Không gian văn hóa Hồ Chí Minh
0 0 0 2 3 2 9 7 8 2
Đang online:
5
Hôm nay :
970
Hôm qua :
1,642
Tuần này :
3,627
Tuần trước :
6,389
Tháng này :
7,051
Tháng trước:
33,492
21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Phải chăng thế này là thực hành tiết kiệm?
39 lợn và 7 trâu chết vì ... “liên hoan”
Hai xã Đoàn Kết và Ngô Quyền (Thanh Miện) đã giết trái phép nhiều lợn và trâu dùng vào việc ăn uống “liên hoan” và mừng “xôi mới”.
Xã Đoàn Kết, trong vòng hơn một tháng đã lạm sát tới 39 con lợn:
- Ngày 23-10, ở thôn Bùi Xá, họp phụ lão giết một con; thôn Từ Xá giết bốn con; thôn Châu Quan giết bốn con để mừng “xôi mới”.
- Ngày 27-10, cán bộ xã họp vẻn vẹn chỉ có 15 người cũng giết một con. Hai ngày sau, đội văn nghệ “liên hoan” lại giết một con, rồi tiếp đến ngày 30-10 giết một con lợn khao ban quản trị đi thăm đồng định sản lượng vụ mùa (!).
- Thôn Tòng Hóa, ngoài việc giết 20 lợn, mỗi con khoảng 30 kilôgam hồi rằm tháng Bảy, ngày 28-10 cũng lại giết bốn con.
Đó là chưa kể các tiết thanh minh, ngày mồng năm tháng Năm, mỗi đội sản xuất ít ra cũng giết một con. Thậm chí, có cán bộ chủ chốt hợp tác xã, gia đình có việc cũng giết luôn một lợn.
Tại xã Ngô Quyền, ngoài lợn, thời gian qua đã giết cả thảy bảy trâu, trong đó năm con đem thui, không lột da bán cho Nhà nước.
Việc lạm sát lợn của xã Đoàn Kết và thui trâu ở xã Ngô Quyền trái với Chỉ thị 83 và 305 của Nhà nước về quản lý thực phẩm, không làm trọn nghĩa vụ đóng góp thực phẩm cho Nhà nước.
Một ngày giết 52 con lợn
Cuối tháng 10 vừa qua, xã Hồng Lạc (huyện Thanh Hà) đã tự động giết 52 con lợn to dùng vào việc ăn uống, tiễn đội cải tiến lên đường.
(Trích báo Hải Dương mới, 7-12 và 10-12-1966)
93 vụ chi, 39 vụ ăn
Nghe 93 vụ chi trong đó có 39 vụ ăn mà người ta mệnh danh là “liên hoan” ấy, hẳn khối người ngạc nhiên.
Thưa rằng: Đấy là câu chuyện có thật ở Hợp tác xã H. (Tiên Lãng). Thôi thì đủ cách liên hoan: tổng kết đội sản xuất, tổng kết vụ mùa ở hợp tác xã, rồi nào tổ khoa học, kỹ thuật, Chi đoàn thanh niên, dân quân... Thế rồi, cuối cùng có cái tổng kết mà ai cũng giãy lên như phải bỏng, đó là chi phí sản xuất. Như Hợp tác xã H. chẳng hạn, chi phí sản xuất chiếm 60%. Gọi là chi phí sản xuất chứ nào có chi cho sản xuất, cho thâm canh bao nhiêu đâu, mà chi cho ngoài sản xuất lại nhiều. Hợp tác xã H. có hơn 100 vụ chi, thì 93 vụ chi sai nguyên tắc, trong đó có 39 vụ ăn uống mất đứt đi 925 đồng. Xin trích ra đây một vài vụ chi:
- Liên hoan duyệt 11 biểu mẫu thống kê sản xuất: 92 đồng.
- Liên hoan khánh thành vườn ương: 48 đồng.
- Liên hoan với cán bộ cải tiến quản lý (một người): 89 đồng 36.
- Liên hoan hội nghị phụ nữ: 94 đồng 80.
- Liên hoan hội nghị lão thành: 26 đồng.
- v.v..
Cứ như đà này, nhân dịp được mùa, Hợp tác xã H. còn bao nhiêu vụ liên hoan nữa. Dễ thường bước vào sản xuất Đông - Xuân, sau “liên hoan” mùa rồi liên hoan “xuống cày”, “xuống bừa”, “xuống đồng”, “xuống bèo”, v.v. chăng? Và kiểu này thì chi phí sản xuất hẳn phải lên đến 70 - 80% và như vậy thì:
Nhẹ làm mà lại nặng chi,
Một mai rồi biết lấy gì mà xơi.
(Trích báo Hải Phòng, 2-12-1966)
Xin hỏi các đồng chí Tỉnh ủy Hải Dương và Thành ủy Hải Phòng cùng các đồng chí Huyện ủy Thanh Miện, Thanh Hà và Tiên Lãng có biết những việc này không?
CHIẾN SĨ
--------------------------
- Báo Nhân Dân, số 4641, ngày 22-12-1966, tr.2.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd,t.15, tr.218-220. 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Kẻ cướp nói chuyện "hòa bình"
Câu chuyện rằng: Làng Xuân gồm có hai xóm, xóm Trong và xóm Ngoài.
Cả làng làm ăn rất vui vẻ. Bỗng một lũ kẻ cướp từ phương xa đến đánh chiếm xóm Trong. Chúng cướp của giết người, hãm hiếp phụ nữ, đốt phá nhà cửa, hủy hoại ruộng vườn... Chúng mua chuộc mấy đứa bất lương trong xóm làm tay sai cho chúng. Vốn có truyền thống anh hùng, dân xóm Trong đã nổi dậy nện cho lũ cướp giập đầu chảy máu.
Thấy không khuất phục được làng Xuân, lũ cướp một mặt thì kêu gào dân làng "bàn bạc cách giải quyết hòa bình". Mặt khác lại ồ ạt đưa thêm bọn lâu la vào xóm Trong. Không mắc lừa mưu mô xỏ lá của lũ cướp, dân làng Xuân kiên quyết bảo chúng: "Làng này là làng của chúng tao. Chúng mày là kẻ xâm lược. Trước hết, chúng mày phải cút khỏi làng này. Nếu chúng mày chần chừ, thì chúng tao sẽ đẩy chúng mày xuống biển"... Lũ cướp bèn kêu lên: "Xin thiên hạ làm chứng cho, chúng tôi muốn giảng hòa, nhưng làng Xuân không muốn!...".
Giặc Mỹ cứ rêu rao cái điệu bịp bợm là "đàm phán không điều kiện". Chúng làm ra vẻ chúng muốn hòa bình và đổ lỗi cho Việt Nam là hiếu chiến. Nhưng mỗi lần chúng nói đến "hòa bình", y như là một lần chúng đưa thêm lính để mở rộng chiến tranh xâm lược ở miền Nam nước ta.
Số lính Mỹ đến miền Nam:
Tháng 1-1965 là 23.000 tên
Tháng 4 29.000 -
Tháng 12 180.000 -
và đang tiếp tục đưa vào nhiều hơn nữa.
Vỏ quýt dày, thì móng tay nhọn. Lính Mỹ vào càng đông, thì nhân dân miền Nam hạ chúng càng nhiều. Thí dụ, số lính Mỹ bị tiêu diệt:
Tháng 9-1965 là 1.690 tên
Tháng 10 3.000 -
Tháng 11 5.300 -
Quân và dân miền Nam càng đánh càng thắng, càng mạnh.
Năm 1963 tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn địch.
Năm 1964 - 7 -
Năm 1965 - 50 -
(trong số đó có 4 tiểu đoàn tinh nhuệ nhất của Mỹ).
Giặc Mỹ khoe khoang lực lượng "vô địch" của không quân chúng. Nhưng quân và dân miền Nam đã bắn rơi và phá hủy gần 2.500 chiếc máy bay Mỹ và miền Bắc đã bắn rơi gần 850 chiếc. Về quân sự, rõ ràng thế ta đang thắng, Mỹ đang thua. Về chính trị, thì ta cả nước đoàn kết một lòng, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Nhân dân thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đều đồng tình ủng hộ ta, đều lên án và đòi Mỹ phải cút khỏi miền Nam Việt Nam. Giặc Mỹ thì ngày càng sa lầy về quân sự và cô lập về chính trị.
Tuy vậy, chúng ta không được chủ quan khinh địch. Chúng ta còn phải vượt nhiều khó khăn trên con đường đi đến thắng lợi hoàn toàn. Nhưng với tinh thần gang thép, chúng ta vừa dũng cảm chiến đấu, vừa ra sức sản xuất và tiết kiệm, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh thì chắc chắn là Mỹ nhất định thua.
Ta nhất định thắng!
CHIẾN SĨ
------------------------
- Báo Nhân Dân, số 4283, ngày 26-12-1965, tr.4.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.690-691. 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Phải cấy chiêm xong trước Tết
.Năm 1966, mặc dù nhiều nơi bị hạn hán và bị địch bắn phá, sản xuất nông nghiệp vẫn đạt kết quả khá. Vụ mùa nói chung là tốt. Ở Thái Bình và một số tỉnh khác, có 15 huyện và 825 hợp tác xã đạt bình quân hơn 5 tấn thóc một hécta cả năm.
Có kết quả tốt đẹp đó là do cán bộ và xã viên cố gắng thi đua sản xuất, thực hành khẩu hiệu “ăn no đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.
Vụ sản xuất Đông - Xuân năm nay nhiều nơi làm tiến bộ hơn các năm trước.
Nhiều hợp tác xã đã gieo mạ đúng kỹ thuật. Công tác thuỷ lợi nhỏ nhiều nơi làm được khá. Việc trồng rau màu, nhất là rau xanh và khoai lang đã tăng khá.
Về vụ chiêm, các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Thái Bình, Yên Bái và Hà Nội, v.v., đã cày bừa xong. Khu vực Vĩnh Linh đã cấy được hơn 70% diện tích. Các tỉnh Nam Hà, Thái Bình, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Hoà Bình đã làm được từ 6 đến 8 tấn phân để bón cho một hécta lúa.
Như thế là khá.
Nhưng còn nhiều nơi có thiếu sót, ví dụ:
- Cày bừa ruộng chiêm quá chậm, như Thanh Hoá đến nay mới cày bừa được gần 70% diện tích.
