Không gian văn hóa Hồ Chí Minh
0 0 0 2 3 3 1 2 9 3
Đang online:
10
Hôm nay :
506
Hôm qua :
1,975
Tuần này :
5,138
Tuần trước :
6,389
Tháng này :
8,562
Tháng trước:
33,492
18/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Anh hùng là những người thật cần, kiệm, liêm, chính, hết lòng hết sức phục vụ kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Là những người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, của giai cấp”*
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Ai là Anh hùng?”, bút danh C.B, đăng trên báo Nhân dân, số 54, ngày 17/4/1952.
Năm 1952, là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang liên tiếp giành được nhiều thắng lợi trên chiến trường, xuất hiện các tấm gương anh hùng, dũng cảm trong chiến đấu, tiêu biểu trong sản xuất của quân và dân ta. Nhiều người đã đặt câu hỏi: Ai là anh hùng? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng trước tiên phải là người có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính. Đó là những phẩm chất cao đẹp của đạo đức cách mạng: cần cù, siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, không tham lam; lòng dạ luôn ngay thẳng. Ngoài các yếu tố trên, anh hùng còn là người phải hết lòng, hết sức phục vụ kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, là đầy tớ của nhân dân. Họ là những người đặt lợi ích cách mạng cao hơn hết; có tinh thần trách nhiệm và tính tích cực hơn hết; lòng son dạ sắt, suốt đời đấu tranh vì lợi ích của cách mạng, của dân tộc, không bao giờ nghĩ đến lợi ích riêng cho mình.
Để động viên, khích lệ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thi đua hăng hái sản xuất, chiến đấu, Đảng và Nhà nước tổ chức Đại hội thi đua yêu nước lần thứ Nhất, từ ngày 1 đến ngày 6 tháng 5 năm 1952, tại chiến khu Việt Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh tới dự, chỉ đạo và phát biểu tại Đại hội. Đây là Đại hội đánh dấu những thắng lợi của phong trào thi đua diệt giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm. Thành công của Đại hội đã cổ vũ, động viên quân và dân cả nước tiến lên giành thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, tích cực hưởng ứng và thực hiện tốt phong trào thi đua yêu nước, phong trào thi đua Quyết thắng, các thế hệ sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng, hạ sỹ quan - binh sỹ Học viện Lục quânluôn ra sức học tập, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, nhân dân; có phẩm chất đạo đức, lối sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có trình độ kỹ chiến thuật tốt, làm chủ các loại vũ khí, trang bị; có ý thức tổ chức kỷ luật tự giác, nghiêm minh, đoàn kết gắn bó mật thiết với nhân dân, có tinh thần quốc tế trong sáng. Bất luận trong hoàn cảnh nào, khó khăn đến đâu sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng, hạ sỹ quan - binh sỹ Học viện cũng luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học của Toàn quân trong tình hình mới, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.
* Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, trang 379. 18/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “... Nhân dân nước nào cũng yêu chuộng hòa bình, cũng chán ghét chiến tranh, cũng muốn sống tự do độc lập”*
Đây là lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài viết chúc mừng Hội nghị Á-Phi (các nước châu Á và châu Phi), được khai mạc vào ngày 18 tháng 4 năm 1955, tại Băngđung (Inđônêxia). Tham dự hội nghị có đại biểu của 29 quốc gia, đại diện cho 1.440 triệu nhân dân châu Á và châu Phi (trong đó có đoàn đại biểu Việt Nam). Nhân dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Chúc mừng Hội nghị Á - Phi”. Người ca ngợi cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Á-Phi vì độc lập, tự do, hoà bình, dân chủ và bày tỏ sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam đối với cuộc đấu tranh của nhân dân các nước châu Á và châu Phi.
Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam phải tiến hành nhiều cuộc kháng chiến chống lại các thế lực ngoại xâm để giành và bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Trải qua những cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ, chịu đựng biết bao mất mát, hy sinh, hơn ai hết, dân tộc ta nhận rõ giá trị của hòa bình, độc lập, tự do. Bởi vậy, yêu chuộng hòa bình là một trong những truyền thống nổi bật, là nét đẹp văn hóa tiêu biểu của dân tộc Việt Nam. Kế tục truyền thống yêu chuộng hòa bình, giữ vững ý chí độc lập, tự do; trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển đã thực hiện thành công chủ trương “Giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ” vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng Học viện Lục quân luôn quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển và quan điểm: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước và vì hòa bình, ổn định ở khu vực và quốc tế. Không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học, huấn luyện, phát huy sức mạnh tổng hợp xây dựng Học viện cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
* Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, trang 416. 18/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”*
Đó là một đoạn trích trong Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plâyku, thể hiện quan điểm, tư tưởng của Bác đối với vấn đề đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và kiến thiết nước nhà.
