0 0 0 2 2 7 3 9 1 2
Đang online:
8
Hôm nay :
70
Hôm qua :
1,722
Tuần này :
9,802
Tuần trước :
9,324
Tháng này :
30,435
Tháng trước:
36,129
25/4/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất thân từ trong một gia đình văn hóa và yêu nước tiêu biểu của xã Kim Liên và của cả nước Việt Nam. Gia thế chủ tịch Hồ Chí Minh là một gia thế đã sản sinh, hun đúc ra những con người giàu lòng nhân đạo cao cả và biết hạn chế những dục vọng tầm thường để nuôi dưỡng những hoài bão lớn lao vì dân vì nước. Từ đó sáng tạo ra những giá trị văn hóa mới góp phần làm phong phú và nâng cao tầm văn hóa của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới. Cuộc đời của ông Nguyễn Sinh Sắc, bà Hoàng Thị Loan, cô Nguyễn Thị Thanh, cậu Nguyễn Sinh Khiêm đã thể hiện một cách sống động những phẩm chất cao đẹp đó.
Những tư liệu trong cuốn sách “Quê hương và gia thế chủ tịch Hồ Chí Minh” giới thiệu về quê hương, gia thế của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cụ thể là những tư liệu về thân sinh, thân mẫu và chị ruột của Bác. 25/4/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của nhân dân Việt Nam đã để lại trong lòng đồng bào trong nước, bầu bạn khắp năm châu những ấn tượng sâu sắc, cao đẹp về hình ảnh người chiến sĩ cách mạng kiên cường, người bạn thân yêu, gần gũi của những người Cộng sản và nhân dân lao động.
Cuốn sách “Nơi Bác Hồ về thăm quê, người Bác gặp ngày ấy - bây giờ” được xuất bản nhân dịp kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 50 năm thực hiện Bức thư cuối cùng Bác Hồ gửi Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An. Nội dung gồm những bài viết, câu chuyện ghi lại những nơi Bác Hồ đến thăm, những người may mắn được gặp Bác trong hai lần Bác về thăm quê hương Nghệ An. Qua đó rút ra bài học quý báu về quan điểm, đường lối, tác phong làm việc; về tình người, tình đồng bào, đồng chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh như: Bác về thăm và làm việc với Đảng bộ và nhân dân Nghệ An; Bác về thăm công trường nhà máy Điện Vinh; Bác Hồ với Quân khu 4; Bác thăm trại trẻ miền Nam...
Chuyện kể về Người đã trở thành truyền thuyết, động lực cho mỗi cá nhân chúng ta học tập, suy ngẫm và noi theo. 25/4/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã toả sáng một trí tuệ lớn, một chủ nghĩa quốc tế và chủ nghĩa nhân văn cao cả. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề ngoại giao đối với sự thành công của cách mạng nước nhà, Người đã sớm vạch ra những định hướng cơ bản trong hoạt động quốc tế của cách mạng Việt Nam và đặt nền móng cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại.
Cuốn sách bao gồm những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đối ngoại và hoạt động quốc tế, đây là những định hướng cơ bản cho nền ngoại giao Việt Nam, cần được tiếp tục nghiên cứu kế thừa, phát huy một cách khoa học và sáng tạo.
Cùng với việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trong từng khoa học chuyên ngành, cuốn sách tập trung chủ yếu vào những vấn đề cơ bản trong lý luận và thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lĩnh vực quan hệ quốc tế nhằm góp phần từng bước tiếp cận có hệ thống tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khoa học đối ngoại. 25/4/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh đạo kính yêu của nhân dân Việt Nam mà Người còn được rất nhiều nhà chính trị, văn hóa, văn nghệ sĩ, bạn bè quốc tế… hết lời ngợi ca như một nhân vật kiệt xuất, một nhà chính trị kỳ tài, tấm gương lớn về nhân cách hoàn thiện. Đã từ lâu hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong con mắt bạn bè quốc tế đã là hình ảnh của một Việt Nam thu nhỏ.
“Những người bạn Quốc tế của Bác Hồ” là những câu chuyện viết về những năm tháng Bác hoạt động ở nước ngoài, những người từng được quen biết Bác, từng cộng tác với Bác, những người mà Bác đã kết thân từ những năm hai mươi, ba mươi khi Người hoạt động ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc,… thông qua đó phản ánh những giá trị cốt lõi trong tư tưởng, đạo đức của Người, được thể hiện trong công việc, ứng xử, gần gũi và tự nhiên, có sức thu hút, cảm hoá kỳ diệu.
Sách được xuất bản nhân dịp nhân dân ta và bạn bè xa gần trên khắp thế giới kỷ niệm ngày sinh lần thứ một trăm mười của Bác. 25/4/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Cuốn sách “Bác Hồ với nhân sĩ, trí thức” được tác giả chắt lọc từ nhiều nguồn tư liệu, sách báo, ghi chép lời kể của nhân chứng, hệ thống hóa thành những bài viết hết sức cảm động xung quanh mối quan hệ và ảnh hưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đối với các nhân sĩ, trí thức Việt Nam giai đoạn đất nước mới giành được độc lập đang rất cần những người có tâm, có tài phụng sự sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Với sức hấp dẫn diệu kì và sức cảm hóa đặc biệt của mình, Bác Hồ đã lôi cuốn được đông đảo các nhân sĩ, trí thức cũ và mới, rất nổi tiếng và tài năng, thậm chí cả những người đã từng phục vụ chế độ cũ, các nhà khoa học đã thành danh ở nước ngoài trở về với dân tộc, cống hiến tài năng cho đất nước và cách mạng. Đây chính là tư tưởng đại đoàn kết, hòa hợp dân tộc của Người - Một trong những nhân tố quan trọng tạo nên thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta.
