hạ Lang, Trùng Khánh, Phục Hòa, Thạch An, Bảo Lạc… Tỉnh Đoàn Cao Bằng chú trọng mở các lớp dạy văn hóa cho các cán bộ, đoàn viên, thanh niên, trong đội du kích Pác Bó có đồng chí Thế An, Nông Thị Trưng khi đó còn rất trẻ đã vinh dự được Già Thu trực tiếp dạy văn hóa tại Pác Bó để sau trở thành cán bộ vận động phụ nữ, thanh niên tham gia cách mạng. Tháng 8/1943, Đảng bộ huyện Hà Quảng đã tổ chức cuộc diễn tập quân sự tại xã Nà Sác với hơn 100 tự vệ tham gia. Sau đó một cuộc diễn tập lớn hơn tổ chức ở Hòa An có hơn 1.000 người tham gia, chủ yếu là đoàn viên thanh, thanh niên, phong trào cách mạng ngày một phát triển mạnh mẽ và quy mô. Đến cuối năm 1944, theo chủ trương của Đảng, Tổng bộ Việt Minh kêu gọi và phát động phong trào “Sắm sửa vũ khí đuổi thù chung”, tổ chức Đoàn thanh niên ở Cao Bằng nhiệt liệt hưởng ứng và coi đây là nhiệm vụ hàng đầu của mọi đoàn viên, thanh nhiên. Để xây dựng quân đội cách mạng, Bác ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Theo chỉ thị của Người vào hồi 17h ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam chính thức được ra đời tại khu rừng Trần Hưng Đạo thuộc xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Đội gồm có 34 chiến sĩ trong đó 25 chiến sĩ là con em các dân tộc tỉnh Cao Bằng. Đội do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm chỉ huy. Trong số đó có rất nhiều đồng chí còn rất trẻ như đồng chí Thế Hậu, đồng chí Liên… Chỉ sau hai ngày thành lập Đội đã giành chiến thắng giòn giã trong hai trận Phai Khắt và Nà Ngần.
Cách mạng tháng 8/1945 thành công, tuổi trẻ Cao Bằng với đội tiên phong chiến đấu của mình là Đoàn thanh niên kiểu mới đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ngay từ những ngày đầu về nước tại Pác Bó trực tiếp rèn luyện, lãnh đạo. Đoàn thanh niên luôn nêu cao tinh thần yêu nước, đi đầu trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, không quản ngại gian khổ, hy sinh xương máu, góp phần vào thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam./. 21/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh THỰC HÀNH VĂN HÓA HỒ CHÍ MINH
Đề cao văn hóa bổn phận, liêm chính. Luôn luôn suy nghĩ và đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải thấu triệt và thực hành hằng ngày, suốt đời bốn chữ “Chí công vô tư”; trăn trở và hành động theo nhân cách Hồ Chí Minh phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân, luôn nghĩ về ích quốc lợi dân, làm cho dân giàu, nước mạnh, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Đó cũng chính là văn hóa liêm chính, văn hóa đạo đức với ý nghĩa là gốc, nền tảng của cán bộ, đảng viên; là thước đo “trình độ người”, “chất người”, làm cho đất nước vững mạnh, trường tồn. Bởi vì “người mà không Liêm, không bằng súc vật”(3). Cán bộ, đảng viên không được dính líu gì với vòng danh lợi, mỗi ngày phải làm được việc tốt, có ích cho dân, cho nước. Cần phải lên án, loại bỏ những loại cán bộ chạy theo chức quyền, danh lợi, mua chức, bán quyền. Bởi vì cán bộ “cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”(4). Thực tế cho thấy “ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”(5).
Thực hành văn hóa nêu gương. Đối với người phương Đông, một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Văn hóa nêu gương còn là một khía cạnh thuộc phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền. Những câu nói của cha ông “thượng bất chính, hạ tắc loạn”, “nhà dột từ nóc dột xuống” chính là những lời răn dạy về việc người đứng đầu phải nêu gương. Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở rằng nói miệng ai cũng nói được, ta cần phải thực hành. Người chỉ rõ: “Nếu miệng thì tuyên truyền bảo người ta siêng làm, mà tự mình thì ăn trưa, ngủ trễ; bảo người ta tiết kiệm, mà tự mình thì xa xỉ, lung tung, thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích”(6). Những lời răn dạy của cha ông và trong di sản Hồ Chí Minh mang giá trị trường tồn như ý kiến của Tổng Bí thư trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Ông lưu ý tránh tình trạng: “Chân mình còn lấm bê bê, lại cầm bó đuốc đi rê chân người”; “cấp trên ở chẳng chính ngôi, cho nên ở dưới chúng tôi hỗn hào”(7). Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là những người lãnh đạo chủ chốt, đứng đầu phải là một tấm gương sáng theo tinh thần “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Đảng ta chỉ rõ sự gương mẫu của Trung ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Thực hành văn hóa nêu gương có giá trị bền vững, trường tồn.
Thực hành văn hóa phê và tự phê bình. Các nghị quyết về xây dựng Đảng những năm qua chỉ rõ tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức; vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao. Đây là một trong những nguyên nhân làm “Đảng hỏng”(8), giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng, suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, một nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng.
Tự phê bình và phê bình là một nguyên tắc, quy luật phát triển Đảng, một thang thuốc hay nhất để chữa các bệnh trong Đảng. Hồ Chí Minh hiện thân của văn hóa phê và tự phê bình. Khi Đảng có khuyết điểm, cách mạng gặp khó khăn, Người tự nhận “chỉ vì tôi tài hèn đức mọn, cho nên chưa làm đầy đủ sự mong muốn của đồng bào… Những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi”(9). Có lần Người nói: “Tôi làm điều xấu, các đồng chí trông thấy, phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay. Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, ở tinh thần, mà không nói cho người ta sửa tức là hại người”(10). Khuyến khích cán bộ “cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến”(11), phê bình Đảng, Chính phủ và người lãnh đạo chính là một khía cạnh rất quan trọng của văn hóa dân chủ. Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ trách nhiệm của mình trước Tổ quốc, nhân dân và Đảng trong việc rèn luyện văn hóa phê và tự phê bình. Theo tinh thần của Lênin, tiêu chuẩn của một đảng đúng đắn, chân chính cách mạng là không sợ bộc lộ khuyết điểm của mình, công khai thừa nhận sai lầm, vạch rõ nguyên nhân sai lầm, phân tích hoàn cảnh của sai lầm và kiên quyết sửa chữa sai lầm.