Ngày 19 tháng 4 năm 1946, Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam được khai mạc tại Plâyku. Do ở xa, không có điều kiện đến dự Bác đã gửi thư động viên và chúc mừng Đại hội. Bức thư được viết với lời văn ngắn gọn, súc tích, khoảng 300 từ, hàm chứa trong đó những chủ trương, đường lối, chính sách đại đoàn kết của Đảng, Nhà nước, nhưng lại vô cùng thân thiết, gần gũi, chân thành như lời của những người trong một gia đình.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền Nam đã đứng lên kháng chiến, chống thực dân Pháp xâm lược. Trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, thiếu thốn và hy sinh, nhưng tinh thần chiến đấu quả cảm, anh dũng của đồng bào các dân tộc thiểu số ở mọi vùng miền của Tổ quốc đã góp phần quan trọng cùng với quân và dân cả nước làm nên thắng lợi vĩ đại trong các cuộc chiến tranh giải phóng, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quán triệt chủ trương, chính sách đại đoàn kết của Đảng, Nhà nước và lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ quân đội không phân biệt người kinh, người dân tộc thiểu số, thành phần xuất thân, nơi sinh sống, luôn nêu cao tình đồng chí, nghĩa đồng đội, đoàn kết với nhau như ruột thịt với tinh thần toàn quân một ý chí. Thực hiện chức năng đội quân công tác, Học viện Lục quân đã tích cực triển khai làm tốt công tác dân vận với nhiều mô hình, cách làm mới, hàng triệu lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia công tác vận động quần chúng, chung sức xây dựng nông thôn mới… đã trực tiếp giải quyết tốt các điểm nóng trên địa bàn đơn vị đóng quân; vận động đồng bào các dân tộc thiểu số chấp hành nghiêm mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng sức, đồng lòng xây dựng quê hương, làng bảnngày càng giàu đẹp, văn minh. Kiên quyết đấu tranh, vạch trần mọi âm mưu, thủ đoạn kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam của các thế lực thù địch.
* Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, trang 249. 18/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Lương y như từ mẫu”*
Nhân dịp Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm bệnh xá xã Vân Đình, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Khi đến đây, Người đi thăm từ phòng khám bệnh, phòng điều trị đến vườn trồng cây thuốc, nhà bếp, khu vệ sinh… Bác ân cần thăm hỏi các bệnh nhân, khen cán bộ, nhân viên đã giữ gìn bệnh xá sạch sẽ và căn dặn mọi người: “Trong công tác phục vụ cần coi trọng cả hai mặt vật chất và tinh thần. Có thuốc hay, thức ăn ngon, còn cần phải có thái độ phục vụ tốt, coi người bệnh như ruột thịt. Lương y phải như từ mẫu”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người thầy thuốc (lương y) phải là người có lòng nhân ái, thương yêu người bệnh như mẹ hiền (từ mẫu) thương yêu các con của mình. “Lương y phải như từ mẫu” là y đức, đặt nền tảng chính là sự “Tôn trọng sinh mạng con người”. Vì vậy, đã là người thầy thuốc thì phải coi trọng đức - nhân, tận tình chăm sóc người bệnh, vì quyền lợi, sức khỏe của người bệnh, không phân biệt đối xử, luôn công bằng và trung thực.
Thực hiện lời dạy của Người, lực lượng quân y Học viện Lục quân luôn trau dồi y đức, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn để chăm sóc bệnh nhân. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh các y, bác sĩ Học viện vẫn ngày đêm tận tụy cứu chữa, chăm sóc người bệnh.
Lời dạy của Bác về y đức vẫn còn nguyên giá trị và trở thành phương châm, tôn chỉ mục đích nghề nghiệp cho những người làm công tác y tế, để hướng tới mục tiêu thay đổi nhận thức, thái độ, phong cách phục vụ người bệnh, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, ứng xử, củng cố niềm tin và sự hài lòng của người bệnh, xây dựng hình ảnh đẹp của người cán bộ y tế theo đúng phương châm: “Bệnh nhân đến đón tiếp niềm nở, bệnh nhân ở chăm sóc tận tình, bệnh nhân về dặn dò chu đáo”.
* Nguồn: Lời căn dặn khi Người tới thăm bệnh xá Vân Đình, tỉnh Hà Tây. Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội 2004, trang 146. 18/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Biết đồng sức,
Biết đồng lòng,
Việc gì khó,
Cũng làm xong”*
Là những câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài thơ Hòn Đá, đăng trên báo Việt Nam độc lập, số 123, ra ngày 21 tháng 4 năm 1942.