Xuất bản cuốn sách này, nhà xuất bản muốn cung cấp thêm cho bạn đọc những tư liệu quý về hình ảnh Bác Hồ trong trái tim của các nhân sĩ, trí thức về tư tưởng đại đoàn kết và hòa hợp dân tộc. 24/4/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành nhiều thời gian và tình cảm quan tâm tới đồng bào các dân tộc, chăm lo xây dựng khối đoàn kết các dân tộc Việt Nam. Cuốn sách “Bác Hồ với nhân dân các dân tộc Việt Nam” góp phần làm rõ hơn quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò to lớn của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc; Khẳng định tình cảm, sự quan tâm của Bác đối với đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam và lòng kính yêu Bác Hồ của đồng bào các dân tộc. Qua đó, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về Bác Hồ - Biểu tượng cho tình đoàn kết trong Đảng, cho tình đoàn kết các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam.
Cuốn sách tập hợp một số mẩu chuyện ngắn kể lại những kỷ niệm thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Việt Nam. Mỗi câu chuyện đều mang lại ý nghĩa và bài học thiết thực giúp chúng ta hiểu thêm về Bác và biết cách vận dụng, học tập, làm theo Người. 24/4/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Tập thơ “Hồ Chí Minh - Vầng dương thế kỷ” gồm 79 bài thơ là 79 mùa xuân Bác dành cho dân, cho Đảng. Đó cũng chính là dòng lịch sử từ khi người sinh ra đến khi trở về cõi vĩnh hằng. Với 3269 câu thơ lục bát liền mạch gắn kết 79 bài thơ thành một trường ca lịch sử về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mỗi bài thơ, mỗi câu thơ là một câu chuyện về Bác, về công lao trời biển của Bác trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Những ngày vận nước đau thương, người quyết đi tìm con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam.
Năm châu bốn bể bôn ba
Tìm đường cứu nước cứu nhà cần lao
Người tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam, thành lập ra chính Đảng vô sản, lãnh đạo nhân dân làm nên cuộc cách mạng tháng Tám thần kỳ và đánh bại hai tên đế quốc hùng mạnh nhất thế giới để:
Bắc Nam sum họp một nhà
Non sông rạng rỡ gấm hoa Lạc Hồng
Những câu thơ lục bát mộc mạc, dung dị, ý tứ chân thành là tình cảm là lời tri ân của tác giả đối với Bác Hồ kính yêu. Góp phần vào việc tuyên truyền giáo dục thế hệ trẻ học tập và làm theo tư tương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Giúp bạn đọc hiểu hơn về công lao trời biển của Bác đối với dân tộc Việt Nam và nhân loại cần lao trên thế giới. 24/4/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Luận điểm “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công” của Bác Hồ được chứng minh bằng những thành tựu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và cách mạng của nhiều nước trên thế giới, trở thành chân lý của mọi thời đại.
Nhằm góp phần nâng cao nhận thức về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng và tấm gương của Bác Hồ về đại đoàn kết; Tạo ra chuyển biến trong mỗi người về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức của Người, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc đã xuất bản cuốn sách “Bác Hồ tấm gương đại đoàn kết”.
Nội dung chủ yếu của cuốn sách giới thiệu quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết thông qua những lời nói, lời dạy của Người; Dẫn kể những câu chuyện về tấm gương thực hiện đại đoàn kết của Người, nhằm chứng minh cho đạo đức và phong cách “lý luận đi đôi với thực tiễn”, “nói đi đôi với làm”, “cán bộ phải làm gương” của Người. 24/4/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Hồ Chí Minh là người suốt đời phấn đấu vì một lý tưởng cao đẹp, từ ngày ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911) và trở thành nhà hoạt động cách mạng kiên cường, bền bỉ cho đến hơi thở cuối cùng (2-9-1969), đưa đất nước và dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với con người Hồ Chí Minh, là biểu tượng, là tấm gương sáng, niềm tự hào của các thế hệ Việt Nam không ngừng đoàn kết phấn đấu thực hiện nguyện vọng thiết tha của cộng đồng dân tộc từ thời vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh”- Trích: Phạm Văn Đồng.
Nhân kỷ niệm 110 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 - 5/6/2021), Thư viện tỉnh Lào Cai trân trọng giới thiệu đến bạn đọc cuốn sách Đường Bác Hồ đi cứu nước do tác giả Trình Quang Phú tuyển chọn và biên soạn, sách do nhà xuất bản Thanh Niên phát hành.
Cuốn sách Đường Bác Hồ đi cứu nước được tuyển chọn và biên soạn từ hàng trăm tác phẩm và bài báo viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, khái quát những sự kiện về gia đình, tuổi thơ của Bác, con đường Bác bôn ba khắp năm châu để đến với chủ nghĩa Mác Lênin, tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc khỏi ách nô lệ, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, những sự kiện chính trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh...
Nội dung cuốn sách gồm nhiều câu chuyện có khi được tác giả kể lại, có khi được kể lại bởi chính người trong cuộc với những tình cảm rất chân thành, sâu sắc, những kỷ niệm không thể nào quên, nhờ đó Bác Hồ của chúng ta thật gần gũi, giản dị và thân thiết như vị Cha già của dân tộc nhưng cũng là vị lãnh tụ thật lớn lao, vĩ đại khiến kẻ thù cũng phải kính phục.