- Cán bộ lãnh đạo ở một số tỉnh, huyện và xã ít đi kiểm tra đôn đốc và giúp đỡ nhân dân cấy chiêm cho nhanh, vì thế một số mạ quá già mà chưa cấy.
- Việc chăm sóc trâu bò chưa tốt, như Thái Bình, Lạng Sơn, Hà Bắc, Hưng Yên, Nam Hà, v.v., đã để một số trâu bò chết rét.
Như thế là không tốt.
Hiện nay đang thời vụ cấy chiêm. Để bảo đảm thắng lợi vụ sản xuất Đông - Xuân, góp phần thiết thực vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, cán bộ và bà con xã viên ta phải nắm vững công việc quan trọng nhất trước mắt là tích cực chiến đấu chống giặc Mỹ bắn phá và tập trung lực lượng cấy xong lúa chiêm trước Tết.
Các cấp ủy đảng và chính quyền ở tỉnh, huyện, xã phải thiết thực giúp đỡ các hợp tác xã cho tới khi cấy chiêm xong.
Bà con xã viên phải cày bừa kỹ, cấy đúng kỹ thuật, chớ làm dối. Phải chăm sóc tốt trâu bò, không để trâu bò đói, rét, không bắt trâu bò làm việc quá sức.
Các hợp tác xã cần trồng nhiều rau màu hơn nữa và cố gắng bảo đảm diện tích cây công nghiệp.
Cần đề phòng hạn hán vào những tháng sắp tới.
Từ nay đến Tết chỉ còn ít thời gian, nhiệm vụ thì rất khẩn trương. Các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương và bà con xã viên phải quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, cày cấy cho tốt và kịp thời để giành lấy một vụ chiêm thắng lợi.
T.L.
-------------------
- Báo Nhân Dân, số 4665, ngày 15-1-1967, tr.1.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd,t.15, tr.269-270. 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Ngày này năm xưa: Bác Hồ gửi thư khen quân và dân Thanh Hóa
Trang nhất Báo Quân đội Nhân dân số 2083 ngày 7-3-1967 có đăng “Hồ Chủ tịch gửi thư khen quân và dân Thanh Hóa".
Trong thư gửi đồng bào, bộ đội và cán bộ tỉnh Thanh Hóa, Bác viết: "Ngày 1-3-1967, quân và dân Thanh Hóa đã đánh giỏi, bắn rơi chiếc máy bay thứ 1.700 và 1.701 của giặc Mỹ. Trước đó, ngày 26-2 Thanh Hóa đã bắn cháy 1 tàu chiến Mỹ. Đến nay, Thanh Hóa đã bắn rơi 192 chiếc máy bay giặc Mỹ. Đó là thắng lợi chung của đồng bào cả nước, và vinh dự riêng của quân và dân Thanh Hóa”.
Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác khen ngợi đồng bào, cán bộ và bộ đội tỉnh Thanh Hóa đã đoàn kết chặt chẽ, vượt mọi khó khăn, anh dũng chiến đấu và đã thắng lợi vẻ vang.
Trong thư, ngoài khen ngợi, Bác còn căn dặn quân và dân Thanh Hóa không vì thắng lợi mà chủ quan. Phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, ra sức thi đua sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, đẩy mạnh hơn nữa công tác giao thông vận tải, hết sức làm tốt việc phòng không nhân dân. Cố gắng giành nhiều thắng lợi hơn nữa.
Hiện nay, tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa đang lưu giữ một số bức thư Bác Hồ gửi quân và dân Thanh Hóa.
Ngày 30-11-1948, Bác thay mặt Chính phủ khen ngợi đồng bào Thanh Hóa đã sửa đê, hộ đê rất tốt.
Ngày 12-10-1965, sau sự kiện phân đội 23 pháo phòng không bảo vệ cầu Đồi, tiểu đoàn 1 bộ đội địa phương và dân quân xã Xuân Lâm cùng các tổ săn máy bay của các xã lân cận phối hợp nổ súng, bắn rơi chiếc máy bay F8U vào hồi 12h20 phút, ngày 10-10-1965, Bác đã kịp thời gửi thư cho đồng bào, bộ đội và cán bộ Thanh Hóa. Trong thư Bác bày tỏ: “Rất vui lòng được biết quân và dân tỉnh ta đã bắn rơi 100 máy bay Mỹ. Như vậy 3 tỉnh Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa đều đã bắn rơi 100 máy bay Mỹ”.
Ngày 5-7-1967, Bác gửi thư khen Trung đội dân quân gái huyện Hậu Lộc sau khi trung đội bắn rơi một chiếc máy bay AD6 của giặc Mỹ vào 15 giờ ngày 16-6. Đây là đơn vị dân quân gái đầu tiên bắn rơi máy bay Mỹ bằng súng bộ binh.
Những bức thư của Người là nguồn cổ vũ động viên sâu sắc đến quân và dân Thanh Hóa, trở thành nguồn động lực để cùng cả nước đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi cuối cùng. 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Bác Hồ và đặc trưng văn học của Bác
Hồ Chí Minh, ta đã quá quen thuộc với tên gọi này của Người trong lịch sử. Người không chỉ là một lãnh tụ vĩ đại của phong trào cách mạng Việt Nam mà còn là một nhà thơ, nhà văn kiệt xuất trong nền văn học Việt Nam hiện đại
Sinh thời, Bác Hồ không hề có ý định xây dựng cho mình một sự nghiệp văn chương và Người cũng không bao giờ tự nhận mình là nhà văn, nhà thơ hay nghệ sỹ mặc dù Bác rất yêu văn thơ và cũng rất đỗi tài hoa. Từ lúc còn tuổi thơ ấu với cội nguồn là con trai của nhà phó bảng, văn học đến với Bác một cách rất tự nhiên từ những câu thơ cha đọc, những cuộc trò chuyện của quan sai và từ chính những bài dạy của thầy, của ba và của ông. Từ hồi còn trẻ, Bác đã thể hiện mình là con người của thơ văn qua các bài thơ ngẫu hứng như “Trên đèo ngang” được Bác sáng tác lúc 5 tuổi khi cả gia đình Bác vượt qua Đèo Ngang để vào kinh đô Huế hay bài thơ “Ba ông phỗng” được sáng tác dựa trên hình ảnh núi non bộ,… Những cảnh vật đơn sơ những qua cách nhìn của Bác, lại là những bức họa những vấn đề Bác thắc mắc đặt ra. Là con người nhạy cảm với văn chương, với sự nghiệp học tập thời niên thiếu đã hình thành ra cho Người luận điểm ”văn chương là vũ khí sắc bén để đấu tranh cách mạng và cũng là phương tiện rất hữu hiệu để động viên chiến sĩ, đồng bào.” – thứ ảnh hưởng rất lớn đến các tác phẩm của Bác sau này.
Văn chính luận là lĩnh vực nổi bật được Người sáng tác chủ yếu với mục đích đấu tranh chính trị, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, nhiệm vụ cách mạng của đất nước trong từng giai đoạn. Với ngòi bút súc tích, lập luận chặt chẽ, giàu tính luận chiến và đa dạng về bút pháp; bộc lộ tư duy sắc sảo, giàu tri thức văn hóa, gắn lý luận với thực tiễn, tác phẩm của Người như mũi tên cắm thẳng vào thực tế xã hội lúc bấy giờ. Có thể nhắc đến các tác phẩm như “Bản án chế độ thực dân Pháp (1925)” tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở thuộc địa, “Tuyên ngôn Độc lập (1945)” là văn kiện lịch sử công bố với toàn dân tộc và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam độc lập, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946)” là bài hịch cứu nước, đã cổ vũ tinh thần yêu nước của toàn dân đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược hay cuối cùng là “Di chúc (1969)” – tác phẩm cuối cùng và cũng là lời căn dặn và tình cảm thiết tha, là niềm tin sâu sắc của Người gửi lại toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và các thế hệ mai sau. Văn chính luận của Người - những áng văn bất hủ đã đi vào lịch sử và sẽ trường tồn cùng dân tộc ta, đã làm được nhiệm vụ của mình khi có mặt ở mọi nơi, đem lại lòng tin và sức chiến đấu cho nhân dân Việt Nam.
Truyện và kí là lĩnh vực đặc sắc trong sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Các tác phẩm này được Người viết chủ yếu bằng tiếng Pháp từ những ngày đầu sang xứ ngoại. Tác phẩm tiêu biểu thể loại phải kể đến là Tập Truyện và kí, bao gồm những sáng tác viết và đăng báo ở Pháp, chủ yếu là báo Nhân đạo - cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp. Truyện và ký được Bác sáng tác nhằm miêu tả hiện thực cuộc sống và thể hiện chúng thành những nội dung xã hội quan trọng, có liên quan đến vận mệnh của dân tộc và số phận của mỗi con người Việt Nam trong từng thời điểm lịch sử cụ thể, lồng ghép trong đó nghệ thuật trào phúng sắc bén, được viết bằng lối văn sắc sảo, cô đọng, vừa truyền thống vừa hiện đại; ý tưởng thâm thúy, kín đáo, trí tuệ sâu sắc, thể hiện tình cảm nhân đạo chủ nghĩa và tầm vóc vĩ đại của nhà cách mạng. Một số tác phẩm nổi bật như: “Lời than vãn của bà Trưng Trắc”, “Chuyện con rùa”, “Những con người biết mùi hun khói”, “Vi hành”, “Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu”. Hay Nhật ký chìm tàu”, “Vừa đi đường vừa kể chuyện”, “Giấc ngủ 10 năm”… Tất cả các tác phẩm này nhằm vạch trần bộ mặt tàn ác, xảo trá, bịp bợm của chính quyền thực dân qua đó đem lại cho người đọc những rung cảm sâu xa và nhận thức lớn lao với một tinh thần nhân đạo chủ nghĩa.