Bài thơ “Hòn đá” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Người sáng tác trong thời kỳ vận động cách mạng đầy khó khăn, gian khổ bởi các thế lực thực dân, phong kiến cấu kết với nhau hòng ngăn chặn làn sóng đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Người đã dùng hòn đá làm nên một hình tượng văn học rất gần gũi, giản dị khiến mọi người, từ già đến trẻ ai cũng hiểu “Hòn đá” ấy là những thế lực nào; bọn chúng dù có xảo quyệt, ngoan cố và tàn bạo đến đâu thì với sự đoàn kết, nhất trí, triệu người như một, đồng lòng hiệp lực nhất định cuối cùng nhân dân ta cũng sẽ giành được thắng lợi.
Đoàn kết luôn là yếu tố hạt nhân trong tư tưởng Hồ Chí Minh; vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người luôn chăm lo xây dựng sự đoàn kết thống nhất của toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn quân và đoàn kết với nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Thực tế lịch sử đã chứng minh, nhờ đoàn kết, chung sức, chung lòng, nhân dân Việt Nam đã luôn chiến thắng trước mọi kẻ thù xâm lược, dù đó là kẻ địch lớn mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Do đó, trong bài thơ “Hòn đá”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định hòn đá dù to và nặng thế nào nhưng nếu nhiều người đoàn kết lại sẽ nhấc được nó một cách dễ dàng. Ngược lại, nếu không đoàn kết, chỉ thực hiện một cách đơn lẻ thì sẽ không bao giờ thực hiện được. Suy rộng ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nói rằng, nếu chúng ta biết đoàn kết thì kẻ thù lớn như hòn đá nặng kia, sớm muộn cũng sẽ bị tiêu diệt. Đoàn kết chiến thắng giặc ngoại xâm, đồng thời đoàn kết cũng là cội nguồn thắng lợi của mọi việc.
Đoàn kết thống nhất là một vấn đề thuộc về truyền thống, bản chất và nguyên tắc xây dựng của Quân đội ta. Vì vậy, việc quán triệt và vận dụng những quan điểm về đoàn kết, thống nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải là một nhiệm vụ thường xuyên, là nền tảng quan trọng làm nên bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của quân đội, là lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng; là nguồn cội tạo nên sức mạnh để Quân đội ta “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Thực tế đã chỉ rõ, thành công trong xây dựng và thắng lợi trong chiến đấu là bắt nguồn từ sự đoàn kết thống nhất trong tổ chức, giữa lãnh đạo và quần chúng, giữa nhân dân và bộ đội, tiền tuyến và hậu phương, cán bộ và chiến sĩ. Quân đội ta là một quân đội cách mạng. Cán bộ, chiến sĩ trong quân đội ta là những người cùng lý tưởng, bình đẳng về chính trị, thống nhất về mục tiêu và nhiệm vụ chiến đấu. Mối quan hệ trên dưới, quan hệ cán bộ và chiến sĩ trong quân đội ta được xây dựng trên cơ sở tình cảm cách mạng, tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí giữa những người bạn chiến đấu chung một lý tưởng. Vì vậy, trong quan hệ hằng ngày đối với đồng chí, đồng đội thì phải thực sự thương yêu, lấy tập thể làm gia đình, lấy đồng chí, đồng đội làm anh em, đơn vị là nhà; cán bộ, chiến sĩ đoàn kết, đồng cam cộng khổ, tin tưởng lẫn nhau, quan tâm giúp đỡ để cùng nhau tiến bộ, cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ. Kiên quyết đấu tranh với bệnh thờ ơ, vô cảm, quân phiệt… làm ảnh hưởng đến truyền thống đoàn kết tốt đẹp trong cán bộ, chiến sĩ, ảnh hưởng đến thanh danh, uy tín của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.
* Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, trang 270. 18/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo, thì nông dân mới được giải phóng. Cũng chỉ có thắt chặt liên minh với nông dân thì giai cấp công nhân mới lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi”*
Trích trong Báo cáo tình hình và nhiệm vụ tại Hội nghị lần thứ III của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, tháng 4 năm 1952 do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định giai cấp công nhân là giai cấp tiến bộ nhất, cách mạng nhất, là hạt nhân của khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức; bởi họ là giai cấp kiên quyết, triệt để, có tổ chức, có kỷ luật, đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ. Do đó, khi phân tích đặc điểm của các giai cấp trong xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định chỉ có giai cấp công nhân mới gánh vác được sứ mệnh lãnh đạo toàn dân đánh đổ chế độ tư bản và đế quốc để xây dựng một xã hội mới. Để hoàn thành được sứ mệnh vẻ vang đó, giai cấp công nhân phải có chính Đảng cách mạng với chủ nghĩa Mác-Lênin làm cốt.