Ngôn từ của cuốn sách giản dị, câu chuyện hấp dẫn, gần gũi, nội dung sâu sắc, cuốn sách là tài liệu tham khảo có giá trị thiết thực để bạn đọc tiếp tục tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. 24/4/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Bác Hồ đi kháng chiến” là một cuốn sách gồm gần 100 câu chuyện xúc động về Bác Hồ do hai tác giả Thái Thành Vân và Phù Ninh sưu tầm, giới thiệu. Nhà văn Nguyễn Văn Mạch (bút danh Phù Ninh) sinh năm 1942, là người con của quê hương Phù Ninh, Phú Thọ. Năm 1964 ông và gia đình chuyển lên sinh sống tại Tuyên Quang.
Trong cuộc đời công tác của mình, ông đã có nhiều đóng góp trên nhiều cương vị công tác khác nhau, như: Chủ tịch Hội văn nghệ Hà Tuyên (năm 1988); Giám đốc Sở Văn hóa tỉnh Tuyên Quang (năm 1991); Tổng Biên tập Báo Tuyên Quang (năm 1993); Chánh văn phòng Tỉnh ủy (năm 1998)... Nhưng trọn cả cuộc đời mình, niềm đam mê lớn nhất của ông là nghiên cứu về mảnh đất Tân Trào lịch sử. Nơi Bác Hồ đã sống, làm việc và hoạch định những đường hướng đúng đắn, sáng tạo cho cách mạng Việt Nam, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi.
Các tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Phù Ninh có thể kể đến là “Tân Trào rạng ngày độc lập” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam năm 2005); “Bác Hồ ở Tân Trào” (Hội VHNT Tuyên Quang năm 1995); “Tân Trào toàn cảnh” (NXB Văn hóa thông tin năm 2000); “Về Tân Trào” (năm 2015); “Trần Nhật Duật”; “Người con gái Thăng Long” (NXB Văn hóa dân tộc). Và chỉ riêng năm 2020 vừa qua, nhà văn Phù Ninh đã xuất bản mới được 3 cuốn sách: “Dòng Lô êm trôi”, “Đền thiêng”, (NXB Hội Nhà văn Việt Nam); “Tha hương” (Nhà Xuất bản Sân khấu) cùng nhiều bài viết về lịch sử văn hóa địa phương đăng tải trên các báo... Đến với các tác phẩm của nhà văn Phù Ninh, người đọc sẽ được tiếp cận với một nguồn sử liệu phong phú, thấy được sự vận động của lịch sử trong những giai đoạn có tính chất bước ngoặt của cách mạng Việt Nam. Đặc biệt là thời kỳ trước cách mạng tháng Tám và trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược... Năm 2018, cuốn tiểu thuyết tư liệu
“Về Tân Trào” của ông đã đạt Giải C giải thưởng sáng tác, quảng bá các tác phẩm VHNT, báo chí về chủ đề Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh...
Nếu như nhà văn Phù Ninh dành trọn tâm huyết của mình cho Tân Trào thì kiến trúc sư, nhà thơ Thái Thành Vân lại có niềm đam mê sưu tầm những câu chuyện ngày thường về Bác. Nhà thơ Thái Thành Vân, sinh ngày 2/9/1945 tại Đô Lương, Nghệ An. Năm 1970 ông lên Tuyên Quang công tác. Kiến trúc sư Thái Thành Vân là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Kiến trúc sư Việt Nam 3 nhiệm kỳ liên tiếp và là Chủ tịch Hội Kiến trúc sư tỉnh Tuyên Quang trong 17 năm (1988 - 2005). Nhà thơ Thái Thành Vân được nhớ đến nhiều qua các tác phẩm “Lời thề”; “Về viếng lăng Bác”, “Trường ca Bác Hồ”, “Di chúc Bác Hồ”... Đặc biệt, cuốn sách “Câu chuyện ngày thường về Bác Hồ” do ông dày công sưu tầm, biên soạn đã liên tiếp được tái bản tới 10 lần, với số lượng lên đến 17.000 bản. Điểm gặp gỡ của hai tác giả Phù Ninh - Thái Thành Vân trong cuốn “Bác Hồ đi kháng chiến” là sưu tầm được phong phú những câu chuyện trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của Bác ở chiến khu, những câu chuyện nhẹ nhàng, giản dị, nhưng mang tính giáo dục sâu sắc.
Xuyên suốt cuốn sách “Bác Hồ đi kháng chiến” là hình ảnh một người lãnh đạo gần dân, trọng dân, thương dân sâu sắc. Để giữ được niềm tin trong nhân dân, Bác đã luôn nghiêm khắc với chính mình cũng như với cán bộ, chiến sỹ. Câu chuyện “Làm được như thế, đồng bào sẽ tha thứ” kể về việc một chiến sỹ kiếm được hai ngọn măng mai to. Bác ôn tồn bảo “Các chú xem, những dải rừng quanh đây chỉ có măng nứa, măng vầu. Măng mai là của dân trồng. Chú tìm ngay chủ khóm mai để xin lỗi và bồi thường. Làm được như thế, đồng bào sẽ tha thứ, sẽ hiểu ta, tin ta”. Còn về phần mình, nói về phê bình và tự phê bình, Người tự nhận “ngày nào tôi cũng phê bình và tự phê bình để luôn luôn tự sửa chữa cho tiến bộ, sao cho khỏi phụ lòng của nhân dân đối với tôi”... “nếu ko làm được cho dân thì dân cũng không cần đến nữa”; “dù có bao nhiêu vàng cũng không bảo đảm vững chắc bằng lòng dân”...