Từ cách tiếp cận dân là chủ, Đảng là đày tớ của dân, Hồ Chí Minh chỉ rõ cần phải hoan nghênh sự phê bình của dân. Phê bình càng rộng, chính sách, đường lối càng đúng, uy tín càng cao. Đừng sợ phê bình mà mất uy tín. Người viết: “Quần chúng tinh lắm, quần chúng biết phân biệt thật giả. Dân sợ mình thù mà không dám nói đó thôi. Càng tự phê bình trước dân chừng nào dân càng bằng lòng và phục mình chừng ấy”(12). Khơi dậy quyền làm, quyền nói của dân, “làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”(13) thì mới xây dựng được một Đảng vững mạnh.
Rèn luyện văn hóa ứng xử. Văn hóa là một kiểu quan hệ. Ở tầm vĩ mô, điều có ý nghĩa nhất, quan trọng nhất của văn hóa ứng xử là biết xử sự, xử thế một cách trí tuệ, bản lĩnh, sáng tạo trong cách mạng, đổi mới, chống lại những gì cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi, vì hạnh phúc của nhân dân. Trong cuộc sống lao động, học tập hằng ngày, mỗi cán bộ, đảng viên phải tu dưỡng tư cách của một người cách mạng thể hiện trong các mối quan hệ với nhân dân, với Đảng, với đồng sự, với công việc, với các hạng người khác, nhưng trước hết, hàng đầu, xuyên suốt là phải biết cách xử sự, xử thế với chính mình. Mình đối với mình phải “chính tâm tu thân” thành một người tử tế, đứng đắn thì mới “tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ”(14). Hồ Chí Minh chỉ rõ “tự mình không đánh thắng được khuyết điểm của mình, mà muốn đánh thắng kẻ địch, tự mình không cải tạo được mình, mà muốn cải tạo xã hội, thì thật là vô lý”(15). Chỉ có tự mình thành một người tốt thì mới có thể xử sự tốt với đồng bào, đồng chí, bạn bè; cương quyết và khôn khéo với kẻ địch./.
Phải làm cho văn hóa trở thành một yếu tố khăng khít của đời sống, của toàn bộ lĩnh vực hoạt động và ứng xử của con người. Chỉ có nhận thức dù sâu sắc đến mấy và nói thôi thì vẫn chưa là văn hóa. Chỉ khi nào nhận thức biến thành niềm tin, nếp sống, lối sống, hành động tự nhiên, thật sự hằng ngày thì mới trở thành văn hóa. Cán bộ, đảng viên phải nhận thức và rèn luyện theo tinh thần đó.
--------------------------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.3, tr.458.
(2) (15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.246, 82.
(3) (4) (5) (12) (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.127, 127, 127, 370, 130.
(6) (8) (10) (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.126, 301, 260, 319.
(7) Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.191-192.
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.293. 21/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay là nhờ sức mạnh văn hóa và con người Việt Nam, tỏ rõ hồn cốt, bản sắc, nét riêng, là “Made in Việt Nam”. Vậy nên hiện nay, để xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hùng cường, hạnh phúc, sải bước cùng thời đại, sánh vai với các cường quốc năm châu như tâm nguyện và khát vọng của Bác Hồ vĩ đại và của cả dân tộc, cần phải vun bồi văn hóa, đặc biệt là tu thân, rèn luyện theo văn hóa Hồ Chí Minh
Chưa bao giờ góc nhìn văn hóa lại được bàn luận sôi nổi như hiện nay. Cũng dễ hiểu bởi thực tiễn cho thấy, văn hóa là cái vẫn thiếu khi đã học tất cả; là cái còn lại khi đã quên đi tất cả. Văn hóa lâm nguy còn đáng sợ hơn Tổ quốc lâm nguy. Văn hóa còn thì dân tộc còn. Gần một thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt gần bốn mươi năm đổi mới, thành tựu và hạn chế của đất nước đều do việc có hay không nhận thức đúng đắn và thực hành văn hóa Hồ Chí Minh.
QUAN NIỆM VỀ VĂN HÓA MANG TẦM VÓC VỀ MỘT TUYÊN NGÔN
Cách đây 80 năm (tháng 9/1943), khi UNESCO chưa ra đời, trong bóng tối của nhà tù đế quốc, Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm về văn hóa mang tầm vóc một Tuyên ngôn. Cần nhận thức sâu sắc quan niệm này để rèn luyện, tu dưỡng theo văn hóa Hồ Chí Minh.
Về ý nghĩa của văn hóa
Văn hóa là chìa khóa, động lực của sự phát triển. Cách diễn đạt ngày nay có thay đổi so với trước, nhưng khi nói văn hóa là nền tảng của sự phát triển kinh tế - xã hội là nhằm khẳng định vai trò, sứ mệnh, ý nghĩa của văn hóa trong đời sống xã hội và loài người. 80 năm trước, Hồ Chí Minh đã viết về ý nghĩa của văn hóa thể hiện một tư duy mở đường, soi đường về sứ mệnh của văn hóa cho nhận thức và thực hành của chúng ta hôm nay. Người khẳng định vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra các lĩnh vực của văn hóa. Tinh thần này được nhắc lại ở một cách tiếp cận khác: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”(1). Chỉ mấy từ ngắn gọn, nhưng mãi 55 năm sau, Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (7/1998) mới đưa được nhận thức này vào nghị quyết. Từ đó đến nay, qua Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, Đại hội XIII và Hội nghị văn hóa toàn quốc (24/11/2021), nhận thức đó trở thành nhất quán, xuyên suốt và từng bước đi vào cuộc sống.