Giai cấp nông dân Việt Nam là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là đồng minh chắc chắn nhất của giai cấp công nhân và là đội quân chủ lực của cách mạng. Tuy vậy, họ không thể là lực lượng lãnh đạo cách mạng vì họ không gắn liền với một phương thức sản xuất mới và không có hệ tư tưởng độc lập, họ cũng không có khả năng tự xây dựng một chế độ xã hội mới. Đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng giai cấp và các tầng lớp trong xã hội Việt Nam những năm đầu của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo, phát triển những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và thành công trong việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam - một nước thuộc địa, nửa phong kiến với việc bổ sung phong trào yêu nước cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân. Người đã nhận rõ sức mạnh to lớn từ phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, mà lực lượng đông đảo, nòng cốt là giai cấp nông dân.
Trong tình hình mới, Đảng ta khẳng định rõ: Đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân từ nhân dân mà ra, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Tuy thành phần xuất thân, thành phần giai cấp của cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân nói chung và Học viện Lục quân nói riêng đa dạng, song cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tốt công tác giáo dục, xây dựng bản chất giai cấp công nhân, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng cho cán bộ, chiến sĩ đơn vị; xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt quân dân, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân ngày càng vững mạnh.
* Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, trang 392. 18/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Chính sách của chúng ta vốn là chính sách thực hiện hòa bình và ủng hộ hòa bình. Song hòa bình ắt phải ra sức tranh lấy, phải dùng lực lượng tranh lấy, phải do kháng chiến thắng lợi mà tranh lấy. Quyết không nên ảo tưởng không ngồi chờ nó đến”*
Trích trong Báo cáo tình hình và nhiệm vụ tại Hội nghị lần thứ III của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa II, tháng 4 năm 1952 do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày.
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu, yêu chuộng hoà bình và luôn tôn trọng mối quan hệ với các dân tộc anh em, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đại diện tiêu biểu cho lẽ sống đó. Khát vọng hòa bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện qua mong muốn giải quyết xung đột giữa các dân tộc bằng con đường đàm phán hòa bình, việc tiến hành chiến tranh chỉ là giải pháp bắt buộc cuối cùng khi hoàn toàn không còn khả năng đàm phán. Không chỉ vậy, ngay cả khi chiến tranh đã bùng nổ, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục kiếm tìm giải pháp thương lượng hòa bình với điều kiện tiên quyết là kẻ thù phải thực sự tôn trọng nền độc lập của Việt Nam. Tư tưởng hòa hiếu, khát vọng hòa bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở chỗ khi kẻ thù sa lầy và muốn xuống thang chiến tranh thì sẵn sàng đàm phán để kẻ thù rút lui. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đánh giặc không phải là tiêu diệt hết lực lượng của đội quân xâm lược, mà chủ yếu là đánh bại ý chí xâm lược của chúng. Thiết tha yêu chuộng hòa bình, cố gắng giải quyết mọi xung đột bằng con đường đàm phán hòa bình, kể cả phải chấp nhận một sự nhân nhượng có nguyên tắc, nhưng cũng kiên quyết chống lại các cuộc chiến tranh xâm lược với ý chí và quyết tâm dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập; chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ để bảo vệ hòa bình một cách thực sự.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, Đảng, Nhà nước tiếp tục kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Song, chúng ta cũng luôn nêu cao cảnh giác, không ngừng xây dựng lực lượngvũ trang, xây dựng nền quốc phòng toàn dânvững mạnh;kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Muốn vậy, phải phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của cả nước. Đó là sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, của thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc phát triển ở trình độ cao; khi đất nước xảy ra chiến tranh thì “cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc”, thực hiện chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện; trong đó quân đội luôn là lực lượng nòng cốt.
Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng, hạ sỹ quan - binh sỹ Học viện Lục quân luôn gương mẫu đi đầu trong học tập và làm theo lời Bác dạy, được thể hiện sâu đậm ở bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; luôn nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.
* Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, trang 388. 18/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Đối với những người viết báo chúng ta, cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng...” *
Trích trong Điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng Hội Nhà báo Á-Phi, năm 1965. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người làm báo, trước hết là chiến sĩ cách mạng - người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, phải đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ công tác quan trọng Đảng, Nhà nước giao cho. Hơn nữa, người làm báo nắm trong tay công cụ, phương tiện thông tin đại chúng cực kỳ quan trọng đối với đời sống xã hội hiện đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tự trau dồi đạo đức, phong cách của người chiến sĩ trên mặt trận báo chí và chính Người đã đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển của báo chí cách mạng nước ta. Người căn dặn những người làm báo Việt Nam “Cán bộ báo chí cũng là chiến sỹ cách mạng. Cây bút, trang viết là vũ khí sắc bén của họ. Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình, cán bộ báo chí cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng”.