Ngoài văn xuôi, Bác còn để lại một di sản thơ ca vô cùng quan trọng bao gồm thơ ca thơ ca tuyên truyền cách mạng và thơ ca trữ tình. Với khoảng 250 bài thơ, trong đó có hơn 100 bài thơ chữ Hán, được sáng tác chủ yếu từ khi về nước (1941) cho tới cuối đời viết bằng Tiếng Hán và Tiếng Việt. Tiêu biểu cho thể loại thơ ca phải nhắc đến tập thơ “Nhật ký trong tù” được sáng tác năm 1942-1943, gồm 134 bài thơ tứ tuyệt viết bằng chữ Hán, khi Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam ở Quảng Tây (Trung Quốc) hơn một năm trời. Ngoài ra cũng phải kể tới một số bài thơ viết bằng chữ Hán và Tiếng Việt mang tính chất tức cảnh thiên nhiên, thể hiện tinh thần lạc quan, tình yêu thiên nhiên, đất nước như “Thượng sơn”, “Đăng Sơn”, “Nguyên tiêu”, “Báo tiệp”, “Tặng Bùi Công”, “Tức cảnh Pắc Bó”, “Cảnh khuya”, “Đi thuyền trên sông Đáy”...; chùm bài thơ tặng đồng bào thi đua sản xuất và chiến đấu; chùm bài thơ chúc tết đồng chí đồng bào, thơ thù tiếp, thơ tặng, những vần thơ lẻ rải rác ứng khẩu trong các bài nói chuyện với chiến sĩ, đồng bào,…
Trong lĩnh vực văn chương, Hồ Chí Minh là một cây bút xuất sắc với đa phong cách. Song, dù viết dưới hình thức nào, thể loại nào, sáng tác của Người cũng nhất quán trong nghệ thuật viết: ngắn gọn, trong sáng, giản dị mà sâu sắc, kết hợp hài hoà giữa cổ điển và hiện đại, chính trị và văn học, thể hiện sức sáng tạo linh hoạt, chủ động trong vận dụng các hình thức thể loại, bút pháp, thủ pháp nghệ thuật khác nhau, nhằm đạt mục đích thiết thực trong từng tác phẩm. Người nhất quán được mục đích của mình luôn đặt ra câu hỏi và xác định rõ xác định rõ: Viết cho ai? Viết để làm gì? Và viết cái gì? Viết như thế nào? Đó chính là ý thức, là trách nhiệm của người cầm bút. Cả cuộc đời hy sinh vì đất nước vì hai từ dân tộc, cả cuộc đời cống hiến hết mình vì sự độc lập tự do của đồng bào cả nước, Người đã để lại kho tàng giá trị là câu văn, dòng chữ, thơ ca? Không đó là tư tưởng, là giá trị, là mục đích sống được thuấn nhuần trong từng từ ngữ, không chỉ là kết tinh của dân tộc mà còn cả của nhân loại.
Sự nghiệp văn học của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh gắn liền với tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam, có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học và đời sống tinh thần của dân tộc. Đó là di sản vô giá. 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 1. Búp sen xanh
- Tác giả: Sơn Tùng
- Nxb Văn học
- Năm xuất bản: 2009
Tác phẩm “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng được viết trong khoảng từ năm 1948 đến năm 1980. Cuốn sách đã khắc họa rõ nét cuộc đời đầy những gian truân của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại từ lúc mới sinh cho đến khi Người rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước. Nhà văn Sơn Tùng đã viết rất nhiều tác phẩm về Bác, mỗi tác phẩm là một câu chuyện riêng nhưng hình ảnh Bác Hồ hiện lên qua những câu chuyện đó rất đỗi bình dị, giản đơn. Tuy nhiên “Búp sen xanh” vẫn là tác phẩm nổi tiếng, tiêu biểu, thành công.
Tác phẩm được nhà văn chia làm 3 chương: “Thời thơ ấu”, “Thời niên thiếu” và “Tuổi hai mươi”. Nhà văn Sơn Tùng đã làm sống lại cuộc đời và sự nghiệp của Bác giữa một làng quê tuy nghèo khó nhưng giàu truyền thống yêu nước, đoàn kết, gắn bó nghĩa tình và đặc biệt được sinh ra trong gia đình nho giáo rất nền nếp, gia phong. Bằng cái nhìn biện chứng về mối quan hệ giữa con người với truyền thống lịch sử, văn hóa, tác giả đã miêu tả thành công một tính cách sinh động thuở hình thành nhân cách từ khi là một cậu bé hiếu thảo, thông minh, nhanh nhẹn và ham học hỏi đến một chàng thanh niên tên Nguyễn Tất Thành khôi ngô, đầy nhiệt huyết đến bến cảng Nhà Rồng rời quê hương, gia đình, người thân sang xứ người tìm con đường cứu dân, cứu nước khi mới chỉ 21 tuổi và trở thành lãnh tụ cách mạng giàu nhân cách sau này.
Trong bìa của cuốn “Búp sen xanh”, có một lời đề từ trang trọng của tác giả:“Các bậc thiên tài không có sẵn. Chính truyền thống gia đình, quê hương là khởi thủy tạo nên những tính cách đầu tiên của mỗi con người và đi vào đời…”.
Năm 1983, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết “Lời tựacho lần xuất bản thứ hai của tiểu thuyếtBúp sen xanh”:“Chúng ta có một khẩu hiệu rất đúng, rất hay: "Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta". Đúng như vậy, Hồ Chủ tịch sống mãi trong tư tưởng và tình cảm lớn, trong toàn bộ hoạt động cách mạng của nhân dân Việt Nam ta, của mọi người chúng ta. Đồng thời Hồ Chủ tịch cũng sống mãi trong những tác phẩm văn học và nghệ thuật có giá trị diễn tả một cuộc đời đã trở thành lịch sử, những trang sử đẹp nhất và vẻ vang nhất của dân tộc Việt Nam ta.
Đến đây, tôi muốn nói đôi điều về cuốn tiểu thuyết “Búp sen xanh” của nhà văn Sơn Tùng, mà nhiều độc giả, nhất là trong giới thanh, thiếu niên ưa thích; và báo chí nước ta đã đăng những bài bình luận và đánh giá mà theo tôi biết, tác phẩm rất chú trọng. Cuốn sách “Búp sen xanh” nêu lên một vấn đề: Ở đây tiểu thuyết và lịch sử có thể gặp nhau không? Vấn đề này các đồng chí hoạt động trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật và nói chung tất cả chúng ta cần suy nghĩ để có thái độ. Song ở đây cũng vậy, lời nói có trọng lượng rất lớn thuộc về người đọc, nghĩa là nhân dân.”
Nhiều năm trở lại đây, cuốn sách này đã được đưa vào tủ sách vàng của nhiều nhà xuất bản, được in đi in lại nhiều lần, được dịch sang tiếng Anh và được in song ngữ. 20/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh GIÁ TRỊ VÀ SỨC SỐNG 5 TÁC PHẨM TIÊU BIỂU CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài, người sáng lập và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, khai sinh ra Nhà nước Việt Nam mới. Người suốt đời phấn đấu hy sinh cho độc lập tự do của Tổ quốc, cho hạnh phúc của Nhân dân. Người đã được UNESCO vinh danh là anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hoá lớn. Trong toàn bộ di sản tư tưởng, tinh thần mà Người để lại cho dân tộc, có nhiều tác phẩm tiêu biểu, đánh dấu những sự kiện quan trọng, gắn với những bước ngoặt trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Trong số đó, có 5 di sản đã được công nhận là bảo vật quốc gia: gồm Đường Kách mệnh, Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước và bản Di chúc. Các tác phẩm tiêu biểu được xếp hạng bảo vật quốc gia cũng như toàn bộ di sản của Người đều tỏ rõ những tư tưởng, tình cảm, phương pháp, hành động cách mạng mà Người muốn thể hiện và để lại cho các thế hệ mai sau, để tất cả chúng ta mãi mãi học tập và làm theo một các
1. Tác phẩm “Đường Kách mệnh”
Cách đây hơn 9 thập kỉ, năm 1927, "Đường Kách mệnh" - cuốn sách tập hợp các bài giảng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dùng để đào tạo lứa cán bộ đầu tiên cho cách mạng Việt Nam giai đoạn 1925-1927 ở Quảng Châu (Trung Quốc), lần đầu tiên được xuất bản. Đây là một tác phẩm lý luận chính trị đặc biệt quan trọng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, vạch ra mục tiêu, con đường và phương pháp cách mạng Việt Nam vào những năm 20-30 của thế kỷ XX, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người ra khỏi tình trạng bị áp bức, nô dịch bởi chủ nghĩa tư bản.
“Đường Kách mệnh” vừa là tài liệu huấn luyện cán bộ - những hạt giống đầu tiên của phong trào cách mạng Việt Nam,vừa là tác phẩm truyền bá chủ nghĩa Mác –Lênin vào trong nước, đồng thời chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, lý luận cho sự ra đời của chính đảng cách mạng – Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong tác phẩm này, Người nêu rõ những chuẩn mực đạo đức của những người cách mạng. Đó phải là những người có nhân cách, đạo đức và phẩm hạnh thì mới tiếp thu được tinh thần của lý luận, mới làm tròn nhiệm vụ cách mạng khó khăn. "Đường Kách mệnh" cũng trình bày một cách hệ thống những vấn đề cơ bản của lý luận cách mạng, làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối của cách mạng Việt Nam. Tác phẩm là cuốn "cẩm nang" gối đầu giường của thế hệ cách mạng đầu tiên của Việt Nam, dưới ánh sáng của "Đường Kách mệnh", những học trò của Nguyễn Ái Quốc đã về nước hoạt động, cùng Người chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; phát động, tổ chức, lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh, làm nên thắng lợi Cách mạng tháng Tám 1945, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc.
Đã 94 năm trôi qua, nhưng nhiều vấn đề có liên quan đến con đường, phương pháp cách mạng, xây dựng, tổ chức, đoàn kết các lực lượng cách mạng, về vai trò lãnh đạo của Đảng, công tác xây dựng Đảng vững mạnh, nhất là các chuẩn mực đạo đức của người cộng sản ... trong "Đường Kách mệnh" vẫn giữ nguyên tính thời sự và có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa Xã hội ở nước ta hiện nay, nhất là đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Đại hội lần thứ XIII của Đảng. 20/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng trước đây lấy tên là Nguyễn Ái Quốc), sinh ngày 19/5/1890 ở làng Kim Liên, xã Nam Liên (nay là xã Kim Liên), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; mất ngày 02/9/1969 tại Hà Nội.
Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, lớn lên ở một địa phương có truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm. Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên thiếu và thanh niên của mình, Hồ Chí Minh đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong trào đấu tranh chống thực dân, Hồ Chí Minh sớm có chí đuổi thực dân, giành độc lập cho đất nước, đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào.
Với ý chí và quyết tâm đó, tháng 6/1911, Hồ Chí Minh đã rời Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc.