Về mối quan hệ giữa văn hóa với con người
Tiếng latinh Cutus (trồng) đi với hai từ khác có hai nghĩa: Cutus agri (trồng cây) và Cultus animi (vun bồi tinh thần). Với từ gốc đó, tiếng Anh và Pháp dùng Culture để chỉ văn hóa. Như vậy, văn hóa chứa đựng nội hàm “trồng người” mà sau này Hồ Chí Minh nói tới “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Quan niệm của Hồ Chí Minh chỉ rõ văn hóa là toàn bộ những sáng tạo và phát minh của con người, tức những giá trị vật chất, tinh thần và những sáng tạo, phát minh đó lại nhằm phục vụ cho cuộc sống con người. Quan niệm ngày nay, con người vừa là chủ thể (sáng tạo ra văn hóa), vừa là khách thể (thụ hưởng các giá trị văn hóa), đồng thời chuyển tải các giá trị văn hóa để truyền cảm hứng trong đời sống xã hội. Đảng ta nhấn mạnh tạo môi trường văn hóa để xây dựng con người và con người lại làm cho môi trường văn hóa ngày một tốt hơn. Nhiệm vụ quan trọng nhất của văn hóa là xây dựng con người.
Về loại hình của văn hóa
Cùng với ngôn ngữ, chữ viết, văn học, nghệ thuật, Hồ Chí Minh chỉ ra đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Cách tiếp cận của Hồ Chí Minh có mấy điểm quan trọng cần thấu triệt. Một là, cách nhìn của Người là cơ sở để chúng ta đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu các loại hình văn hóa khác nhau như văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa pháp luật, văn hóa tôn giáo, văn hóa văn nghệ…. Hai là, Người khẳng định khoa học, tôn giáo là những khía cạnh thuộc văn hóa, điều mà một thời gian dài nhận thức của chúng ta chưa thể vươn tới. Coi tôn giáo là một khía cạnh thuộc văn hóa đã khẳng định một cách rõ ràng quan điểm của Đảng về tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân tộc và mọi người có thể theo hay không theo một tôn giáo nào; đồng thời cũng tạo ra một sức mạnh nội sinh quan trọng khi tâm linh của con người được chú trọng và vun bồi. Ba là, văn hóa thể hiện ở phương thức sử dụng, ẩn chứa trong đó có mối quan hệ giữa văn hóa và văn minh, điều mà ngày nay vẫn còn có sự lẫn lộn. Văn minh không đồng nhất với văn hóa. Văn minh nghiêng về trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật, còn văn hóa là nét riêng, một kiểu quan hệ, ứng xử. Không phải cứ trình độ văn minh cao là đi kèm văn hóa cao. Vấn đề ở chỗ con người sử dụng trình độ phát triển của văn minh như thế nào thì đó là thước đo trình độ văn hóa. Một đảng trở thành đảng cầm quyền được hiểu là đạt tới một trình độ văn minh về chính trị, nhưng phương thức sử dụng quyền lực đó như thế nào lại thuộc phạm trù văn hóa chính trị. Nhìn từ hôm nay, cụm từ “phương thức sử dụng” có ý nghĩa lớn trong văn hóa giao tiếp, ứng xử, xử sự, xử thế và quan hệ giữa con người với con người, xã hội và thiên nhiên.
Về mối quan hệ giữa văn hóa với chính trị, kinh tế, xã hội
Một trong những hạn chế, khuyết điểm Đảng ta nhắc đến trong các nghị quyết gần đây là còn nặng tư duy “duy kinh tế”, chạy theo tăng trưởng đơn thuần, coi văn hóa như “cái đuôi” của kinh tế; chưa thấy rõ mối quan hệ, tác động biện chứng giữa văn hóa với kinh tế, chính trị, xã hội, điều mà 80 năm trước, Hồ Chí Minh đã nêu lên cũng là bốn trụ cột để một đất nước phát triển mà UNESCO nhấn mạnh. Trong năm điểm lớn xây dựng nền văn hóa dân tộc, Hồ Chí Minh đặt xây dựng tâm lý của dân tộc với lõi cốt là tinh thần độc lập tự cường lên hàng đầu. Đây là cách tiếp cận đặc biệt và mới mẻ cho thấy ý nghĩa, vai trò, sức mạnh của tâm lý dân tộc. Một dân tộc không nuôi dưỡng, vun bồi và đặt lên hàng đầu khát vọng độc lập tự cường thì không làm nổi việc gì. Tâm lý độc lập tự cường của dân tộc trong văn hóa Việt Nam từ Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, có ý nghĩa quyết định thắng lợi trong đấu tranh giải phóng dân tộc, làm rạng rỡ lịch sử, vẻ vang giống nòi. Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, tâm lý dân tộc phải được coi là tiêu chí, thước đo hàng đầu của văn hóa dân tộc. Trong Đề cương về văn hóa Việt Nam (năm 1943) và Báo cáo Chính trị do Hồ Chí Minh đọc tại Đại hội II của Đảng (2/1951) đều nói tới ba nguyên tắc của nền văn hóa mới là dân tộc, khoa học, đại chúng. Ngày nay, chúng ta bàn tới việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nội hàm của hai chữ “dân tộc” không có gì sâu sắc bằng lòng yêu nước, tinh thần độc lập, tự cường.
Sau xây dựng tâm lý là xây dựng luân lý (đạo đức) và xây dựng xã hội. Đây là những lĩnh vực thuộc về kiến trúc thượng tầng liên quan tới văn hóa chính trị, nhân cách văn hóa của con người nói chung, của cán bộ, đảng viên nói riêng, mà quan trọng nhất là biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng. Một nền văn hóa đích thực, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, khoa học, hướng đến chân - thiện - mỹ là phục vụ quần chúng, vì lợi quyền và gắn bó mật thiết với nhân dân; mọi sự nghiệp liên quan tới hạnh phúc và lợi ích của nhân dân trong xã hội.
Hồ Chí Minh bàn đến xây dựng chính trị mà hạt nhân là dân quyền. Một nền chính trị dân quyền được đặt trong văn hóa nêu lên cách đây 80 năm khi chính quyền chưa về tay nhân dân là một suy nghĩ độc đáo, sâu sắc, vừa có ý nghĩa tạo động lực cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, vừa mang tầm chiến lược lâu dài, soi đường cho phát triển. Quan điểm về dân quyền sau này được Hồ Chí Minh nói tới nhiều như quan tâm dân sinh, nâng cao dân trí, thực hành dân chủ và ngày nay được Đảng ta coi là một trong những chìa khóa của sự phát triển đất nước.