Là một bộ phận của báo chí cách mạng Việt Nam, là thành tố quan trọng trong hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, báo chí quân đội có vai trò quan trọng đối với việc giữ vững phương hướng chính trị của Đảng, bảo đảm
cho đường lối quân sự của Đảng được quán triệt sâu sắc, được tuyên truyền sâu rộng và thực hiện sáng tạo, hiệu quả trong quân đội. Báo chí quân đội còn có vai trò quan trọng cung cấp thông tin định hướng dư luận, tuyên truyền giáo dục nhằm không ngừng nâng cao giác ngộ chính trị, củng cố niềm tin, tăng cường sự nhất trí về chính trị tư tưởng, bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ thành người quân nhân cách mạng, góp phần vào xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về chính trị, xây dựng Quân đội cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Hiện nay, đội ngũ phóng viên báo chí quân đội đã có chuyển biến trên nhiều mặt được đào tạo cơ bản với trên 85% trình độ đại học và trên đại học, được rèn luyện trưởng thành trong thực tế, đại bộ phận báo chí trong quân đội đều khẳng định được vị trí và phát huy tốt vai trò của mình, uy tín tốt, thực sự là diễn đàn tin cậy của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Cùng với đội ngũ phóng viên chuyên nghiệp, lực lượng cộng tác viên cũng có vai trò rất quan trọng trong công tác thông tin tuyên truyền để kịp thời phản ánh tình hình của các cơ quan, đơn vị; đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết, Chỉ thị, Kế hoạch… của Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng đến với bộ đội. Do đó, đối với mỗi phóng viên, mỗi cộng tác viên của các cơ quan báo chí quân đội phải luôn trau dồi phẩm chất chính trị vững vàng, có chuyên môn cao và đạo đức nghề nghiệp trong sáng; tăng cường kỷ luật kỷ cương; phải luôn coi mình là một chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng - văn hoá, lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh chống lại các thế lực phản động, thù địch, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; chủ động thông tin bác bỏ những nội dung bôi nhọ, bịa đặt, vu khống, gây chia rẽ nội bộ, định hướng dư luận xã hội, hướng quân và dân vào những giá trị chân, thiện, mỹ, tạo sự đồng thuận trong xã hội.
* Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 14, trang 540. 18/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.
Thành công, thành công, đại thành công”*
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Bài nói chuyện tại Đại hội Đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II năm 1961. Người muốn gửi đến quốc dân đồng bào thông điệp về sức mạnh của tinh thần đoàn kết, đoàn kết rộng rãi, đoàn kết chặt chẽ, đoàn kết thực sự. Thấy rõ vai trò quan trọng của đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Theo Bác, để giải phóng một dân tộc cũng như để xây dựng một chế độ mới đều cần huy động sức mạnh toàn dân. Đoàn kết toàn dân vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng và là mục tiêu đấu tranh trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.
Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc mang bản sắc riêng nhưng đều nằm trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Vì vậy, Người kêu gọi đồng bào các dân tộc không phân biệt Kinh hay Thổ, Mường hay Mán,… phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để cùng xây dựng Tổ quốc chung, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc. Với các tôn giáo, Người nhắc nhở phải luôn gắn liền lợi ích tôn giáo với lợi ích chung của dân tộc. Phải đoàn kết giữa đời và đạo, giữa yêu nước và phụng đạo. Dù là lương hay giáo, đồng bào cũng phải yêu thương đùm bọc nhau, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận, ấm no, xây dựng Tổ quốc. Người nhắn nhủ:Đoàn kết thì thành công và đại đoàn kết thì sẽ đại thành công.
Thực hiện lời Bác dạy về sức mạnh của tinh thần đại đoàn kết, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam đã luôn đề cao thực hành và giữ gìn sự đoàn kết, gắn bó và đã trở thành lời thề danh dự của người quân nhân. Tinh thần hệ đoàn kết trong quân đội, nhất là đoàn kết trong cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ chủ trì ngày càng vững chắc; cán bộ, chiến sĩ thương yêu giúp đỡ nhau như anh em một nhà. Toàn quân đoàn kết, thống nhất một lòng trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, phấn đấu thực hiện mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Thực hiện chức năng đội quân công tác và tiếp tục phát huy tốt mối quan hệ đoàn kết quân dân, thực hiện quân với dân một ý chí, các cơ quan, khoa, đơn vị tại Học viện Lục quân luôn sát cánh cùng nhân dân, kính trọng dân, giúp đỡ dân và bảo vệ dân. Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng, hạ sỹ quan - binh sỹ Học viện luôn xung kích đi đầu trong giúp dân phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm hoạ, chung sức xây dựng nông thôn mới… góp phần quan trọng vào việc xây dựng thế trận lòng dân ngày càng vững chắc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước, Nhân dân và danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.
* Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 13, trang 119. 18/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, ta cần một số cán bộ thật nhiều và thật tốt, toàn tâm toàn lực phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân”*
Là lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Những trường học lớn và tốt”, Báo Nhân dân đăng số 180, từ ngày 26 đến ngày 30 tháng 4 năm 1954.