Bác đã đi xa, nhưng hình ảnh vị lãnh tụ kính yêu tận trung với nước, tận hiếu với dân vẫn mãi in sâu trong lòng các thế hệ người dân Tuyên Quang. Nhớ về Người, biết ơn Người, các nhà văn, nhà thơ đã có nhiều tác phẩm sâu sắc viết về Bác. Nhớ về Bác mỗi người dân trên quê hương cách mạng hôm nay đã và đang đoàn kết một lòng, dựng xây quê hương ngày càng ấm no, hạnh phúc như Bác kính yêu hằng mong ước. 24/4/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước (theo cách gọi của Việt Nam), hay chiến tranh Việt Nam (theo cách gọi của người Mỹ và đồng minh), là một trong những cuộc chiến tranh khốc liệt nhất, để lại những dấu ấn sâu sắc nhất trong dư luận và tâm linh của nhân loại thế kỷ XX.
Những dấu ấn đó có nhiều chiều và nhiều ý nghĩa khác nhau: Là niềm tự hào nơi người chiến thắng, là sự bẽ bàng và khủng hoảng trong đời sống chính trị và tâm linh Mỹ, là sự day dứt nơi những người đã từng tham gia quân đội và Chính quyền Việt Nam Cộng hòa...
Có lẽ cũng vì những loại dấu ấn rất khác nhau đó, cho nên dù chiến tranh đã kết thúc hơn 30 năm, vẫn tiếp tục một loại “chiến tranh” trong giải thích và bình luận lịch sử.
Cuốn sách 5 đường mòn Hồ Chí Minh không nhằm tham gia vào cuộc “chiến tranh” đó, và cũng không chọn một chỗ đứng nào trong ba góc nhìn kể trên.
Mục đích của cuốn sách này là trình bày một khía cạnh lịch sử quan trọng của cuộc chiến tranh mà nhiều chỗ vẫn còn chưa được biết tới, hoặc biết rất không đầy đủ: Đó là những hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh XE "Hồ Chí Minh" .
Cho đến nay, có biết bao nhiêu tài liệu đã được công bố từ cả ba phía, biết bao nhiêu cuốn sách đã được viết ra nhưng vẫn chưa nói hết được những câu chuyện về các con đường mòn Hồ Chí Minh XE "Hồ Chí Minh" đó, thậm chí có những con đường hầu như chỉ ai đã đi thì mới biết.
Sách báo Mỹ đã biết khá rõ về con đường Hồ Chí Minh XE "Hồ Chí Minh" trên bộ, tức là đường Trường Sơn. Nhưng cả những tài liệu đã được giải mật lẫn những sách báo đã được viết ra vẫn chưa giúp người đọc thỏa mãn một câu hỏi: Vì sao mà những phương tiện hiện đại nhất của Mỹ, dù đã được huy động tối đa vào đây, vẫn bị vô hiệu hóa bởi những con người mà xét về cả tiền bạc lẫn kỹ thuật đều thua kém nhiều lần?
Câu chuyện về 5 "đường mòn" Hồ Chí Minh
Những biện pháp để làm đường, những cách tổ chức vượt đường, hệ thống quản lý các cung đường, hệ thống các kho tàng, các trạm quân y, quân nhu, dịch vụ, sửa chữa và nhất là những cách để tránh bom đạn và “đánh lừa” kỹ thuật Mỹ... mà đến nay chính là những chuyện lý thú nhất, thì hình như sách báo Mỹ vẫn chưa nói được bao nhiêu, thậm chí cho đến gần đây nhất vẫn có những chuyện hiểu lầm (như chuyện hoang đường mới được phía Mỹ công bố đầu năm 2008 về việc “tình báo Việt cộng” lọt được vào hệ thống thông tin quân sự của Mỹ để “ra lệnh” cho máy bay Mỹ ném bom các căn cứ quân sự Mỹ).
Con đường thứ hai là con đường xăng dầu, với tổng chiều dài tới 5.000 km, để vận chuyển nhiên liệu suốt từ biên giới Việt - Trung và các cảng biển miền Bắc vào đến tận Nam Bộ, có chỗ vượt qua cả những độ cao tới gần ngàn mét là điều có vẻ là bất khả thi đối với kỹ thuật đường ống. Con đường này người Mỹ dường như cũng biết rằng có và cũng đã đánh phá được một số điểm.
Nhưng nó có bằng cách nào và nó đã đóng vai trò ra sao trong việc cung cấp nhiên liệu cho các đoàn xe vận tải vũ khí, cung cấp nhiên liệu cho xe tăng trong các trận đánh lớn ở miền Nam, thì hình như trong những tài liệu đã giải mật gần đây nhất cũng không có được những thông tin cụ thể.
Con đường thứ ba là con đường trên biển, thì hải quân, không quân của Mỹ và của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng đã cảm thấy hình như có chuyện và đã tổ chức đề phòng.
Nhưng trong suốt 7 năm đầu hoạt động, các đoàn tàu không số đã đưa được hàng chục ngàn tấn vũ khí vào Nam rồi mà đối phương vẫn không bắt được vụ nào. Chỉ đến năm 1966 họ mới giật mình khi bắt được một vài vụ. Nhưng họ vẫn không sao tìm ra manh mối.
Một số con tàu chớm bị phát hiện, sắp bị vây bắt, thì thuỷ thủ đoàn đã tự đánh đắm và tự thủ tiêu. Do đó nó vẫn là một con đường “phi tang”. Nếu lại so sánh những hải đồ do phía hải quân Mỹ vẽ về các tuyến đi của các con tàu không số và hải đồ thật của Lữ đoàn 125 thì khoảng cách sai biệt vẫn rất lớn.