Ngày 03/6/1911, Nguyễn Tất Thành nhận thẻ nhân viên lên con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin với cái tên là Văn Ba. Hai ngày sau, 05/6/1911 con tàu rời cảng Nhà Rồng đến Pháp.
Từ năm 1912 - 1917, dưới cái tên Nguyễn Tất Thành, Hồ Chí Minh đến nhiều nước ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hoà mình với nhân dân lao động. Qua thực tiễn, Hồ Chí Minh cảm thông sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ. Hồ Chí Minh sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới và tích cực hoạt động nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do.
Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh trở lại Pháp, hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp.
Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Hồ Chí Minh đã gửi tới Hội nghị Vécxây (Versailles) bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa.
Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản, Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Năm 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa. Tháng 4/1922, Hội xuất bản báo “Người cùng khổ” (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Nhiều bài báo của Nguyễn Ái Quốc đã được đưa vào tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, xuất bản tại Paris năm 1925. Đây là một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, góp phần thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng.
Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, làm việc tại Quốc tế Cộng sản. Tháng 10/1923, tại Hội nghị Quốc tế Nông dân lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân và là đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ tịch của Hội đồng. Tiếp đó tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội Quốc tế Thanh niên lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Tại các đại hội, Nguyễn Ái Quốc kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc.
Tháng 11/1924, với tư cách là Uỷ viên Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản và Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc). Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc làm việc trong đoàn cố vấn Bôrôđin của Chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên.
Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trực tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cách mạng, ra tuần báo “Thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện được tập hợp in thành sách “Đường Kách mệnh” - một văn kiện lý luận quan trọng đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam.
Tháng 5/1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Mátxcơva (Liên Xô), sau đó đi Béclin (Đức), đi Brúcxen (Bỉ), tham dự phiên họp mở rộng của Đại hội đồng Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc, sau đó đi Ý và từ đây về châu Á.
Từ tháng 7/1928 đến tháng 11/1929, Nguyễn Ái Quốc hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở Xiêm (Thái Lan), tiếp tục chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long, thuộc Hồng Kông (Trung Quốc). Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam.
Tháng 6/1931, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Anh bắt giam tại Hồng Kông. Đầu năm 1933, Nguyễn Ái Quốc được trả tự do.
Từ năm 1934 đến năm 1938, Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc thuộc địa tại Mátxcơva (Liên Xô). Kiên trì con đường đã xác định cho cách mạng Việt Nam, Người tiếp tục theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước.
Tháng 10/1938, Người rời Liên Xô sang Trung Quốc, bắt liên lạc với tổ chức Đảng chuẩn bị về nước.
Ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc.
Tháng 5/1941, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng, quyết định đường lối cứu nước trong thời kỳ mới, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Tháng 8/1942, lấy tên là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội Quốc tế chống xâm lược sang Trung Quốc tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian một năm 14 ngày bị tù, Người đã viết tập thơ “Nhật ký trong tù” với 133 bài thơ chữ Hán. Tháng 9/1943, Hồ Chí Minh được trả tự do.
Tháng 9/1944, Hồ Chí Minh trở về căn cứ Cao Bằng. Tháng 12/1944, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị của Hồ Chí Minh, Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân đã họp quyết định Tổng khởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Tháng 8/1945, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ra mắt Chính phủ lâm thời do Người làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; tổ chức Tổng tuyển cử tự do trong cả nước, bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam.
Ngày 01/01/1946, Chính phủ liên hiệp lâm thời được thành lập do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
Tháng 01/1946, Quốc hội khóa I đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 02/3/1946, Chính phủ liên hiệp kháng chiến được thành lập do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Ngày 3/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc hội giao nhiệm vụ thành lập Chính phủ mới do Người làm Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng Chính phủ (từ 11/1946 đến 9/1955) và kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (từ 11/1946 đến 1947).
Cùng với Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam phá tan âm mưu của đế quốc, giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng.
Ngày 19/12/1946, người kêu gọi cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, bảo vệ và phát triển những thành quả của Cách mạng Tháng Tám.
Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành được thắng lợi to lớn, kết thúc bằng chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ (7/5/1954).
Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (1955) Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
Tháng 10/1956, tại Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ X (khóa II), Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng, kiêm làm Tổng Bí thư của Đảng.
Tại Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) đã nhất trí bầu lại Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.
Quốc hội khóa II, khóa III đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Năm 1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Người động viên toàn thể nhân dân Việt Nam vượt mọi khó khăn gian khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quí hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh mất ngày 02/9/1969, tại Hà Nội.
Trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho nhân dân Việt Nam bản Di chúc lịch sử, căn dặn những việc Đảng và nhân dân Việt Nam phải làm để xây dựng đất nước sau chiến tranh. Người viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.
Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân Việt Nam đã đoàn kết một lòng đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ, buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam.
Mùa xuân năm 1975, với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân Việt Nam đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thực hiện mong ước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người sáng lập ra Đảng Mácxít - Lêninnít ở Việt Nam, sáng lập ra Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập ra các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế. Người là tấm gương sáng của tinh thần tập thể, ý thức tổ chức và đạo đức cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc
Từ ngày 20/10 đến ngày 20/11/1987, trong khóa họp lần thứ 24 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã thông qua Nghị quyết số 24C/18.6.5, lấy năm 1990 nhân dịp Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, để tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là "Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam", góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.
Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập với thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./. 20/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm và khẳng định vai trò quan trọng của phụ nữ Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.
Những năm tháng tại đầu nguồn Pác Bó, trong diễn ca "Lịch sử nước ta", Người đã khẳng định: "Phụ nữ ta chẳng tầm thường - Ðánh Ðông, dẹp Bắc làm gương để đời"(1). Người từng căn dặn: "Hai Bà Trưng để lại cho phụ nữ Việt Nam một truyền thống vẻ vang là dũng cảm kháng chiến...”(2) thì: Phụ nữ Việt Nam ta cũng phải xứng đáng là con cháu Hai Bà. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ của thực dân, phong kiến, trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Cùng với sự đổi đời của toàn thể dân tộc, phụ nữ Việt Nam – tầng lớp bị đày đọa khổ cực nhất trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, đã hăng hái đứng lên làm chủ vận mệnh của mình. Ngay trong cuộc Tuyển cử phổ thông đầu phiếu ngày 6-1-1946, Hồ Chí Minh vui sướng nhận ra rằng "Phụ nữ là tầng lớp đi bỏ phiếu hăng hái nhất". Sau khi đã trở thành Chủ tịch Nước, Người vẫn luôn giành tình cảm sâu sắc cho những người phụ nữ. Năm 1952, nhân dịp kỷ niệm Ngày Quốc tế phụ nữ, Người đã gửi thư ngợi khen: "Non sông gấm vóc Việt Nam do Phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ"(3).
Đáp lại những tình cảm to lớn, sự quan tâm sâu sắc đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phụ nữ Việt Nam đã ra sức lao động, chiến đấu góp phần quan trọng vào cuộc kháng chiến Pháp và chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Đặc biệt, từ năm 1964 khi đế quốc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc xã hội chủ nghĩa đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lúc này, chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước. Tất cả chúng ta hãy đoàn kết nhất trí, triệu người như một, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”(4), nhân dân cả nước đã ra quân với khí thế cách mạng to lớn; lớp lớp thanh niên tình nguyện lên đường ra mặt trận với tinh thần “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, hàng chục vạn phụ nữ tình nguyện đảm nhiệm “việc nước, việc nhà” để chồng, con yên tâm ra trận. Tháng 3-1965 (nhân dịp kỷ niệm lần thứ 15 Ngày toàn quốc chống Mỹ: 3/1950-3/1965) Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam kêu gọi phụ nữ toàn quốc khắc sâu lòng căm thù đế quốc Mỹ, biến căm thù thành quyết tâm đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, Trung ương Hội đã phát động phong trào “Ba đảm nhiệm” trong phụ nữ toàn miền Bắc với nội dung:
1. Phụ nữ đảm nhiệm sản xuất và công tác thay thế cho chồng con đi chiến đấu.
2. Phụ nữ đảm nhiệm việc gia đình cho chồng, con, anh em tòng quân và phục vụ lâu dài trong quân đội.
3. Phụ nữ đảm nhiệm phục vụ chiến đấu, tham gia dân quân tự vệ, tập luyện quân sự để sẵn sàng chiến đấu; phục vụ bộ đội, công an, dân quân tự vệ khi chiến đấu.
Quan tâm tới phong trào thi đua yêu nước của các tầng lớp nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý tới phong trào của chị em phụ nữ, Người đã chỉ thị sửa từ “Ba đảm nhiệm” thành “Ba đảm đang”. Tuy chỉ thay đổi một chữ nhưng đã phản ánh được đúng bản chất của người phụ nữ Việt Nam trong gian khó. Từ “Ba đảm nhiệm” đến “Ba đảm đang”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên dấu ấn đặc biệt cho phong trào phụ nữ. Và Người luôn theo dõi sát sao phong trào của chị em. Ngay từ những ngày đầu khi phong trào mới ra đời, trong “Lời kêu gọi nhân ngày 20-7” năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi: “Chị em phụ nữ hãy thực hiện thật tốt “Ba đảm đang” góp phần đắc lực đánh thắng giặc Mỹ xâm lược…”(5).
Do đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, phong trào đã nhanh chóng phát triển thành cao trào cách mạng sôi nổi, rộng lớn, huy động được sức mạnh tổng hợp của hàng chục triệu phụ nữ từ nông thôn tới thành thị, từ miền ngược đến miền xuôi, trên mọi lĩnh vực hoạt động; biến tiềm năng cách mạng của phụ nữ thành hiện thực sinh động, thành nguồn sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn, góp phần đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Ngay sau khi phát động, từ tháng 3 đến tháng 6-1965, toàn miền Bắc đã có 1,7 triệu phụ nữ đăng ký thực hiện “Ba đảm đang”.
Để kịp thời động viên phong trào, chiều ngày 2-12-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm Đại hội những phụ nữ xuất sắc trong phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ Hà Nội. Phát biểu tại Đại hội, Người nói: “Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng, thanh niên Việt Nam là thanh niên anh hùng, phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng. Hai nghìn năm trước đây, ta có các nữ anh hùng Hai Bà Trưng, Bà Triệu. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, trong kháng chiến chống giặc Pháp trước kia và trong kháng chiến chống giặc Mỹ ngày nay, ta cũng có nhiều anh hùng là phụ nữ. Trên thế giới chưa có nơi nào phụ nữ làm Phó Tổng tư lệnh như ở miền Nam nước ta. Thi đua với phụ nữ miền Nam là đẩy mạnh sản xuất, thực hành tích kiệm, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh. Khó khăn đến mấy chúng ta cũng vượt qua được và nhất định chúng ta đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược”(6).