Sau cùng là xây dựng kinh tế. Đây không chỉ là câu chuyện về mối quan hệ tác động qua lại, gắn bó mật thiết giữa văn hóa với chính trị, xã hội, kinh tế, mà còn cho thấy muốn phát triển văn hóa phải xây dựng kinh tế và kinh tế với ý nghĩa là cơ sở hạ tầng, bệ đỡ, nền tảng của thượng tầng kiến trúc gồm tâm lý, đạo đức, chính trị, xã hội. Từ di sản Mác - Lênin, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và văn hóa. Theo Người, cơ sở hạ tầng có kiến thiết rồi thì kiến trúc thượng tầng mới phát triển được. Trong điều kiện cụ thể của nước ta, một nước bị chế độ phong kiến chuyên chế hàng ngàn năm đè nén và gần một thế kỷ bị chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nô dịch, kìm hãm trong vòng ngu dốt theo phương châm “làm cho dân ngu dễ trị”, Hồ Chí Minh sau này nói rõ hơn, sau khi giành được độc lập tự do, có lẽ phải đặt văn hóa lên hàng đầu để xây dựng con người, phát triển khoa học - kỹ thuật, tạo nguồn lực cho phát triển đất nước. Theo Người, “văn hóa không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”(2).
Văn hóa với hạt nhân là tâm lý, đạo đức, tư tưởng chính trị trong cách nhìn của Hồ Chí Minh là thước đo, sự thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn mà theo UNESCO thì “sự thăng hoa của văn hóa là đỉnh cao nhất của sự phát triển”. Hiện nay, nhận thức đó không phải đã thấm sâu vào từng người, từng cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo, quản lý, đứng đầu; thấm vào tổ chức, cơ quan, đơn vị, đoàn thể, thôn bản; thấm vào gia đình, xã hội để biến thành niềm tin, thói quen, lối sống; thành hành động thực sự, hiệu quả hằng ngày. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải được nhận thức sâu sắc và hành động thực sự.
Đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay là nhờ sức mạnh văn hóa và con người Việt Nam, tỏ rõ hồn cốt, bản sắc, nét riêng, là “Made in Việt Nam”. Vậy nên hiện nay, để xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hùng cường, hạnh phúc, sải bước cùng thời đại, sánh vai với các cường quốc năm châu như tâm nguyện và khát vọng của Bác Hồ vĩ đại và của cả dân tộc, cần phải vun bồi văn hóa, đặc biệt là tu thân, rèn luyện theo văn hóa Hồ Chí Minh. 20/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam
Những năm tháng sống ở Thủ đô Pari của nước Pháp, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào công nhân và Đảng Xã hội Pháp. Tuy nhiên, như sau này Người nói: “Tôi biết rất ít về các vấn đề chính trị, nhưng tôi muốn Tổ quốc tôi được giải phóng… Vì vậy, tôi tham gia Đảng Xã hội. Tôi biết rất ít về Cách mạng Tháng Mười và về Lênin; về cảm tính tôi thấy mình có mối tình đoàn kết với cuộc Cách mạng Nga và người lãnh đạo cuộc cách mạng ấy” (6). Khi ở Pari, Người được biết tin cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga đã nổ ra, nhưng do bọn đế quốc bưng bít tin tức, cho nên cũng như những người bạn Pháp, Người chưa biết rõ và cũng chưa hiểu hết được ý nghĩa thời đại của cuộc cách mạng ấy. Tình trạng đó được V.I. Lênin chỉ rõ: "Ở nước ngoài, người ta biết rất ít, ít đến kinh khủng, ít đến nực cười về cuộc cách mạng của chúng ta. Ở đấy, chế độ kiểm duyệt quân sự không cho một tý gì lọt qua cả" (7). Nhưng với sự nhạy bén chính trị và nhiệt tình cách mạng, Nguyễn Ái Quốc biết đó là cuộc cách mạng tiến bộ và Người có ý định đi Nga. Người ủng hộ Cách mạng Tháng Mười bằng việc tham gia cuộc vận động nhân dân Pháp quyên góp giúp đỡ nhân dân Nga vượt qua nạn đói, phân phát lời hiệu triệu của Đảng Xã hội Pháp kêu gọi nhân dân Pháp chống lại cuộc can thiệp vũ trang của các nước đế quốc vào nước Nga Xô viết. Tham gia vào những hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc tìm thấy vũ khí sắc bén để đấu tranh, đó là viết bài đăng báo. Những bài báo đầu tiên của Người đăng trên báo L''Humanité, Le Paria, Le Populaire và một số báo khác, đều tập trung vào việc lên án chủ nghĩa thực dân, thực trạng bị áp bức, bóc lột ở các nước thuộc địa, phụ thuộc. Thông qua những hoạt động thực tiễn ấy mà nhận thức "cảm tính" của Nguyễn Ái Quốc về Cách mạng Tháng Mười, về nước Nga Xô viết và về Lênin ngày càng được củng cố, nâng cao.
Tháng 3/1919, Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản) do Lênin tổ chức, tuyên bố thành lập. Từ sau sự kiện đó, trong Đảng Xã hội Pháp diễn ra cuộc đấu tranh ngày càng gay gắt giữa những người cách mạng ủng hộ đường lối của Quốc tế III và những kẻ bảo vệ Quốc tế II đang bị bọn cơ hội lũng đoạn. Ban lãnh đạo của Đảng Xã hội Pháp chủ yếu nằm trong tay bọn cơ hội, chi phối tư tưởng và thái độ chính trị của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các đảng viên Đảng Xã hội, làm hạn chế ảnh hưởng của Quốc tế III đối với phong trào cách mạng Pháp. Tuy nhiên, xu hướng cộng sản, ủng hộ đường lối của Quốc tế III vẫn hình thành và phát triển. Tháng 4/1919, Đại hội bất thường của Đảng Xã hội Pháp họp ở Pari, những người ủng hộ Quốc tế III đề nghị Đại hội thảo luận và quyết định Đảng chính thức tham gia Quốc tế III. Nhưng đề nghị không được chấp nhận do sự phản ứng quyết liệt của bọn cơ hội trong Đảng. Đến tháng 2/1920, Đại hội lần thứ XVII Đảng Xã hội Pháp họp ở Xtrátxbua, khi bỏ phiếu quyết định rút ra khỏi Quốc tế II, có đa số phiếu thuận, thiểu số phiếu chống. Khi bỏ phiếu tham gia Quốc tế III thì thiểu số phiếu thuận, đa số phiếu chống. Tình hình đó phản ánh sự đấu tranh gay gắt trong Đảng Xã hội Pháp giữa lập trường của Quốc tế III và Quốc tế II, đồng thời lôi cuốn sự chú ý theo dõi của đông đảo nhân dân Pháp.