Rồi khi những “con tàu đánh cá giả” bị họ theo dõi sít sao, thì những “con tàu đánh cá thật”, hoàn toàn hợp pháp mà họ quen mặt từ lâu, lại bắt đầu chuyển sang chở vũ khí, còn công nhiên chở cả những cán bộ lãnh đạo quan trọng như Võ Văn Kiệt XE "Võ Văn Kiệt" , Lê Đức Anh ra Bắc, vào Nam…, thì cho đến ngày giải phóng đối phương cũng chưa hề biết đến.
Con đường thứ tư là con đường hàng không, bí mật trong công khai, đi từ Phnom Penh, bay qua lãnh thổ miền Nam Việt Nam, thậm chí bay qua chính Sài Gòn, tới Hồng Kông hoặc Quảng Châu XE "Quảng Châu" , rồi về Hà Nội. Con đường này đã từng vận chuyển hàng ngàn lượt tướng tá của miền Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc, vận chuyển hàng triệu đô la cho cơ quan Kinh-Tài của miền Nam, vận chuyển rất nhiều thứ máy móc, thuốc men và hóa chất quan trọng, vận chuyển thương binh, vận chuyển vợ con những chiến sĩ và cán bộ của miền Nam ra Bắc để học tập và điều dưỡng… Nhưng phía Mỹ và Chính quyền Sài Gòn hình như cũng hoàn toàn chưa biết gì.
Con đường thứ năm, con đường chuyển ngân thì còn bí hiểm hơn. Đó là con đường vô hình, không có đường, không có lối trên đất liền, trên biển, trên không, trên những đường ống... Nó đi theo hệ thống ngân hàng của chính các nước phương Tây và hệ thống ngân hàng ở ngay Sài Gòn để chuyển tiền một cách hợp pháp từ Bắc vào Nam, từ các nguồn tài trợ của các nước vào Sài Gòn, rồi từ Sài Gòn rút ra tiền bản địa để chi tiêu cho những lực lượng Giải phóng.
Không cần ô tô, không cần máy bay, không cần tàu thủy, không cần gùi thồ, chỉ những mật mã, những cú điện... là tiền từ Paris, London, Hong Kong, Bangkok, Moskva, Bắc Kinh... được chuyển qua Sài Gòn rồi lên các căn cứ địa ở khắp miền Nam, được thanh toán cho những địa chỉ cần thiết ở bất kỳ nơi nào trên thế giới... Con đường đó suốt hai mươi năm chiến tranh chỉ “ai làm thì biết”, Mỹ không biết, Chính quyền Sài Gòn không biết, nên không một ai bị bắt, không một vụ chuyển ngân nào bị phát hiện… 24/4/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh - Xuyên suốt truyện ký, Tô Hoài kể nhiều câu chuyện của đá, cát và 16 loại gỗ. Sự tương đồng giữa người và vật trong một giai đoạn lịch sử gieo lên những hạt mầm ánh sáng về tình yêu trường tồn của người Việt với Bác, với non sông.
Tôi từng đọc nhiều sách về Bác như: Búp sen xanh, Cha và con, Từ làng Sen, Bác Hồ – Người cho em tất cả, Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người, Bác Hồ kính yêu… nhưng tập truyện ký "Lăng Bác Hồ” của tác giả Tô Hoài vẫn khiến tôi ấn tượng về câu chuyện của những phiến đá, những cây gỗ từ khắp đất nước tụ họp về thủ đô để xây lên ngôi nhà của Bác.
Dòng trích dẫn mở đầu tập truyện ký thực sự đã khắc chạm vào tâm trí như thể lời mời khó cưỡng: "Non sông đất nước, tên chúng tôi là "NON”, đứng thứ nhất trong bốn chữ thiêng liêng ấy. Chúng tôi được gần Bác Hồ từ những ngày gian khổ ở hang đá Pác Bó”…
Nhà văn Tô Hoài với tầm hiểu biết sâu sắc về quá trình xây dựng Lăng Bác Hồ đã thể hiện một cuốn sách đặc biệt. Tập truyện ký viết 111 trang với bút pháp tài tình của tác giả, với tình yêu vô bờ bến với lãnh tụ kính yêu mà gỗ, đá, cát, sỏi trong tập truyện ký cũng biết yêu thương, kính trọng và hơn hết không khỏi tự hào khi được góp phần xây dựng ngôi nhà của Bác.
"Những tấm đá cởi lại tấm áo rêu xanh rừng bốn mùa, từ biệt khoảng không đại dương khí quyển từ hoang sơ vẫn nhởn nhơ trước mặt. Bốn phương nô nức về công trường” - ấy là những tâm sự của đá, lòng kính yêu Bác đã khiến những tảng đá quanh năm làm bạn với mây trời, gió núi, sương sa cũng hân hoan khi được gọi tên, xếp hàng về thủ đô góp công xây nhà Bác.
Truyện ký không chỉ xoay quanh tiến độ công trình mà còn mở ra những câu chuyện khác lồng trong đó. Ấy là câu chuyện ngày trở về của Bác sau 30 năm ra đi tìm đường cứu nước. Tô Hoài lại lần nữa sử dụng thế mạnh của ngôn ngữ đưa những tảng đá, phiến đá, hòn đá trở thành những "nhân chứng” chính kể về quá trình hoạt động cách mạng của Bác ở Cao Bằng.