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên mặt trận lao động sản xuất, công tác, hàng chục triệu phụ nữ đã không quản ngày đêm và bom đạn của kẻ thù, vừa hăng hái thi đua lao động sản xuất, công tác, vừa sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Trong sản xuất nông nghiệp, với tinh thần “Ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí” các nữ nông dân “tay cày, tay súng” đã sôi nổi thi đua đảm đang thay nam giới làm chủ ruộng đồng, tham gia quản lý hợp tác xã, nhiều chị là chủ nhiệm giỏi. Trong phong trào đã xuất hiện nhiều tấm gương phụ nữ nông dân mới, dám nghĩ, dám làm, góp phần cải tạo và xây dựng nông thôn mới mà tiêu biểu là 11 nữ anh hùng lao động trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ lợi như Nguyễn Thị Song (Hà Bắc), Nguyễn Thị Chén (Hà Tây), Phạm Thị Vách (Hải Hưng)…
Trong các công trường, nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ... với khẩu hiệu thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, với quyết tâm “tim có thể ngừng đập, máy không thể ngừng chạy”, hàng chục vạn nữ công nhân “tay búa, tay súng” đã sôi nổi tham gia phong trào thi đua “luyện tay nghề, thi thợ giỏi” nêu cao tinh thần làm chủ tập thể, ra sức phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật; nhiều chị liên tục hoàn thành vượt mức kế hoạch nhiều năm liền...
Luôn dõi theo phong trào thi đua “Ba đảm đang” của phụ nữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời động viên, gửi thư khen, tặng Huy hiệu, tổ chức gặp gỡ các mẹ, các chị, các nữ dân quân, du kích bắn rơi máy bay Mỹ. Nhiều phụ nữ có thành tích trong phong trào đã được Bác gửi tặng Huy hiệu của Người. Lịch sử mãi mãi khắc ghi những chiến công vẻ vang, những hành động anh hùng quả cảm, những tấm gương chiến đấu hy sinh anh dũng của những người bà, người mẹ trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Đó là, bà Đào Thị Phấn, 74 tuổi, người dân tộc Tày, xã Tam Trung, Cao Bằng có tám con đi bộ đội, một người đã hy sinh. Ở nhà, bà vẫn hăng hái tham gia công tác đoàn thể và động viên con em giúp đỡ chính quyền và bộ đội địa phương. Hay bà mẹ anh hùng Nguyễn Thị Suốt. Mặc dù lúc đó, Mẹ đã 60 tuổi, mái tóc bạc phơ nhưng khi giặc Mỹ ném bom hủy diệt Đồng Hới, hủy diệt Bảo Ninh, Mẹ vẫn hiên ngang chở bộ đội, cán bộ vượt sông Nhật Lệ an toàn, kịp thời trong làn mưa bom, bão đạn của giặc Mỹ. Với thành tích đó, Mẹ đã được Quốc hội tuyên dương anh hùng vào ngày 01-01-1967. Tới dự Đại hội Anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mang hai bó hoa đi xuống Hội trường tặng bà Nguyễn Thị Suốt, và bà Đào Thị Phấn(7). Trong lần gặp gỡ này, Bác đã thân mật hỏi chuyện Mẹ Suốt. Bác hỏi thăm Mẹ về hoàn cảnh gia đình. Khi biết cụ ông lúc đấy đã 70 tuổi, vẫn cùng xã viên hợp tác xã ra khơi, bám biển đánh cá, Bác Hồ rất cảm động và nói: “Bà là anh hùng, cụ nhà cùng thi đua với vợ anh hùng, cả dân tộc ta đều phấn đấu trở thành anh hùng…”(8). Bác chúc Mẹ Suốt giữ gìn sức khỏe và gương mẫu với con cháu, làng xóm để có cuộc sống xứng đáng nhiều người noi theo. 20/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Nhà sử học người Mỹ Josephine, trong một tham luận đọc tại Hội nghị quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 29-3-1990 có nhận xét: “Trong số các lãnh tụ là nam giới như Thomas Jefferson, Mahatma Gandhi, Vladimir Ilyich Lenin, Karl Marx, Mao Trạch Đông, Martin Luther King và Nelson Mandela, chỉ có Hồ Chí Minh là luôn luôn nói về quyền bình đẳng của người phụ nữ”. Chủ đề phụ nữ đã trở thành chủ đề lớn trong các bài phát biểu về cách mạng, các bài phát biểu về phụ nữ và với phụ nữ, trong các tác phẩm văn xuôi và trong thơ ca của Bác.
Thơ ca viết về phụ nữ mà Bác Hồ để lại, tính từ bài Cô Vượng khuyên chồng (1928) đến bài thơ Khen 11 cháu dân quân gái thành phố Huế (1968) thì số lượng thơ là đáng kể và tự nó đã nói lên một phần về sự quan tâm của Bác Hồ đối với chủ đề này.
Thơ ca viết về phụ nữ của Bác trước hết là biểu hiện tấm lòng rộng mở, yêu thương, thấu hiểu, đồng cảm và cảm thông. Ba bài thơ: Cô Vượng khuyên chồng, Thư vợ gửi chồng, Thư vợ gửi chồng đi làm cách mạng viết trước Cách mạng Tháng Tám cho thấy sự cảm thông, thấu hiểu đối với phụ nữ của Bác là rất lớn. Đọc những bài thơ này cứ tưởng như đọc những bài thơ của chính phụ nữ viết vậy. Có một sự trùng hợp ngẫu nhiên thú vị là, trong tập thơ Nhật ký trong tù cũng có ba bài thơ về tình cảnh đáng thương trong hoạn nạn, tai ương của mấy cặp vợ chồng: Vợ người bạn tù đến thăm chồng, Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng, Gia quyến người bị bắt.
Bất công, ngược đãi, ức hiếp phụ nữ là bản chất của chế độ thực dân phong kiến ở bất cứ đâu, ở bất cứ nước nào. Bác đã lớn tiếng tố cáo mạnh mẽ chế độ tàn bạo đối với phụ nữ ở khắp các châu lục, Bác dành sự quan tâm và tình thương lớn cho phụ nữ. Nhưng không một chiều, không bao giờ làm cho phụ nữ bé nhỏ đi. Cùng với tình thương yêu, Bác luôn tìm mọi cách thức tỉnh giác ngộ và khích lệ người phụ nữ tự chủ trong cuộc đời riêng, đứng lên trong cuộc đời chung. Trong bài Ca phụ nữ, Bác ca ngợi truyền thống anh hùng của phụ nữ:
Việt Nam phụ nữ đời đời
Nhiều người vì nước, vì nòi hy sinh.
Một khi phụ nữ đã đứng lên thì mọi sức mạnh được phát huy. Lời người vợ trong bài Thư vợ gửi chồng đi làm cách mạng thật rắn rỏi trong một tình thế người chồng hoạt động cách mạng không may sa vào lưới giặc, bị tù, người vợ nguyện tiếp bước trên con đường đi của chồng.
Vì anh tranh đấu mấy phen,
Vì anh mong giải phóng cháu Tiên, con Rồng.
Em xin anh chớ phiền lòng
Em tuy hèn yếu quyết thay chồng đấu tranh.
Để phát huy sức mạnh và tài năng phụ nữ, Bác đã làm sống dậy hình ảnh người phụ nữ trong lịch sử anh hùng của dân tộc qua diễn ca Lịch sử nước ta, đó là Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân xung trận dũng mãnh trăm trận trăm thắng.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và chống Mỹ cứu nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, vai trò và sức mạnh của phụ nữ càng được phát huy, phụ nữ có mặt ở mọi nơi, trên khắp các mặt trận. Bác rất tự hào về những tấm gương phụ nữ anh dũng chiến đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Mỗi khi chị em lập chiến công hoặc đạt thành tích xuất sắc, Bác động viên, biểu dương và khen ngợi kịp thời. Chị Mạc Thị Bưởi hy sinh anh dũng, Bác viết bài thơ:
Vì lòng yêu nước nồng nàn
Nêu gương oanh liệt muôn ngàn đời sau.
Trong cuộc Tổng tiến công mùa Xuân Mậu Thân 1968, được tin các nữ dân quân thành phố Huế lập chiến công, Bác xúc động có thơ Khen 11 cháu dân quân gái thành phố Huế:
Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường
Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường
Bác khen các cháu dân quân gái
Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương.
Bác thực sự coi phụ nữ là lực lượng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Bác tôn trọng phụ nữ, đề cao vai trò phụ nữ và chăm lo cho sự phát triển của phụ nữ. Bác coi việc giải phóng phụ nữ là mục tiêu của cách mạng và sự nghiệp giải phóng phụ nữ bao giờ cũng gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, gắn liền với độc lập, tự do của Tổ quốc. Tương lai phát triển của phụ nữ đi cùng với bước tiến của đất nước.
Trong hai cuộc trường kỳ kháng chiến, khẩu hiệu vừa chiến đấu vừa sản xuất mà Bác và Đảng đề ra được quán triệt và trở thành hành động cụ thể, là việc làm hằng ngày. Bác nêu điển hình trong Thư Bác Hồ gửi Mẹ Nguyễn Thị Đào, một bà mẹ vì nước vì dân đã hiến dâng cả 6 người con cho Tổ quốc. Lời thơ là lời người mẹ mà cũng là lời non nước, tình nhà nghĩa nước quyện chặt, tiền tuyến hậu phương là một, hiện tại và tương lai kết nối, phơi phới tin yêu:
Con đi đi, đi đi con
Đánh Tây để giữ nước non Lạc Hồng
Bao giờ kháng chiến thành công
Con về giúp mẹ vun trồng lúa khoai.