Diễn biến của các cuộc đấu tranh trên đây tác động đến Nguyễn Ái Quốc. Tuy chưa hiểu hết thực chất các sự kiện trước những sự biến chính trị, Người cũng tham gia vào cuộc đấu tranh theo quan điểm và nhận thức của mình. Hầu hết trong các buổi mít tinh, thảo luận, Người đều phát biểu và khéo lái những vấn đề đang thảo luận sang vấn đề dân tộc và thuộc địa. Vì như Người nói: "Trong các cuộc bàn cãi, người ta rất ít nói đến sự đoàn kết với các dân tộc thuộc địa. Nhưng đó lại là vấn đề mà tôi quan tâm hơn hết". Mặc dù "nhức đầu vì khó hiểu", nhưng trong các buổi sinh hoạt Đảng Xã hội, Người đều nêu câu hỏi: "Ai khẳng định rõ ràng là mình đoàn kết với các dân tộc bị chủ nghĩa thực dân áp bức? thì người ta trả lời: Quốc tế III" (8). Điều băn khoăn, trăn trở và quan tâm hơn cả bấy lâu nay của Người đã được giải đáp, đó là "phải đoàn kết với các dân tộc thuộc địa”. Sau khi được biết Quốc tế III ủng hộ và đoàn kết với các dân tộc thuộc địa và nhất là được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo L''Humanité ngày 16 và ngày 17/7/1920, lần đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc nhận biết một tổ chức quốc tế ủng hộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng các dân tộc bị chủ nghĩa thực dân áp bức và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn. Bởi vì, Luận cương của Lênin đã giải quyết trọn vẹn một vấn đề rất cơ bản mà Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm là vấn đề dân tộc và thuộc địa được đặt trong mối quan hệ quốc tế, chỉ ra con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa. Luận cương tạo ra bước chuyển biến căn bản trong nhận thức tư tưởng về vấn đề bạn đồng minh, về xác định kẻ thù, giúp Người đi đến khẳng định: “Muốn cứu nước giải phóng dân tộc không có con đường nào khác, con đường cách mạng vô sản”.
Sự kiện chính trị quan trọng thu hút sự quan tâm chú ý của Nguyễn Ái Quốc là Đại hội lần thứ II của Quốc tế III. Theo dõi các văn kiện của Đại hội, Người tâm đắc với 21 điều kiện kết nạp vào Quốc tế III, đặc biệt là điều thứ 8, rằng: "Vấn đề thuộc địa và dân tộc bị áp bức, thì các đảng trong các nước mà giai cấp tư sản có thuộc địa và áp bức các dân tộc khác phải có một đường lối đặc biệt rõ ràng, minh bạch. Đảng nào muốn gia nhập Quốc tế III đều buộc phải thẳng tay vạch mặt những thủ đoạn xảo trá của bọn đế quốc nước mình trong các thuộc địa, ủng hộ trên thực tế, chứ không phải bằng lời nói mọi phong trào giải phóng ở thuộc địa" (9). Điều đó tạo niềm tin của Nguyễn Ái Quốc vào Lênin, vào Quốc tế III, và biểu thị thái độ chính trị và quan hệ xã hội đúng đắn trong cuộc đấu tranh cách mạng hoá Đảng Xã hội Pháp.
Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc đại diện của Đông Dương, đồng thời là đại biểu duy nhất phát biểu về vấn đề thuộc địa. Phát biểu tại Đại hội, với những lời xúc động sâu sắc, sau khi lên án chế độ thống trị tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương, Người yêu cầu Đảng phải đoàn kết, ủng hộ cách mạng thuộc địa, rằng: "Tôi đến đây là để cùng với các đồng chí góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới... Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước thuộc địa". Lời phát biểu ngắn gọn của Người đã quán triệt tư tưởng chiến lược của Lênin về quan hệ giữa cách mạng chính quốc và cách mạng thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Khi Đại hội biểu quyết, Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III và tham gia quá trình thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Quyết định sáng suốt đó của Nguyễn Ái Quốc phù hợp với trào lưu phát triển của lịch sử nhân loại, là sự kiện có ý nghĩa to lớn. Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới hiện đại, một đại biểu của dân tộc Việt Nam tham gia sáng lập đội tiền phong của giai cấp công nhân ở một nước đế quốc lớn đang áp bức dân tộc mình. Bằng việc làm đó, Nguyễn Ái Quốc nêu cao ngọn cờ đoàn kết quốc tế và ngọn cờ giải phóng dân tộc.
Được Luận cương của V.I. Lênin và đường lối của Quốc tế III soi sáng, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào công nhân và Đảng Cộng sản Pháp, sau đó, công tác tại Quốc tế III trên đất nước Liên Xô. Đến đây, ở Người, về cơ bản hình thành hệ thống luận điểm có tính lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc đi theo con đường cách mạng vô sản; về chủ nghĩa thực dân, đế quốc; về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc; về khả năng thắng lợi trước của cách mạng thuộc địa; về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; về vị trí, vai trò của giai cấp công nhân trong cách mạng; về chủ nghĩa xã hội, v.v.. Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và Quốc tế III, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam đi vào quỹ đạo của cách mạng xã hội chủ nghĩa và có ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại.
---------------------------------
1. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh: Bác Hồ thời niên thiếu, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1981, tr.51.
2. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1984, tr.13.
3. A. Lui Stơrông: Ba lần nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Báo Nhân Dân, ngày 19-5-1965.
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.1, tr.46, 287.
6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.583.
7. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, t.36, tr.636.
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.584.