Rồi từ đó, đá kể về bước dừng chân đầu tiên của Bác khi về Việt Nam, đá kể chuyện Bác sống trong hang, đêm đêm gối đầu lên đá. Đá kể về chiếc bàn đá Bác ngồi làm việc, kể những đêm thao thức Bác vẫn lạc quan làm thơ, kể chuyện Bác ngồi câu cá mà trong tâm tưởng vẫn đặt tên suối Lê-Nin, núi Các Mác, kể chuyện Bác cùng anh Kim Đồng băng qua lửa đạn đến với chiến khu…
Đá thầm thì những niềm vui khi nghe các cụ già kể chuyện về ngôi nhà của Bác. Đá hân hoan khi mình được chọn về đứng bên Bác ngày ngày. "Mỗi hòn đá đều có một tâm sự. Cứ trông nét vân và màu đá thì biết. Nếu con người không giao tiếp với ai, thì không có tâm sự, không có hoạt động gì đáng kể, nhưng hòn đá biết việc làm lợi ích… đã có đời sống đáng kể của đá. Bởi chúng tôi sống với người, đá phục vụ người. Trong công việc hàng ngày. Trong cả những biến chuyển lớn lao của đất nước”.
Tôi đã đọc những hồi ký, những tâm sự của những người xây dựng công trình Lăng Bác Hồ, càng hiểu giá trị to lớn ấy không nằm ngoài tâm tư của mỗi người con đất Việt: Tất cả vì tình yêu và lòng tôn kính với Bác - Chủ tịch Hồ Chí Minh!
Nhưng khi đọc cuốn truyện ký này, một lần nữa, tôi thực sự bất ngờ về những chi tiết trong tác phẩm: "Nhà Bác Hồ, từ móng lên tường là công trình nghìn năm của dân tộc, cát phải sức lực vô ngần. Từng hạt cát đứng ngồi phải liền khít như khối bê tông nạc quánh”.
Qua cuốn sách, bạn đọc sẽ như được sống lại những năm tháng cả nước "tưởng như khắp các núi, tất cả các cụ già dân tộc giỏi tìm đá quý đương đi kiếm, đi thử từng mỏm đá đưa về xây Lăng”.
Xuyên suốt truyện ký, Tô Hoài kể nhiều câu chuyện của đá, cát và 16 loại gỗ. Sự tương đồng giữa người và vật trong một giai đoạn lịch sử gieo nên những hạt mầm ánh sáng về tình yêu trường tồn của người Việt với Bác, với non sông.
Bằng sự biến hóa tài tình trong ngôn ngữ, tác phẩm không chỉ có ngôn ngữ kể chuyện, trần thuật mà còn có ngôn ngữ tâm lý, ngôn ngữ hình tượng. Sự hóa thân tài tình của tác giả vào đá, cát và cây gỗ nu cùng chất tự sự pha tính trữ tình, chất hồn nhiên pha chất biện chứng trong ngôn ngữ của truyện đã giúp tác giả thành công trong việc khắc họa đậm nét hình tượng Bác cao lớn lồng lộng nhưng cũng giản dị, nhân hậu biết bao.
Câu chuyện mà Tô Hoài kể có rất nhiều chi tiết đáng nhớ về đồng bào miền Bắc, miền Trung, miền Nam, vùng Tây Nguyên…, nhưng điều tôi ấn tượng nhất vẫn là tình cảm sâu sắc của nhân dân ta đối với Bác, là sự kiên cường của dân tộc khi nước nhà còn chia cắt. Tô Hoài đã thắp lên niềm tin yêu trong mọi thế hệ hôm nay và mai sau về sự trường tồn của công trình Lăng Bác Hồ và con đường đi lên của đất nước.
Gấp trang sách lại, tôi vẫn như còn nghe văng vẳng lời tác giả: "Cả nước về Lăng Bác Hồ. Bóng Người bốn phía bước tới in lên mặt cửa và tường đá”. Đó là tình cảm của tác giả, của hơn 97 triệu người dân, của vạn vật trên dải đất hình chữ S này hướng về Bác. 24/4/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Việt Nam - Hồ Chí Minh - Điện Biên Phủ - nhân loại tiến bộ từng hô vang như vậy. Nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, xin nhớ về Chủ tịch Hồ Chí Minh và một trong những học trò xuất sắc, cộng sự thân cận của Người, vị tướng mà tên tuổi gắn liền với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, mốc son chói lọi trong bản anh hùng ca lịch sử nghìn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam, làm chấn động địa cầu.
Dự đoán chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Đầu tháng 10.1953, tại Tỉn Keo, xã Phú Đình, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, đã diễn ra cuộc họp của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng bàn về kế hoạch tác chiến Đông Xuân năm 1953 - 1954. Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Thái… đã tham dự Hội nghị. Kết thúc cuộc họp, Bác nói: “Tổng quân ủy phải có một kế hoạch lâu dài về mọi mặt để đối phó với kẻ địch trên chiến trường toàn quốc, sau đó phải có kế hoạch đẩy mạnh những hoạt động du kích tại đồng bằng Bắc Bộ. Về hoạt động lấy hướng Tây Bắc làm hướng chính, các hướng khác là phối hợp. Hướng chính hiện nay không thay đổi, nhưng trong hoạt động có thể thay đổi. Phép dùng binh là phải “thiên biến vạn hóa”.
Tại Hội nghị Tỉn Keo của Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta và cả trong kế hoạch của Navarre đều chưa xuất hiện cụm từ Điện Biên Phủ. Quyết định sáng suốt của Trung ương Đảng ta là tiến lên Tây Bắc để căng địch ra, bắt chúng phải bị động đối phó với ta, như vậy đã tạo tiền đề đầu tiên cho Điện Biên Phủ xuất hiện.
Sau này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại, khi nghe đồng chí trình bày về tình hình quân địch từ tháng 5 - 10.1953: “Bác ngồi họp, thái độ bình thản, điếu thuốc lá kẹp giữa hai ngón tay duỗi thẳng… Đôi mắt Người lộ vẻ chăm chú. Bàn tay Bác đặt trên bàn, bỗng giơ lên và nắm lại. Người nói: Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh… Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn.