Biết bao tấm gương những mẹ, những chị, những em, những cháu gái đã góp phần làm nên truyền thống anh hùng, làm nên chiến thắng lẫy lừng trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, làm nên những kỳ tích trong xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Bác luôn luôn nhắc nhở mọi người câu nói của Karl Marx: Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tiến bộ như thế nào. Bác đã tặng phụ nữ Việt Nam 8 chữ vàng: Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang. Hơn ai hết, Bác vững tin ở phụ nữ: Lòng vàng gan sắt nào đà kém ai. 20/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Trăm sông về lại Biển Đông/ Bắc Nam sẽ lại về trong một nhà”. Câu thơ trong trường ca “Ba mươi năm đời ta có Đảng” của nhà thơ Tố Hữu viết từ năm 1960, sau 15 năm đã trở thành hiện thực: Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bắc - Nam sum họp một nhà. Đó là dự báo thiên tài của Đảng ta, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của một tất yếu lịch sử đấu tranh giữ nước, bảo vệ độc lập, thống nhất Tổ quốc.
Tháng 4 này, cả nước hân hoan kỷ niệm 48 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, chúng ta càng tự hào, biết ơn, tưởng nhớ công lao vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các bậc tiền bối cách mạng, các anh hùng liệt sỹ, đồng bào, đồng chí đã ngã xuống cho non sông liền một dải.
Từ lúc đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã mang trong mình một khát vọng cho cả dân tộc là giải phóng đất nước, thống nhất giang sơn. Chính nơi Người ra đi tìm đường cứu nước, vào trưa 30/4/1975, lá cờ chiến thắng của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam đã tung bay trên nóc phủ Tổng thống chính quyền Sài Gòn. Thật xúc động, tự hào rưng rưng đến trào nước mắt trong giờ phút “toàn thắng về ta”. Vinh dự cho thành phố Sài Gòn - Gia Định, vào năm 1976 được mang tên TP Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng.
Mong ước giải phóng miền Nam với Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành mục tiêu hàng đầu, xuyên suốt không gì có thể lay chuyển được. Ý chí quyết tâm ấy đã khơi dậy được tư tưởng, tình cảm, ý thức tự tôn, tự cường, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của cả dân tộc kết thành sức mạnh vĩ đại để đánh đuổi kẻ thù.
Niềm tin vào sức mạnh của dân tộc đã được Người khẳng định suốt “ba mươi năm ấy chân không nghỉ” trong hành trình giải phóng dân tộc. Năm 1946, trước khi lên đường sang Pháp, trong “Thư gửi đồng bào Nam Bộ”, Bác viết: “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”(1). Đó là lập trường kiên định, thông điệp mạnh mẽ về một nước Việt Nam thống nhất.
Hơn 4 tháng sau, trong “Lời tuyên bố với quốc dân sau khi đi Pháp trở về”, Bác Hồ tiếp tục khẳng định: “Hỡi đồng bào Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ. Trung, Nam, Bắc, đều là đất nước Việt Nam. Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên. Tôi trân trọng hứa với đồng bào rằng: Với quyết tâm của đồng bào, với quyết tâm của toàn thể nhân dân, Nam Bộ nhất định trở lại cùng thân ái chung trong lòng Tổ quốc”(2).
Chính vì tâm nguyện suốt đời của Người là giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Bác đã cùng Đảng ta vạch đường, chỉ lối cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước qua từng thời kỳ phù hợp với cách mạng Việt Nam. Từ phong trào Đồng Khởi (1960) ở Bến Tre phát động một tuần lễ toàn dân đồng khởi, diệt ác ôn, phá thế kìm kẹp, giải phóng nông thôn, làm chủ ruộng vườn đến những trận đánh vang dội sau đó đã khẳng định ý chí, sức mạnh của đồng bào miền Nam và cả dân tộc. Từ cuộc tổng tấn công và nổi dậy đồng loạt tết Mậu Thân năm 1968, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, đến mở ra một cục diện mới, buộc đế quốc Mỹ phải thương lượng với ta ở Hội nghị Paris.
Năm 1968 đã trở thành dấu mốc quan trọng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Vào thời khắc giao thừa năm đó, Bác Hồ đã có thơ chúc tết: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/ Thắng trận tin vui khắp nước nhà/ Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/ Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta”(3). Bài thơ ngắn gọn, trang nghiêm mà phóng khoáng đã khẳng định “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua”.
Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đã buộc Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải ký kết Hiệp định Paris vào ngày 27/1/1973 - chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Tiếp đến là chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” đã thể hiện ý chí, bản lĩnh, khí phách Việt Nam… Đó là những bước tập dượt, những đòn đánh quyết định, những chiến công chiến lược để đi đến cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối, toàn dân tộc đã thực hiện được trọn vẹn tâm nguyện của Người.
Trong bản Di chúc đề ngày 10/5/1969, Người đã thể hiện tình cảm, niềm tin mãnh liệt của đồng bào miền Nam về sự nghiệp giải phóng đất nước với sự tiên đoán chính xác vận mệnh dân tộc. Đó là “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn… Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”(4).
Tâm nguyện, mong ước của Người sau 6 năm đã trở thành hiện thực. Chiến thắng 30/4 trở thành mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đó là chiến thắng được xem là huy hoàng nhất, vĩ đại nhất của Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Đó là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, đỉnh cao của khí phách và trí tuệ con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Suốt 45 năm kể từ năm 1930 - khi Đảng ta ra đời, 30 năm sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, cả dân tộc ta kiên cường chiến đấu, hy sinh để đi tới thắng lợi trọn vẹn “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, cho “Bắc Nam sum họp”, thực hiện ước nguyện của Bác Hồ, khát vọng của cả dân tộc.
30/4 trở thành ngày chiến thắng, ngày sạch bóng quân thù, ngày thống nhất non sông, ngày đoàn tụ - Bắc Nam sum họp, ngày hòa hợp dân tộc, ngày mà cả dân tộc cùng nhìn về một hướng, cùng chung một con đường. Nhớ lại niềm vui to lớn của ngày đại thắng mùa Xuân năm 1975, nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Ôi! buổi trưa nay, tuyệt trần nắng đẹp/ Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta/ Chúng con đến xanh ngời ánh thép/ Thành phố tên Người, lộng lẫy cờ hoa”(5). Đó cũng là khúc khải hoàn ca của dân tộc vang mãi muôn đời.
Chiến thắng 30/4/1975 đã mở ra trang mới cho lịch sử dân tộc Việt Nam, là động lực để chúng ta tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước, quê hương “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
(1) Theo Hồ Chí Minh toàn tập - CD rom (xuất bản lần thứ ba), tập 4, trang 281;
(2) Theo Hồ Chí Minh toàn tập - CD rom (xuất bản lần thứ ba), tập 4, trang 467;
(3) Theo Hồ Chí Minh toàn tập - CD rom (xuất bản lần thứ ba), tập 15, trang 417.
(4) Bác Hồ viết Di chúc và Di chúc của Bác Hồ. NXB Chính trị quốc gia 2007, trang 422.
(5) Nhớ lại một thời - Tố Hữu. NXB Hội Nhà văn 2000, trang 422. 20/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Giao thông là mạch máu của tổ chức. Giao thông tốt thì mọi việc dễ dàng. Giao thông xấu thì các việc đình trệ”. Câu nói giản dị của Bác không chỉ nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của ngành Giao thông vận tải (GTVT) trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà còn là lời nhắc nhở nhiệm vụ đối với những người làm công tác giao thông vận tải trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Ngay từ những ngày chưa giành được chính quyền, Nguyễn Ái Quốc đã có bài thơ “Phu làm đường: Dãi gió, dầm mưa chẳng nghỉ ngơi/Phu đường vất vả lắm ai ơi/Ngựa xe, hành khách thường qua lại/Biết cảm ơn anh được mấy người?” (Bản dịch của Nam Trân)[1]. Bài thơ là sự cảm thông, chia sẻ sâu sắc tình cảm của Người với những người làm giao thông trong những năm tháng đất nước còn nô lệ.