9. Hồng Hà: Thời thanh niên của Bác Hồ, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1976, tr.98. 20/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Hoạt động trong phong trào công nhân và nhân dân lao động quốc tế
Xuống tàu vượt trùng dương, Nguyễn Tất Thành chấp nhận cuộc sống của người lao động làm thuê. Đối với anh, đó chỉ là phương tiện nhằm thực hiện mục đích đã đặt ra. Động cơ thúc đẩy Người ra đi là tìm một giải pháp mới cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, trước hết là nước Pháp, nước có cuộc Cách mạng 1789 và Công xã Pari điển hình, nhưng cũng là nước đẻ ra chế độ thực dân đang thống trị Tổ quốc của anh. Đó là mục tiêu trực tiếp của chặng đầu cuộc hành trình của Nguyễn Tất Thành. Muốn "trở về giúp đồng bào" thì trước hết phải hiểu thật kỹ kẻ thù áp bức dân tộc mình, nhất là trên mảnh đất đã sản sinh ra nó, đồng thời phải tìm ra con đường cứu nước, cứu dân đúng đắn theo đường hướng mới. Sự khác biệt giữa Nguyễn Tất Thành với những người ra nước ngoài hồi ấy là ở chỗ đó.
Trong cuộc hành trình này, Nguyễn Tất Thành có điều kiện ghé qua các châu lục, được tiếp xúc ngay với công nhân, những người lao động ở những nơi đi qua. Đến đâu, Người cũng thấy hai cảnh tượng trái ngược nhau, một bên là cuộc sống khổ cực của người dân, một bên là cuộc sống xa hoa của bọn đế quốc, thực dân. Bước đầu, Người hiểu được đời sống giai cấp công nhân, nhân dân lao động, và xác định chỗ đứng của Người trong giai cấp cần lao.
Đặc biệt, trong cuộc khảo sát có một không hai này, Nguyễn Tất Thành dừng chân lâu ở 3 nước đế quốc lớn nhất thời đó là Mỹ, Anh, Pháp; có điều kiện tìm hiểu, nghiên cứu cuộc Cách mạng Mỹ năm 1776, cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước chống chủ nghĩa thực dân. Từ đó, Người rút ra những nhận xét chính xác, như sau đó không lâu, Người viết trong tác phẩm Đường cách mệnh, rằng Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp tuy nêu cao khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, nhưng không đưa lại tự do, bình đẳng, bác ái thật sự, tiếng là cộng hòa, dân chủ, nhưng thực chất là tước đọat quyền lợi của công nông trong nước và bên ngoài thì áp bức các dân tộc thuộc địa. Tuy Người khâm phục ý chí giành độc lập, tư do của nhân dân Mỹ, tinh thần đấu tranh của nhân dân Pháp, nhưng Người cho rằng, đó “đều là cách mệnh tư sản, cách mệnh không đến nơi”. Đồng thời, Người còn cho rằng, việc giải phóng các dân tộc bị áp bức không thể đi theo con đường của cách mạng Mỹ và Pháp, mà phải đi theo con đường khác. Nhận xét đó xuất phát từ tinh thần yêu nước và lập trường giai cấp vô sản.
Thực tiễn khảo sát khắp các châu lục trong thập niên thứ hai của thế kỷ XX, Nguyễn Tất Thành đã đặt mình vào chỗ đứng của giai cấp cần lao chiếm số đông ở khắp trên thế giới, đồng thời cũng thấy rõ bộ mặt thật của số ít bọn người bóc lột tập trung ở các nước đế quốc. Từ đó, Người rút ra những kết luận quan trọng: Ở đâu bọn đế quốc cũng dã man, tàn bạo, ở đâu giai cấp công nhân, những người lao động cũng bị áp bức, bóc lột nặng nề, để vào năm 1924, Người đã viết: "Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản" (5). Cũng từ thực tiễn đó đã bồi đắp quan điểm nhân văn, ý thức về sự cần thiết phải đoàn kết những người bị áp bức trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Đến đây, Người đã xác định rõ ràng được rằng, sự áp bức giai cấp, áp bức dân tộc có chung một nguồn gốc là chủ nghĩa đế quốc, thực dân, các dân tộc bị áp bức phải đoàn kết đứng lên đấu tranh mới có thể giành được thắng lợi trong công cuộc giải phóng.
Nguyễn Tất Thành là người muốn độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Dịp tốt đã đến, tháng 1/1919, Hội nghị "Hòa bình" họp ở Vécxay, Nguyễn Tất Thành theo dõi diễn biến của Hội nghị, đồng thời anh quyết định thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước ở Pháp gửi Bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm đến Hội nghị đòi tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam và ký tên Nguyễn Ái Quốc. Bản Yêu sách đăng trên báo L''Humanité và một số báo khác. Lần đầu tiên, vấn đề tự do, dân chủ của nhân dân Việt Nam được đặt ra với một hội nghị quốc tế. Nhưng Hội nghị Vécxay là nơi bọn đế quốc chia nhau khu vực ảnh hưởng và quyền lợi sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, nên Bản Yêu sách cùng các kiến nghị không được đề cập đến. Được thực tế ấy rèn luyện, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận: Những lời tuyên bố của bọn đế quốc về quyền tự quyết cho các dân tộc chỉ là trò bịp lớn. Tuy nhiên, Bản Yêu sách và tên tuổi Nguyễn Ái Quốc gây tiếng vang lớn trong nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp và bạn bè quốc tế. Việc làm trên chứng tỏ Nguyễn Ái Quốc thực sự bước vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Cuộc hành trình từ Á sang Âu, từ Phi qua Mỹ trong gần 10 năm khắp các châu lục đã để lại cho người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc biết bao suy tư, trăn trở, đồng thời cũng giúp Người quan sát, tìm hiểu, rút ra những kết luận cần thiết cho cho công cuộc giải phóng dân tộc và bổ sung những hiểu biết phong phú với tầm nhìn rộng lớn về các dân tộc thuộc địa, về chủ nghĩa thực dân, đế quốc, như Người đã kết luận: “Tất cả bọn đế quốc, thực dân đều tàn bạo”. Đây là những nhận thức có tính chất nền tảng trong việc xác định đối tượng của cách mạng giải phóng dân tộc, để sau đó không lâu Người viết bản luận tội đanh thép Bản án chế độ thực dân Pháp.