Bàn tay Bác mở ra, mỗi ngón trỏ về một hướng…”.
Người cho rằng quân ta cần giành thế chủ động trên chiến trường, trong đó tập trung cho Tây Bắc, buộc địch phải phân tán lực lượng. Quả nhiên như dự đoán chiến lược của Người, khi quân ta hành quân lên Tây Bắc, Navarre vội vàng cho quân nhảy dù xuống chiếm Điện Biên Phủ và xây dựng thành tập đoàn cứ điểm, với ý đồ sẵn sàng tác chiến để nghiền nát đội quân chủ lực của Việt Minh.
Người được tin tưởng tuyệt đối
Ngày 6.12.1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương mở chiến dịch đánh bại địch ở Điện Biên Phủ, Ban Thường vụ Trung ương quyết định thành lập Bộ Chỉ huy và Đảng ủy Mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”.
Giao nhiệm vụ cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh, trước khi ra mặt trận, Bác nói: “Tướng quân tại ngoại”! Trao cho chú toàn quyền…”, “trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Chính sự tin tưởng tuyệt đối của Người đã củng cố quyết tâm thực hiện phương châm tác chiến phải “đánh chắc, tiến chắc” của Đại tướng, mà cùng với sự thay đổi ấy hàng vạn quân ta phải áp dụng một hình thức tác chiến mới, dù khó khăn, gian khổ hơn nhiều, nhưng cũng đỡ xương máu hơn và chắc chắn chiến thắng.
Ngày 22.12.1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cờ “Quyết chiến quyết thắng” cho quân đội, động viên các đơn vị thi đua giết giặc lập công, hoàn thành cho kỳ được chiến dịch Điện Biên Phủ.
Ngày 13.3.1954, quân ta bắt đầu tấn công, mở màn cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Mặc dù địch ra sức chống cự và đối phó quyết liệt, nhưng quân và dân ta với tinh thần chiến đấu kiên cường, đã liên tiếp giáng cho kẻ thù những đòn chí tử. Trải qua ba đợt chiến đấu gay go, gian khổ và liên tục, sau 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”, quân ta không để cho quân đội Pháp kịp thực hiện ý đồ của mình, mà bắt chúng phải phân tán lực lượng để ta dễ tiêu diệt.
Từ khi bị tấn công cho tới lúc thua trận, giặc Pháp liên tiếp đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác trước cách đánh, lòng quyết tâm và tinh thần chiến đấu quả cảm của quân đội ta, mặc dù trước đó chúng cho rằng Điện Biên Phủ là “bất khả xâm phạm”, bởi chúng tin vào những gì chúng có, như vũ khí hiện đại, có các quan thầy Mỹ và những tướng chỉ huy giỏi như Navarre, Cogny…
Từ khi bắt đầu chuẩn bị cho đến khi chiến dịch kết thúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi năm bức thư và điện cho cán bộ, chiến sĩ, dân công và thanh niên xung phong ở mặt trận Điện Biên Phủ. Những bức thư đó thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Bác, là nguồn sức mạnh tinh thần lớn lao, cổ vũ, động viên, khích lệ quân và dân ta vượt qua khó khăn, gian khổ để làm tròn nhiệm vụ của mình. 22/4/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Chào mừng kỷ niệm 49 năm ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2024)
Chào mừng kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 – 07/5/2024)
Chiều ngày 20/4/2024 tại sãnh A sân trường, Tiểu đoàn THCS Tô Ký phối hợp với Chi đoàn giáo viên nhà trường tổ chức ngày hội triển lãm "Âm vang chiến thắng Điện Biên Phủ" với chủ đề "CHIẾN SĨ ĐIỆN BIÊN NĂM XƯA ĐÁNH HAY, CHIẾN SĨ ĐIỆN BIÊN HÔM NAY HỌC TỐT" cho hơn 300 em Đội viên, học sinh trong nhà trường.
Đến tham dự và làm ban giám khảo cho ngày hội có:
Cô Nguyễn Thị Thu Hằng - Bí thư chi bộ - Hiệu trưởng nhà trường
Cô Huỳnh Thị Tâm- Phó bí thư chi bộ - Tổ trưởng tổ LS-ĐL
Thầy Trịnh Nguyễn Trường Thịnh - Tổ trưởng tổ Công nghệ
Cô Trần Thị Bích Trâm - Giáo viên tổ Mỹ thuật
Trong ngày hội Tiểu đoàn đã tổ chức hội thu, chấm điểm các mô hình hay, đẹp, sáng tạo và nghe các chiến sĩ nhỏ Điện Biên của các Đại đội thuyết minh về mô hình mô phỏng lại Chiến dịch chiến thắng Điện Biên Phủ, "Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", các loại mô hình mô phỏng các loại vũ khí, khí tài, vật dụng vận chuyển của hậu cần như: xe thồ, pháo, đồi A1, hầm De Castries...... trong Chiến dịch Chiến thắng Điện Biên Phủ của Quân và Dân ta.
Qua ngày hội đã tuyên truyền và giáo dục cho đội viên về truyền thống, ý nghĩa lịch sử 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, khơi dậy trong các em niềm tự hào dân tộc và lòng biết ơn sâu sắc của thế hệ măng non đối với các thế hệ cha anh đã dũng cảm, mưu trí chiến đấu, hy sinh vì nền độc lập, tự do nước nhà. Cùng với đó là nêu cao tinh thần Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tuỳ theo sức của mình” góp phần thực hiện thắng lợi Chiến dịch “Em là chiến sĩ Điện Biên Thành phố Bác Hồ” với khẩu hiệu
CHIẾN SĨ ĐIỆN BIÊN NĂM XƯA ĐÁNH HAY
CHIẾN SĨ ĐIỆN BIÊN HÔM NAY HỌC TỐT 29/3/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Qua mấy ngày lội suối, tắt rừng, vượt đèo, đoàn đại biểu Hà Nội do đồng chí Hoàng Đạo Thúy dẫn đầu đã tới cây đa Tân Trào, điểm liên lạc cuối cùng.