Đây là giai đoạn cao điểm của Chiến dịch Điện Biên Phủ - trận quyết chiến, chiến lược của quân và dân ta nhằm đánh thắng đội quân viễn chinh xâm lược Pháp có tiềm lực kinh tế, quân sự, vũ khí, trang bị hiện đại, để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Do vậy, rất cần có đội ngũ cán bộ hùng hậu, có đức, có tài, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân để giành thắng lợi. Đồng thời, xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ, nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng và toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung, đúng như khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Mọi việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém.
Theo Bác, cán bộ tốt hoặc kém là người có cả đức và tài mới đủ năng lực đảm đương mọi công việc khó khăn, gian khổ, dù bất luận trong mọi hoàn cảnh nào đều nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Dù trên cương vị nào? làm công tác gì? đều đem hết nhiệt huyết, trách nhiệm làm đến nơi, đến chốn; luôn nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng và làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, góp phần cho kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công.
Thực hiện nghiêm túc huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cấp ủy, tổ chức Học viện Lục quân đã quan tâm lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học qua từng giai đoạn, thời kỳ, bảo đảm có lực lượng kế tiếp, kế cận hùng hậu, chất lượng ngày càng cao. Đội ngũ cán bộ các cấp trong Học viện, nhất là cấp cơ sở được quan tâm đào tạo, quy hoạch, sử dụng đúng người, đúng năng lực, chuyên môn, luôn đề cao trách nhiệm, tận tâm, tận lực với công việc, nêu gương về phẩm chất đạo đức, lối sống và công việc, gần gũi, sâu sát bộ đội, được bộ đội tin yêu, tín nhiệm.
Những luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ đến này vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng và phát triển để xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, thực hiện thắng lợi sự nghiệp giáo dục -đào tạo và nghiên cứu khoa học của Học viện trong thời mới.
* Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, trang 462. 18/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Muốn trở nên người quân nhân mới, xứng đáng với cái vinh hạnh đứng trong quân đội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thì mỗi chiến sĩ, từ trên đến dưới, các cấp bậc đều phải nghiên cứu, học tập, luôn luôn cầu tiến bộ” *
Trong tư tưởng quân sự của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức một cách sâu sắc rằng người chiến sĩ chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Người chiến sĩ quân đội mới phải có bản lĩnh chính trị, tri thức về quân sự, trình độ văn hoá và sức khoẻ dồi dào, là những con người dám “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Lời dạy trên được Bác viết trong Thư gửi Quân sự Tập san năm 1948.
Việc học, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải quán triệt quan điểm “Nghiên cứu mà không thực hành là nghiên cứu suông. Thực hành mà không nghiên cứu thì thường hay bị mù quáng. Vậy cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ, dồi dào thêm”. Bác nói về mục đích của học tập: “Học để tiến bộ mãi, càng tiến bộ càng thấy cần phải học”. Người cũng chỉ ra phương pháp học tập: “Học ở nhà trường, học ở thầy, học ở bạn, học trong sách vở và học nhân dân”. Quá trình lao động, làm việc là quá trình tự học tập, tích lũy, bổ sung kinh nghiệm và đúc kết kiến thức từ thực tiễn.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, công tác huấn luyện trong toàn quân nói chung và Học viện Lục quân nói riêng được đổi mới theo phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu, nhiệm vụ, địa bàn hoạt động, cũng như yêu cầu tác chiến trong điều kiện địch sử dụng vũ khí công nghệ cao; chú trọng diễn tập hiệp đồng quân - binh chủng, diễn tập cơ động và diễn tập khu vực phòng thủ, đáp ứng yêu cầu tác chiến mới, nhất là tác chiến trên biển, đảo. Xây dựng Quân đội nhân dân từng bước hiện đại, đòi hỏi phải đồng bộ cả con người và vũ khí, trang bị. Trước hết phải nâng cao chất lượng công tác giáo dục, đào tạo, huấn luyện, để mỗi quân nhân, nhất là đội ngũ sĩ quan có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt; có trình độ kỹ, chiến thuật tốt, có tư duy đổi mới, nhạy bén, sáng tạo; trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khoa học - công nghệ, ngoại ngữ, tin học ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ và ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, làm chủ vũ khí, trang bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại, chịu đựng gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Mỗi sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng, hạ sỹ quan - binh sỹ Học viện Lụcquân phải ra sức học tập chính trị, quân sự, văn hoá, khoa học kỹ thuật, vững về bản lĩnh, giỏi về chuyên môn, phải thường xuyên học tập, học suốt đời, kiên quyết đấu tranh với bệnh tự mãn, lười học tập, rèn luyện.
* Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, trang 511. 18/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Trước hết, quân đội nhất định phải có anh hùng. Lúc kháng kháng chiến có anh hùng, sao nay lại không có anh hùng? Khi kháng chiến anh hùng cách khác… Có phải không có chiến tranh thì quân đội không có anh hùng?”*
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người dự cuộc họp của Bộ Chính trị bàn về vấn đề chuẩn bị Đại hội Liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua năm 1962. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra sự thiếu sót trong việc phong danh hiệu anh hùng, chiến sĩ thi đua, Người khẳng định một yêu cầu tất yếu là trong quân đội phải có anh hùng, anh hùng không chỉ trong thời chiến mà nay trong thời bình cũng phải có, đó có thể là những người tham gia xây dựng quân đội vững mạnh, là những chiến sĩ không ngừng học tập, thao luyện, sản xuất. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ có lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân, mà dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân đội ta còn làm tròn chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân sản xuất.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, phát huy truyền thống vẻ vang của Học viện Lục quân anh hùng, mỗi sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng, hạ sỹ quan - binh sỹ cần tiếp tục rèn luyện, phấn đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, kỷ luật, kỷ cương; tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, Tổ quốc và nhân dân; nâng cao trình độ khoa học - công nghệ, làm chủ các loại vũ khí, khí tài hiện đại, trình độ chỉ huy, tác chiến, nghệ thuật quân sự, đáp ứng yêu cầu chiến đấu và chiến thắng trong điều kiện tác chiến địch có sử dụng vũ khí công nghệ cao, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Toàn Học viện đẩy mạnh phòng trào thi đua Quyết thắng, xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến, phấn đấu học tập, rèn luyện, công tác, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, giành thành tích cao nhất, để ngày càng có nhiều gương điển hình tiên tiến trên mọi lĩnh vực công tác, xứng đáng với tình cảm và mong muốn Bác và nhân dân giành cho cán bộ, chiến sĩ quân đội nói chung và Học viện Lục quân nói riêng.
* Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2016, tập 8, trang 177. 18/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Nội bộ phải đoàn kết chặt chẽ. Làm mọi việc phải đi sâu, đi sát, phải tránh chủ quan, phải có kế hoạch chu đáo, phải có quyết tâm bền bỉ” *
Trích trong bài nói chuyện của Bác tại Hội nghị cán bộ ngành Công an, ngày 29 tháng 4 năm 1963, Báo Nhân dân, số 3322, ngày 1 tháng 5 năm 1963.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục, rèn luyện Công an nhân dân thành một lực lượng trưởng thành, lớn mạnh về mọi mặt. Người luôn nhắc nhở rằng, người chiến sĩ công an sinh ra từ nhân dân, vì nhân dân chiến đấu là người lính có lý tưởng cao cả, kiên quyết hăng hái làm tròn nhiệm vụ. Thực tế lịch sử đã chứng minh, dưới lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc, lực lượng công an luôn dũng cảm trong chiến đấu, giữ vững bản chất cách mạng, ý chí chiến đấu, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong cuộc chiến giữ gìn an ninh nội bộ và xây dựng thế trận an ninh nhân dân.
Nội dung, ý nghĩa trong lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dành riêng cho lực lượng công an, mà còn dành cho các cấp, các ngành, các lực lượng; trong đó có Quân đội nhân dân. Sức mạnh chiến đấu của quân đội phải được bắt đầu từ sức mạnh đoàn kết nội bộ. Nội bộ thống nhất, chặt chẽ mới có thể đưa mọi việc được triển khai đồng bộ; phải nghiên cứu kỹ mọi việc, lập kế hoạch sâu sát, tỉ mỉ trước khi thi hành để đảm bảo chắc chắn thành công. Nghiên cứu công việc kỹ lưỡng chưa đủ, khi thực thi còn phải thận trọng và không được chủ quan mới có thể đi đến đích thắng lợi. Suy rộng ra, đoàn kết nội bộ ở đây cũng có nghĩa là đoàn kết nội bộ Đảng, đoàn kết dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Học tập và làm theo lời Bác mỗi tổ chức, mỗi cá nhân, mà trước tiên là cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp ở Học viện Lục quânluôn tiền phong, gương mẫu chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách, giữ gìn đoàn kết nội bộ tốt, có tác phong lãnh đạo dân chủ, quần chúng, sâu sát, cụ thể, tới nơi, tới chốn và thực hành nêu gương trước cấp dưới và quần chúng. Kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm, chủ nghĩa kinh nghiệm, độc đoán, gia trưởng, xa rời, lãnh cảm với cấp dưới và quần chúng.
* Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 14, trang 72. 18/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Đồng bào, cán bộ và quân đội ta quyết không được vì thắng lợi mà chủ quan khinh địch. Cần phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác và chí khí chiến đấu”*
Là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư khen quân và dân miền bắc bắn rơi 1.000 máy bay Mỹ, Bác viết ngày 30 tháng 4 năm 1966, Báo Nhân dân, số 4408, ngày 1 tháng 5 năm 1966.