Gia nhập đội quân vô sản quốc tế, hòa mình vào cuộc sống của những người lao động thuộc mọi màu da, Nguyễn Ái Quốc đã hiểu biết sâu sắc đời sống, tình cảm, năng lực, phẩm chất của họ và cũng thấy rõ sự bóc lột, thống trị tàn bạo của bọn đế quốc, thực dân; đồng thời cũng đã tạo cho Người gần gũi, yêu thương, đồng cảm với những dân tộc cùng cảnh ngộ với dân tộc Việt Nam. Người đau khổ thấy họ bị bọn đế quốc, thực dân đối xử như những "con vật châu Á" hay những "con vật da màu". Hòa mình vào cuộc sống lao động và đấu tranh của giai cấp cần lao đã làm nảy nở ở Người sự đồng cảm, yêu thương sâu sắc, tình đoàn kết bền chặt với những người bị áp bức. Trên thực tế, Người đã gặp bạn đồng minh. Đó là bước tích lũy về lượng trong nhận thức tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về lập trường giai cấp, về xác định kẻ thù, về bạn đồng minh. Thực tiễn hoạt động trong phong trào công nhân quốc tế là nhân tố quan trọng hình thành con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. 20/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Ngày 5/6/1911, sự kiện Hồ Chí Minh, với tên gọi Văn Ba, rời bến Nhà Rồng tìm đường cứu nước, đã trở thành một dấu mốc và bước ngoặt quan trọng đối với cách mạng và dân tộc Việt Nam. 112 năm đã trôi qua, nhưng hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh vẫn có ý nghĩa lịch sử và giá trị giáo dục to lớn đối với thế hệ người dân Việt Nam.
Tiếp thu truyền thống yêu nước của quê hương, đất nước, ra đi tìm chân lý cách mạng
Hồ Chí Minh lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, lúc đi học tên là Nguyễn Tất Thành, khi tham gia cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nơi có truyền thống yêu nước và cách mạng. Hoàn cảnh gia đình, quê hương, đất nước đã ảnh hưởng sâu sắc đến Nguyễn Tất Thành. Thân phụ anh là ông Nguyễn Sinh Sắc, người giỏi Nho học, đỗ Phó bảng, nhưng không chịu hợp tác với Pháp. "Thái độ bất hợp tác, ngầm chống đối thực dân, yêu nước của thân phụ đã ảnh hưởng tốt đến nhân cách của anh" (1). Quãng đời niên thiếu đèn sách, được sự dạy dỗ của thày Vương Thúc Quý, một "sỹ tử Cần Vương" và với tư chất thông minh, Nguyễn Tất Thành được bồi đắp vốn kiến thức Nho học và chịu ảnh hưởng chí hướng yêu nước, thương dân của người cha và thầy dạy. Năm 1904, ở Nghệ Tĩnh, bọn thực dân Pháp bắt phu đắp con đường Cửa Rào đi Trấn Ninh. Do đói khát và làm việc quá nặng nhọc, nhiều người đã phải bỏ xác, gây cảnh tang tóc đau thương. Thảm kịch "Cửa Rào" gây ấn tượng mạnh, khơi dậy niềm thương yêu sâu sắc với đồng bào trong tâm trí Nguyễn Tất Thành. Những năm sau theo cha đi nhiều nơi trong vùng, Nguyễn Tất Thành được chứng kiến cuộc sống khổ cực của người dân, sự áp bức, bóc lột dã man của bọn thực dân, phong kiến, đã hình thành ở anh lòng yêu nước, thương dân, căm thù giặc sâu sắc. "Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ, anh đã có chí đuổi thực dân, giải phóng đồng bào" (2). Cái nôi gia đình, quê hương đã hun đúc cho Nguyễn Tất Thành sớm có tinh thần yêu nước, căm thù giặc và ý chí đánh đuổi bọn thực dân.
Năm 1906, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế, học ở Trường Tiểu học Pháp - Việt Đông Ba, năm sau vào học Trường Quốc học Huế. Tại đây, anh có điều kiện bổ sung vốn kiến thức Nho học, văn hóa phương Đông, tiếp thu văn hóa phương Tây. Vốn văn hóa đó giúp anh có khả năng suy xét và hoạt động có tư duy. Vào những năm này, ở Kinh thành Huế như một dòng nước xoáy, cuốn hút mọi tầng lớp tham gia hưởng ứng các phong trào yêu nước. Năm 1908, ở Huế và Trung Kỳ bùng nổ phong trào kháng thuế rầm rộ. Nguyễn Tất Thành cùng số đông học sinh Trường Quốc học tích cực tham gia phong trào, nhưng phong trào bị thực dân Pháp đàn áp dã man. Thất bại của phong trào chống thuế ở Huế cũng như ở Trung Kỳ cùng các phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ XX, làm cho Nguyễn Tất Thành nhận rõ hơn bản chất dã man của bọn thực dân và cũng làm cho anh sớm thấy được sức mạnh đấu tranh của quần chúng khi được tổ chức.
Việt Nam là cộng đồng quốc gia dân tộc hình thành sớm, quần tụ trên mảnh đất có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã xây đắp nên nền văn hiến lâu đời, có truyền thống chống giặc ngoại xâm, đã hun đúc nên những truyền thống tốt đẹp, đặc biệt là truyền thống yêu nước. Vào giữa thế kỷ thứ XIX, đế quốc Pháp đánh chiếm nước ta, biến nước ta từ một nước phong kiến thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến. Trước hành động xâm lược của kẻ thù, triều đình phong kiến nhà Nguyễn từng bước dâng nước ta cho Pháp. Mặc dù vậy, các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta liên tiếp nổ ra, từ các cuộc khởi nghĩa Bình Tây ở lục tỉnh Nam Kỳ, đến các phong trào Cần Vương, Văn Thân của các sĩ phu yêu nước, rồi đến phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can, cải cách dân chủ của Phan Châu Trinh cho đến cuộc nổi dậy của Hoàng Hoa Thám và các cuộc khởi nghĩa sau đó nhưng đều bị đàn áp đẫm máu và lần lượt bị thất bại. Đến đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chống Pháp ở nước ta rơi vào bế tắc, "tình hình đen tối như không có đường ra".