Năm 1946 ngay sau khi mới thành lập nước, ngay trong bài “Công việc khẩn cấp bây giờ”, viết ngày 5/11/1946, Bác Hồ đã xác định: ““Giao thông là mạch máu của tổ chức. Giao thông tốt thì mọi việc dễ dàng. Giao thông xấu thì các việc đình trệ”[2]. Năm 1947, trong “Thư gửi các đồng chí Trung Bộ”, tư tưởng này được Người khẳng định lại.Người căn dặn “Cầu đường là mạch máu của một nước... Cầu đường tốt thì nhiều việc dễ dàng và thuận lợi hơn. Vì vậy, làm cầu đường cũng như một chiến dịch. Người làm cầu đường cũng như là chiến sỹ”[3] và “Trong thiết kế phải đồng bộ đường sá, hệ thống thoát nước, lưới điện... tránh cản trở sự đi lại của nhân dân. Phải có quy hoạch trước, tránh làm rồi lại phá đi".Sinh thời, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến sự nghiệp phát triển giao thông vận tải nói chung và cầu đường nói riêng. Ngày 16/9/1953 Bác Hồ gửi Thư cho Hội nghị cán bộ Giao thông công chính; trong Thư, Bác động viên: “Năm nay công tác giao thông vận tải, nhất là công tác sửa chữa cầu đường rất là quan trọng. Đường sá thông thì mọi việc đều dễ dàng” [4]. Đây là thời điểm toàn quân, toàn dân ta bước vào cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 – 1954: Chiến dịch Thượng Lào, Chiến dịch Biên Giới và chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên phủ.Bác Hồ không quên gửi thư động viên và dành những tình cảm đặc biệt đối với những cán bộ, công nhân viên ngành Cầu đường tiêu biểu như anh Nguyễn Văn Thường ở Xí nghiệp Cầu 2 (nay là Công ty cổ phần Cầu 12), thậm chí các tấm gương quần chúng như bà cụ Năm (Cao Bằng) dù 83 tuổi vẫn xung phong sửa đường. Trong Thư gửi cán bộ và dân công cầu đường, tháng 4/1954, Bác viết: “Năm nay ta phải làm nhiều cầu đường hơn nữa. Anh chị em dân công và cán bộ phải ra sức học tập kinh nghiệm; hăng hái thi đua, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, tăng năng suất để hoàn thành công tác. Đó là thiết thực góp phần vào hai nhiệm vụ trung tâm đánh giặc và cải cách ruộng đất. Đặc biệt các cô, các chú phải kiên quyết chống lãng phí”[5].Ngày 24/3/1968 trong bài nói chuyện tại Đại hội thi đua bảo đảm GTVT quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, Bác Hồ nói: “Giao thông vận tải có nhiều ngành. Có ngành thủy, bộ, có xe, có cầu, có phà...Các cô các chú phải thi đua với nhau. Thi đua làm cho giao thông: một là, thông suốt, hai là an toàn, ba là liên tục. Phải nhằm vào ba cái đó mà thi đua”[6].Ngày 27/01/1969 trong “Thư khen Đội thanh niên xung phong số 333” – Thanh niên xung phong Nghệ An, Bác viết “Suốt 4 năm nay Đội Thanh niên xung phong số 333 nhận nhiệm vụ làm đường, sửa cầu ở một số nơi địch thường đánh phá ác liệt, có nhiều khó khăn gian khổ. Đội gồm phần lớn các cháu gái đã dũng cảm chiến đấu, tích cực lao động, có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, bảo đảm cầu đường được thông suốt hơn”. Sau khi khen ngợi, Bác Hồ dặn dò: “Bác nhắc nhở các cháu:- Phải nêu cao ý chí chiến đấu, tinh thần cảnh giác cách mạng, cùng quân, dân ta quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.- Luôn luôn đoàn kết, ra sức học tập chính trị, kỹ thuật, văn hóa để ngày càng tiến bộ.- Đem hết nhiệt tình, tài năng của tuổi trẻ cống hiến thật nhiều cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước”Thực hiện những di huấn của Bác Hồ, trong lịch sử 70 năm (1945 – 2015) hình thành, phát triển và trưởng thành, lớp lớp thế hệ cán bộ, công nhân, lao động ngành GTVT Việt Nam, trong đó có Cầu đường Việt Nam đã luôn theo lời chỉ dạy của Bác Hồ, luôn nỗ lực phấn đấu, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.Chúng ta không thể nào quên được hình ảnh những công nhân mở đường phục vụ các chiến dịch tiến tới chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Tuy không được đầu tư nhiều về tài chính, các công cụ làm đường còn rất thô sơ, không thiếu thốn nhưng sức dân, sự đoàn kết và dũng cảm của toàn quân, toàn dân đã mở ra những kỳ tích của ngành Giao thông vận tải. Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, ngành Cầu đường đã hy sinh xương máu “Sống bám cầu, bám đường; chết kiên cường [7]. dũng cảm”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, ngành Cầu đường Việt Nam đã lập nên những kỳ tích huy hoàng, đã đi đầu trong cuộc kháng chiến với tất cả những con đường có thể mở được, từ đường mòn Hồ Chí Minh trên bộ, đường Hồ Chí Minh trên biển, nhất là trong việc vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí cho chiến trường miền Nam, góp phần quan trọng vào chiến thắng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ oanh liệt, góp phần làm nên chiến thắng lịch sử mùa Xuân năm 1975.Dù trong hoàn cảnh nào cán bộ công nhân viên ngành Cầu đường Việt Nam cũng luôn nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vượt lên mọi gian khổ, hy sinh, cả đơn vị kết thành ý chí sắt đá, với tinh thần “địch phá ta sửa ta đi” và cao hơn nữa là “địch phá ta cứ đi” Dù trong hoàn cảnh nào cán bộ để đảm bảo cho mạch máu giao thông thông suốt, an toàn; bảo vệ các cuộc hành quân, trú quân của bộ đội; cứu người và tài sản của Nhà nước và nhân dân, phát huy sức mạnh đoàn kết, hiệp đồng chiến đấu với các lực lượng và nhân dân trên địa bàn đảm bảo cho giao thông thông suốt.Nhớ câu nói của Bác về ngành Cầu đường, chúng ta không thể không nhớ đến những anh hùng, liệt sỹ, những tấm gương đã dũng cảm hy sinh để bảo vệ những con đường ra tiền tuyến. “Tim có thể ngừng đập nhưng đường không thể tắc”, “Sống bám cầu, bám đường; chết kiên cường dũng cảm”, không quản hy sinh gian khổ cho những chuyến hàng chi viện miền Nam đánh thắng giặc Mỹ: các Anh hùng LLVTND Nguyễn Thị Kim Huế, Nguyễn Tri Ân, La Thị Tám, Nguyễn Thị Bằng; các Liệt sỹ Lê Viết Lân, Hoàng Lộc, 10 nữ liệt sỹ TNXP Đồng Lộc, 13 liệt sỹ Truông Bồn và 668 cán bộ, chiến sỹ, công nhân, đội viên thanh niên xung phong Cục Công trình đã hy sinh anh dũng trên mặt trận GTVT tuyến lửa khu 4 anh hùng...Các anh các chị đã cống hiến cả tuổi xuân với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Tên tuổi và sự nghiệp của họ tô đẹp thêm truyền thống anh hùng của ngành GTVT Việt Nam và mãi mãi đi vào lịch sử như một bản hùng ca để cho thế hệ hôm nay và mai sau tưởng nhớ về một thời oanh liệt, đầy đau thương, nhưng không bao giờ quên.75 năm qua, lớp lớp thế hệ cán bộ, công nhân ngành Cầu đường Việt Nam đã luôn theo lời chỉ dạy của Bác Hồ, đi khắp mọi miền đất nước làm nên hệ thống cầu – đường hiện đại....góp phần quan trọng vào sự nghiệp hiện đại hóa, công nghiệp hóa để cho nước Việt Nam: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh ■Theo Tạp chí Cầu Đường[1] http://www.bqllang.gov.vn/chu- tich-ho-chi-minh/tac-pham/1194- nh-t-ky-trong-tu-h-chi-minh-vi- t-b-ng-ch-han-nam-1942-1943. html?showall=&start=3[2] Hồ Chí Minh, toàn tập, NXB Sự Thật, Hà Nội n.1984, t4, tr.179[3] Tư tưởng HCM về GTVT, NXB Giao thông vận tải, n.2003, tr.49[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Sự Thật, Hà Nội 1985, tr.463[5] Tư tưởng HCM về GTVT, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội 2003, tr.53-54.[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Sự Thật, Hà Nội n.1989, t.10, tr.319.[7] Tư tưởng HCM về GTVT, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội 2003, tr.95-96. 20/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nước lấy dân làm gốc; Gốc có vững, cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân. Người rất tâm đắc với câu nói dân gian: “Dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu hiện trước hết của dân là gốc là phải tin ở dân, gần gũi dân, và biết dựa vào dân; Phải có ý thức rõ “dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng”. Muốn hoàn thành nhiệm vụ, muốn biến đường lối chủ trương của Đảng thành phong trào quần chúng, thành sức mạnh cách mạng thì Đảng phải có đường lối đúng đắn; cán bộ đảng viên “phải liên lạc mật thiết với dân chúng, xa rời dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”. Cán bộ đảng viên còn phải học hỏi dân, “nếu không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân”, mà “muốn hiểu biết, học hỏi dân thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm”.
Theo Hồ Chí Minh phải thực hiện dân chủ với dân để phát huy tinh thần làm chủ của dân là cốt lõi của vấn đề dân là gốc. Người thường nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ”. Vậy quyền hạn, nghĩa vụ của người làm chủ phải thế nào? Câu trả lời của Người là: “Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi”. Và người yêu cầu: người làm chủ trước hết phải làm tròn bổn phận công dân, tức là phải tuân theo pháp luật Nhà nước; tuân theo kỷ luật lao động; giữ gìn trật tự chung; nộp thuế đúng kỳ, bảo vệ tài sản công cộng; bảo vệ Tổ Quốc. “Phải chăm lo việc nước như việc nhà”, “phải biết tự mình lo toan gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ”; “làm chủ sao cho ra làm chủ, không phải làm chủ là muốn ăn bao nhiêu thì ăn, làm bao nhiêu thì làm”.
Theo Hồ Chí Minh, thiết thực nhất của việc bồi dưỡng “cái gốc” là phải thường xuyên chăm lo đời sống cho dân, chăm lo lợi ích chính đáng của dân. Người thường nhắc tới những câu của người xưa “có thực với vực được đạo”, “dân dĩ thực vi thiên”. Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Đối với nhân dân không thể lý luận suông”. Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm lo đời sống của dân: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi. Nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi. Nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi. Nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm dân là gốc là quan điểm khoa học, toàn diện. Đó là sự kế thừa những tinh hoa dân tộc, là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Từ thực tiễn cuộc sống, Hồ Chí Minh lưu ý: “Bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng hái, hạng vừa vừa và hạng kém… Người lãnh đạo phải dùng hạng hăng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo, do hạng hăng hái đó mà nâng cao hạng vừa vừa và kéo hạng kém lên. Phải học hỏi dân chúng, nhưng “không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo”; phải “tìm ra mâu thuẫn trong những ý kiến khác nhau, xem cái nào đúng, cái nào sai” để vận dụng.
Một sự kiện được nhiều người nhắc tới là tháng 10/1949 khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở giai đoạn quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo Dân vận. Người diễn đạt rất khái quát: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân. Quan điểm của Người thật rõ ràng: Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Điều mà cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh nung nấu trăn trở là vấn đề thực hiện dân chủ với dân; làm thế nào để nhân dân “biết dùng quyền dân chủ” và “hưởng quyền dân chủ”. Ngày 6/1/1946, chỉ bốn tháng sau khi khai sinh nền Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ lâm thời do Người đứng đầu đã tổ chức cuộc tổng tuyển cử phổ thông, trực tiếp, bình đẳng lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Tháng 11/1946, Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 2 đã thông qua bản Hiến pháp do Người chỉ đạo soạn thảo. Nhà nước dân chủ, pháp quyền từ ý tưởng của Người đã dần dần trở thành hiện thực trên đất nước Việt Nam. Quan điểm của Người trong những sự kiện lịch sử này rất mẫu mực, rõ ràng: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà”, “Hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà nước của dân còn bao hàm việc dân có quyền bãi miễn Chính phủ và nhân viên chính quyền Nhà nước các cấp, nếu họ có tư tưởng hoặc việc làm có hại đến nhà nước, hại đến dân.