Toàn đoàn khá mệt, ngồi nghỉ dưới gốc cây đa, có liên lạc đón và mời nước chè tươi.
Toàn đoàn đang ngắm nhìn chiến khu với sự cảm kích, hào hùng - Bởi rừng già hùng vĩ, núi non trầm mặc. Vừa lúc ấy, từ bản gần đó, một đoàn người đi ra, người quần áo Tày, người quần áo Dao. Dẫn đầu đoàn người là một cụ già mặc quần áo Tày, đội mũ sợi màu chàm, tay chống gậy. Được biết, đó là nhân dân địa phương ra đón đoàn đại biểu Hà Nội.
Đoàn đại biểu Hà Nội vội đứng lên chào mừng nhân dân địa phương. Sau phút chào hỏi vui vẻ, đồng chí Hoàng Đạo Thúy cử đồng chí Nguyễn Tài, ủy viên dân vận của đoàn ra nói chuyện với nhân dân địa phương. Còn cả đoàn phép được ngồi nghỉ dưới gốc đa liền đó để chờ thượng cấp.
Được gặp đồng bào ở chiến khi, với niềm tự hào là đại biểu của Hà Nội đi dự Quốc dân Đại hội (8-1945), đồng chí Nguyễn Tài dùng hết khả năng tuyên truyền của mình để nói chuyện với đồng bào: nào là tội ác của Pháp cùng Nhật xâm lược nước ta, cướp bóc thóc lúa, để hàng triệu đồng bào ta bị chết đói; nào là phátxít Đức đã đầu hàng; Hồng quân Liên Xô đã đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật; nào là lực lượng Việt Minh ta ở Hà Nội rất mạnh, khắp nước cũng rất mạnh. Thời cơ nổi dậy giành độc lập đã tới, v v.. Chúng ta lại có lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo...
Đồng chí Nguyễn Tài vừa nói tới đây thì cụ già - người dẫn đầu đoàn nhân dân địa phương vỗ tay ngắt lời, nhân dân cùng vỗ tay hoan hô theo. Ông Cụ ra hiệu, một nữ đại biểu từ trong đoàn nhân dân địa phương ra đáp lời: "Nhân dân Tân Trào rất ấn tượng đoàn đại biểu Hà Nội đã về dự Đại hội. Đại biểu vừa rồi đã nói chuyện với nhân dân nhiều ý hay, lời đẹp. Dân ở đây cũng được cán bộ Việt Minh, nhất là ông Ké dạy bảo nhiều. Hợp với ý của đại biểu vừa nói. Như vậy là xuôi ngược một lòng cứu nước. Chúc các đại biểu Hà Nội thu nhiều kết quả".
Nữ đại biểu phát biểu xong, thì nhân dân trở về bản. Đoàn đại biểu Hà Nội cũng đứng dậy, đôi bên vẫy chào nhau.
Ông cụ vẫy đồng chí Nguyễn Tài lại gần, cầm tay như dắt đi. Vừa đi, vừa hỏi:
- Đồng chí thấy nữ đại biểu nói thế nào?
- Dạ, nữ đồng chí ấy nói ngắn, nhưng thể hiện trình độ khá cao. Cháu đang băn khoăn là mình nói hơi thừa...
Ông Ké tủm tỉm cười, nhẹ nhàng bảo đồng chí Tài:
- Chú cần nhớ là Hà Nội bị địch chiếm trước, trên này bị địch chiếm sau. Bây giờ trên này lại được giải phóng trước, Hà Nội vẫn bị quân giặc cướp nước thống trị. Cho nên người đi sau không nên chỉ đường cho người đi trước.
Đồng chí Nguyễn Tài giật mình nhìn ông Ké: Trời ơi! Ông già miền núi gầy gò, mảnh khánh kia nói đơn giản nhưng đầy ý nghĩa "Người đi sau sao lại chỉ đường cho người đi trước". Đồng chí Nguyễn Tài vội nắm chặt tay ông già: "Cháu hiểu ra rồi ạ". Nhìn theo bóng ông cụ bước đi, Nguyễn Tài thầm nghĩ: "Việt Minh mình có những sức mạnh, chính là ở những con người này đây".
Thấy đồng chí Nguyễn Tài đi theo ông Ké một lát rồi bần thần đứng lại, đồng chí Hoàng Đạo Thúy liền tới gần và hỏi: "Ông ké bảo gì, mà cậu ngẩn ngơ ra vậy?".
Đồng chí Nguyễn Tài kể lại lời ông Ké. Đồng chí Hoàng Đạo Thúy gật đầu bảo: "Phải nhắc nhở anh chị em mình, trò chuyện với nhân dân vùng giải phóng, phải cẩn trọng". Nhìn theo bóng ông cụ, rồi đồng chí Thúy thầm thì với đồng chí Tài: "Không khéo ông Ké ấy chính là cụ Nguyễn Ái Quốc đấy".
Đến ngày khai mạc Quốc dân Đại hội, những băn khoăn đó của hai đồng chí mới được rõ ràng: ông Ké ấy chính là cụ Nguyễn Ái Quốc.
Theo sách Những mẩu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (tập I), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2015