Từ các sự kiện trên, Nguyễn Tất Thành suy nghĩ, cân nhắc chọn cho mình con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Anh khâm phục các cụ Trương Công Định, Nguyễn Hữu Huân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu…, nhưng không hoàn toàn tán thành phương hướng và cách làm của các cụ. Vì vậy, anh chọn cho mình hướng đi mới, đó là tìm cách ra nước ngoài để tìm hiểu cho rõ. Quyết định này về sau Người có nói: "Nhân dân Việt Nam, trong đó có cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác lại nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thì thấy phải đi ra nước ngoài để xem cho rõ" (3). Như vậy, quyết định ban đầu của Nguyễn Tất Thành là có mục đích và có định hướng. Với ý định đó, sau khi rời Huế vào Phan Thiết dạy học một thời gian, đầu năm 1911, anh vào Sài Gòn chuẩn bị rời Tổ quốc ra đi tìm chân lý cách mạng. Cần nói thêm rằng, trước Nguyễn Tất Thành đã có nhiều sĩ phu xuất dương đến một số nước phương Đông để cầu ngoại viện đánh đuổi thực dân Pháp. Với tư duy sắc sảo, anh sớm nhìn ra hướng đi và cách làm sai lầm ấy của họ. Vì thế, Người chọn cho mình hướng đi về phương Tây, mà trước hết là nước Pháp, nơi có trào lưu tư tưởng "Tự do, Bình đẳng, Bác ái", nhưng cũng là nước đang thống trị dân tộc ta, để tìm ra con đường và phương hướng cứu nước đúng đắn, chứ không phải để cầu ngoại viện. Quyết định này, về sau Người có nói: "Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn dấu đằng sau những chữ ấy… Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài" (4). Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam được Nguyễn Tất Thành hấp thụ từ những năm tháng ở quê hương, đất nước. Khát vọng cứu nước, giải phóng dân tộc thôi thúc anh ra nước ngoài tìm đường cứu dân, cứu nước.
Trong lúc đất nước đang cơn khủng hoảng, thế giới bắt đầu bước vào thời kỳ sôi động, ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành, với tên gọi Văn Ba, từ bến cảng Nhà Rồng rời Tổ quốc thân yêu ra đi tìm chân lý cách mạng. Hành trang của Người không có gì ngoài tấm lòng yêu nước, đôi bàn tay lao động và ý chí quyết tâm tìm ra con đường cứu dân, cứu nước. Đây là sự kiện lịch sử quan trọng, là bước mở đầu cho cách mạng Việt Nam chuẩn bị đi vào con đường cách mạng vô sản, nhịp bước với thời đại, kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân một cách hữu cơ từ trong bản chất giai cấp và tinh thần đấu tranh vì lợi ích dân tộc và của toàn nhân loại. 20/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh - Nhà báo, nhà văn hóa lớn
Hồ Chí Minh thực hiện các tác phẩm báo chí cũng như văn học của mình một cách xuất sắc. Người tạo được phong cách riêng – phong cách Hồ Chí Minh, ổn định mà biến hóa với những sắc thái văn chương, những nghệ thuật tu từ và kỹ năng nghề nghiệp hết sức đa dạng, luôn luôn thay đổi phù hợp với bối cảnh, chủ đề tác phẩm và đối tượng người đọc mà tác giả luôn hướng tới. Dường như mỗi lần cầm bút, Người đều nhìn rõ người đọc hiển hiện trước mắt mình – không phải là "độc giả" chung chung như một khái niệm trừu tượng – mà là người đọc cụ thể, những con người bằng xương bằng thịt… Bác Hồ viết cho những người đó. Người trò chuyện với những con người ấy. Người cố viết sao cho những con người cụ thể ấy thấm thía những ý mà Người định diễn tả và thông cảm với tình cảm mãnh liệt của Người.
Chúng ta đều biết, trong kháng chiến chống Pháp và cả sau khi đã về thủ đô Hà Nội, mỗi lần viết xong một bài báo, Bác Hồ thường mang ra đọc cho một vài đồng chí phục vụ gần gũi Người nghe trước. Phần lớn họ là những người lao động bình thường, học vấn không cao. Chỗ nào họ cảm thấy khó hiểu, sửa lại ngay. Thế nhưng những bài chính luận, những tiểu phẩm Người viết bằng tiếng nước ngoài cho những tờ báo lớn lại là những tác phẩm mẫu mực cả về nội dung và ngôn ngữ, cho đến nay vẫn làm kinh ngạc nhiều nhà văn, nhà báo lỗi lạc.
Nhận xét khái quát văn phong của Bác Hồ, đồng chí Trường Chinh viết: "Cách nói và cách viết của Hồ Chủ tịch có những nét rất độc đáo: nội dung khẳng khái, thấm thía, đi sâu vào tình cảm con người, chinh phục cả trái tim và khối óc của người ta; hình ảnh sinh động, giản dị, dễ hiểu, giàu tính dân tộc và tính nhân dân".
Là một người viết báo, viết văn từng trải, Hồ Chí Minh mỗi lần cầm bút, luôn ý thức mình viết cho ai. Trước khi viết, Người luôn cân nhắc từng lời, từng chữ, từng dấu chấm câu. Người nói với các nhà báo: "Địch rất chú ý, bạn rất quan tâm đến báo chí nước ta. Cho nên làm báo phải hết sức cẩn thận về hình thức, về nội dung, về cách viết".
Hồ Chí Minh luôn khuyên các nhà báo "báo chí phải có tính quần chúng", phải "viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc". Song, những lời dạy bảo đó tuyệt nhiên không nên được hiểu là Bác Hồ chấp nhận sự giản lược về nội dung hay dung thứ xu hướng dung tục, dễ dãi trong hình thức. Người dạy các nhà báo: "Phải viết cho văn chương… Người đọc thấy hay, thấy văn chương thì mới đọc".
Nhìn về mọi mặt, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là một nhà hoạt động báo chí mẫu mực. Người không chỉ có công sáng lập và chỉ đạo xây dựng, phát triển nền báo chí cách mạng Việt Nam mà còn là một nhà báo trực tiếp cầm bút tài năng xuất chúng, để lại cho đời sau một khối lượng tác phẩm đồ sộ và đa dạng. Hồ Chí Minh là một nhà báo mẫu mực, một tấm gương sáng, trở thành niềm tự hào của nền báo chí Việt Nam ngày nay và mãi mãi mai sau.
----------------------------------------
[1] Bùi Đức Tinh: Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết thơ mới, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1992
[2] Nguyễn Thành: Báo chí cách mạng Việt Nam 1925-1945, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994
[3] Hồng Chương: Tìm hiểu lịch sử báo chí Việt Nam, Nxb. Sách giáo khoa Mác – Lênin, Hà Nội, 1987
[4] Vương Hồng Sến: Sài Gòn năm xưa, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn, 1968
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.166
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.166
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.378
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.167
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.166