Nhà nước Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập là Nhà nước kiểu mới: Nhà nước của dân. Sức mạnh và sự trường tồn của nhà nước bắt nguồn từ lực lượng toàn dân đoàn kết, với tinh thần làm chủ - tự chủ. Bởi thế nhà nước ta còn là nhà nước do dân. Bác viết: “Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, “Không có lực lượng nhân dân thì việc nhỏ mấy, dễ mấy làm cũng không xong”; “Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, [Nhà nước của dân, do dân phải được thể hiện ở các chủ trương, chính sách của nhà nước trong mọi mặt đời sống xã hội là vì dân. Ngay sau khi nước nhà dành được độc lập, Người nói rõ: “… nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Nhân dân đã và sẽ mãi mãi là người làm nên lịch sử. Thực hiện tốt Di huấn của Bác về lấy dân làm gốc, chắc chắn bộ máy Nhà nước ta sẽ “chạy” đều, hiệu quả quản lý điều hành chắc chắn có hiệu lực cao. Đó là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn./. 20/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, vấn đề giải phóng con người khỏi sự áp bức bất công, bảo đảm cho phụ nữ được quyền bình đẳng với nam giới là vấn đề được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã cống hiến và hy sinh cho sự nghiệp cách mạng và giải phóng dân tộc vì độc lập tự do, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, Người luôn dành tất cả tình yêu bao la cho đồng bào, đồng chí…Và một trong những vấn đề mà Hồ Chủ tịch đặc biệt quan tâm đó chính là bình đẳng giới.
Lúc sinh thời, Người đã từng khẳng định: “Công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Đàn bà có quyền bình đẳng với đàn ông về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình”. Theo Người “Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng "; “Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa".
Vì sao Bác lại khẳng định như vậy? Hẳn chúng ta ai cũng đều biết: Phụ nữ chiếm một nửa nhân loại, nói đến phụ nữ là nói đến một nửa xã hội. Do đó, hơn ai hết, Bác Hồ là người hiểu rõ rằng: Trong xã hội, người phụ nữ là người bị áp bức, chịu đau khổ và thiệt thòi nhiều nhất. Dưới chế độ phong kiến, người phụ nữ không được coi trọng “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Trong khi đó, phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng, sẵn sàng đi với cách mạng. Người phụ nữ còn có chức năng đặc biệt: tái sản xuất sức lao động cho xã hội, thực hiện thiên chức làm vợ, làm mẹ, có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của gia đình. Vì vậy, Người đề ra nhiệm vụ cho Đảng phải chăm lo giải phóng phụ nữ.
Trong hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng không chỉ giành lại độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho nông dân nghèo, các sản nghiệp lớn cho công nhân, các quyền dân chủ tự do cho nhân dân, mà còn nhằm: "thực hiện nam nữ bình quyền". Mục tiêu này đã được Người đưa vào Chương trình của Mặt trận Việt minh. Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần tuyên bố với thế giới và quốc dân rằng: “phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân”.
Tư tưởng nam nữ bình quyền của Người còn được ghi trong luận cương của Đảng, được thể chế hoá sớm nhất trong điều 9 Hiến pháp năm 1946. Từ đó, quyền bình đẳng nam nữ được công bố và thừa nhận qua các văn bản quan trọng, Hiến pháp, pháp luật về hôn nhân và gia đình, các chỉ thị, chính sách… đối với lao động nữ. Tư tưởng của Bác phù hợp với Tuyên bố của thế giới về quyền của con người: mọi dân tộc trên thế giới đều có quyền hưởng tự do và bình đẳng.
Đánh giá cao vai trò của phụ nữ khi nhìn nhận họ là một lực lượng lao động đông đảo của xã hội, Người còn thấy rõ khả năng làm việc không thua kém nam giới của phụ nữ. Người nêu những tấm gương tiêu biểu của phụ nữ như: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Thị Định... Vì vậy, theo Người "phải kính trọng phụ nữ"; "phải thật sự bảo đảm quyền lợi của phụ nữ". Người còn nhấn mạnh:"để xây dựng được chủ nghĩa xã hội thì phải thực sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ"; và Người còn chỉ rõ rằng: "chúng ta làm cách mạng để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau".
Quan tâm tới vị trí của phụ nữ trong xã hội, đồng thời chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên rằng, một trong những nhiệm vụ của phụ nữ dưới chế độ ta là phải "hăng hái tham gia chính quyền. Người còn nói, nếu cán bộ lãnh đạo là nữ mà ít, đấy cũng là một thiếu sót của Đảng. Về nguyên nhân của tình trạng phụ nữ ít được tham gia lãnh đạo quản lý, theo chủ tịch Hồ Chí Minh đó là vì "Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi, như vậy là rất sai".
Với cương vị của một Chủ tịch nước, trong những lo lắng quan tâm chung cho đồng bào cả nước, Bác luôn quan tâm tới sự bình đẳng của phụ nữ Việt Nam. Rất nhiều lần Người phê phán những thái độ đối xử không tốt đối với phụ nữ như coi thường không tin tưởng chị em, tệ đánh vợ...Mỗi hội nghị, nếu có đại biểu nữ, Bác thường mời lên đầu, ân cần hỏi han đến chuyện gia đình con cái, đến cuộc sống và những khó khăn riêng của chị em. Bác không cho đoàn đại biểu của một tỉnh chụp chung ảnh với Bác vì trong đoàn không cử phụ nữ...Quyền lợi chính trị của chị em luôn được Bác chú ý. Bác nói Đảng và Chính phủ sẵn sàng tạo điều kiện cân nhắc và giao cho phụ nữ những chức trách quan trọng.
Cần thể khẳng định rằng không phải ai cũng có được một cái nhìn tiến bộ về phụ nữ như Bác. Suốt chiều dài của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, những lời khen ngợi động viên, những đánh giá cao của người luôn là điểm tựa tinh thần lớn lao để phụ nữ nước ta hoàn thành nhiệm vụ. Chúng ta thật xúc động khi nghe Bác nhận xét chị Nguyễn Thị Định - một người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu: “phó Tổng tư lệnh quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho Miền Nam cho cả dân tộc!” Và Bác đã thay mặt cho Đảng, Nhà nước tặng phụ nữ Miền Nam nói riêng và phụ nữ Việt Nam nói chung 8 chữ vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.
Không chỉ quan tâm đến quyền bình đẳng của nữ giới trong quan hệ xã hội mà Bác Hồ còn lo cho hạnh phúc của nữ giới trong quan hệ vợ chồng, Bác khuyên chị em ý thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình để tự đấu tranh giải phóng mình khỏi những ràng buộc phi lý kiểu “chồng chúa vợ tôi”. Bác phê phán tình trạng chồng đánh vợ và khẳng định đây là tệ nạn về mặt đạo đức và vi phạm pháp luật: “Đàn ông là người công dân, đàn bà cũng là người công dân, dù là vợ chồng, người công dân này đánh người công dân khác tức là phạm pháp”.
Trước lúc ra đi vào cõi vĩnh hằng, Bác Hồ kính yêu của dân tộc ta, người thầy vĩ đại của Đảng ta, đã để lại cho chúng ta bản Di chúc quý giá, trong đó có những dòng viết riêng cho phụ nữ Việt Nam "Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất, Ðảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Ðó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ" (Trích Di chúc).
Có thể nói rằng tư tưởng giải phóng phụ nữ, đem lại quyền bình đẳng cho phụ nữ của Bác có ý nghĩa hết sức lớn lao: tư tưởng ấy đã chỉ dẫn cho người phụ nữ Việt Nam, cổ vũ chị em trên con đường đấu tranh đi tới bình đẳng tự do cùng nhân loại tiến bộ. Tư tưởng ấy cũng cho mỗi chúng ta một bài học nhân văn: coi trọng con người, tất cả vì con người. Quán triệt sâu sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta đã vận dụng và phát triển một cách toàn diện tư tưởng của Bác về bình đẳng giới trong công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hiện nay Đảng và nhà nước ta đang đồng thời triển khai hai đạo luật về: Bình đẳng giới và Luật phòng chống bạo lực gia đình chính là thực hiện tư tưởng của Bác Hồ trong sự nghiệp đổi mới – hội nhập, xây dựng một xã hội Việt Nam giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc. 20/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp”.
Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam”, ngày 8-9-1962. Đại hội diễn ra trong bối cảnh cách mạng nước ta đang trên đà phát triển; miền Bắc đang tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Trong sự nghiệp cách mạng đó, báo chí giữ một vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ vào những thắng lợi của nhân dân ta. Đến dự và phát biểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ý kiến chỉ đạo sâu sắc, định hướng cho sự phát triển của báo chí cách mạng trong thời kỳ này. Câu nói của Bác khẳng định vai trò của tiếng nói, là một tài sản quý báu của dân tộc, không chỉ những người làm công tác báo chí mà mỗi người đều phải có ý thức giữ gìn, phát huy những giá trị to lớn của tiếng Việt trong sự nghiệp cách mạng. Lời Bác dạy năm xưa đến nay vẫn có giá trị, ý nghĩa sâu sắc, có tác dụng định hướng trong việc sử dụng ngôn ngữ sao cho đúng, chuẩn xác và phải có ý thức bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, làm cho nó lan tỏa, góp phần quan trọng đối với sự phát triển của nền văn hóa mới trong xu thế hội nhập và phát triển.
Hiện nay, quá trình hội nhập và sự giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động không nhỏ đến việc sử dụng ngôn ngữ, tiếng nói. Bên cạnh những tác động tích cực, tình trạng sử dụng tiếng Việt chưa chuẩn xác, thậm chí kết hợp với các từ ngữ nước ngoài diễn ra phổ biến. Bên cạnh đó, sự du nhập của nhiều yếu tố ngoại lai, việc sử dụng ngôn ngữ tự sáng tác trên mạng xã hội của một bộ phận giới trẻ ảnh hưởng không nhỏ đến sự trong sáng của tiếng Việt. Để giữ gìn tài sản quý báu của dân tộc không bị mai một, mỗi người chúng ta phải luôn nêu cao ý thức trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn và làm phong phú hơn vốn ngôn ngữ của mình, cả khi nói và khi viết. Không ngừng trau dồi, nâng cao trình độ sử dụng ngôn từ thuần Việt, trước hết là sử dụng chính xác, hạn chế việc dùng tiếng nước ngoài khi không cần thiết. Đặc biệt, cần kiên quyết loại bỏ việc pha trộn bừa bãi giữa tiếng Việt với tiếng nước ngoài, sử dụng các từ ngữ méo mó, biến dạng, làm mất đi giá trị vốn có của ngôn ngữ dân tộc. Trong quá trình công tác, nhất là trong công tác tuyên truyền, vận động phải căn cứ vào đối tượng và mục đích tuyên truyền để sử dụng ngôn từ cho phù hợp, dễ nghe, dễ hiểu.