Đầu năm 1965, chiến lược “Chiến tranh Đặc biệt” của đế quốc Mỹ đã bị quân và dân ta đánh bại. Song, đế quốc Mỹ vẫn chưa chịu từ bỏ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Chúng chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh Cục bộ”, tăng cường quân Mỹ vào miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng sức mạnh không quân và hải quân, hòng buộc phía Việt Nam phải ngồi vào đàm phán theo các điều kiện ép buộc do Mỹ soạn thảo. Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định chuyển toàn bộ hoạt động của miền Bắc từ thời bình sang thời chiến, tiếp tục sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh, quyết tâm đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc, phát huy vai trò hậu phương lớn với tiền tuyến lớn miền Nam, đánh bại chiến lược “Chiến tranh Cục bộ” và làm tròn nghĩa vụ quốc tế với cách mạng hai nước Lào và Campuchia. Với chiến công bắn hạ 1.000 máy bay Mỹ đã làm thất bại quyết tâm chiến lược của đế quốc Mỹ, không ngừng củng cố, tăng cường sức mạnh của quân và dân miền Bắc, cùng với quân và dân miền Nam quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thống nhất nước nhà.
Lời Bác căn dặn, được quân và dân miền Bắc khắc ghi và thực hiện nghiêm, trở thành sức mạnh để tiếp tục đánh bại chiến dịch đánh phá bằng không quân của đế quốc Mỹ lần thứ 2, làm nên chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” tháng 12 năm 1972 - đòn đánh quyết định cuối cùng, buộc chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút hết quân viễn chinh và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, mở ra thời cơ chiến lược lớn để quân và dân ta tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông đất nước về một mối.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng, hạ sỹ quan - binh sỹ Học viện Lục quân luôn tuyệt đối tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chấp hành nghiêm chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội. Không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Nâng cao cảnh giác cánh mạng, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam để bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Kiên quyết đấu tranh với các luận điệu chống phá, xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ của Quân đội trong thời bình và những nhận thức giản đơn, coi nhẹ nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng - an ninh, nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ tranh nhân dân.
* Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 15, trang 107. 14/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một trong những nội dung quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh luôn gắn bó với việc đào tạo các thế hệ cách mạng. Trước khi đi xa, trong Di chúc Người viết: "Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”[1].
Mặc dù Bác chỉ khiêm tốn nói là “bức thư” và “mấy lời để lại”, nhưng đó thực sự là một đại tổng kết, một tác phẩm vô giá thuộc hàng “bảo vật quốc gia”. Bản Di chúc kết tinh tất cả tư tưởng, đạo đức, phong cách của một con người vĩ đại - Hồ Chí Minh. Con người ấy, có tâm hồn, như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “lộng gió thời đại”, có một cuộc đời “oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”.
Bản Di chúc của Người đã trở thành Cương lĩnh hành động của toàn Đảng, toàn dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Trong bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “trước hết nói về Đảng” và sau đó là nói về “đoàn viên và thanh niên”, nghĩa là nói đến thế hệ trẻ. Sinh thời, Người luôn đặt niềm tin vào thế hệ trẻ - Những chủ nhân tương lai của nước nhà, những người sẽ viết nên một trang mới cho dân tộc: “to đẹp hơn, đàng hoàng hơn”. Trước khi đi xa, Người căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.
Đây chính là một tư tưởng lớn, thống nhất và xuyên suốt trong cả cuộc đời hoạt động sôi nổi của Hồ Chí Minh. Với Người, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau không chỉ quan trọng mà còn “rất quan trọng”. Bởi vì, thế hệ trẻ có vai trò vô cùng to lớn, những người mang trong mình bầu nhiệt huyết, sức sống tràn trề, năng lực sáng tạo, v.v.. đối với sự trường tồn của đất nước. Bất cứ một quốc gia dân tộc và chế độ xã hội nào muốn tồn tại và phát triển đều phải quan tâm đến thế hệ trẻ. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau – thế hệ trẻ là việc rất cần thiết. Bởi vì, thế hệ trẻ là lớp người kế tục tất yếu sự nghiệp cách mạng của cha anh đưa nước nhà đến một tương lai tươi sáng. Người giải thích cụ thể “vì thanh niên là lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên trong tương lai”[2]. Người quan niệm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, của nhiều thế hệ nối tiếp nhau được tổ chức và chuẩn bị. Lịch sử là cụ thể, còn cuộc đời mỗi con người là có hạn; mỗi thế hệ chỉ có thể đi hết một chặng trên con đường cách mạng đã lựa chọn. Người đã thấy rõ khả năng tối đa của thế hệ đi trước có thể làm được cũng như cái giới hạn tự nhiên mà thế hệ đó không thể vượt qua: “Con người ta sinh ra ai cũng lớn lên, già đi rồi chết”. Từ đó “bàn giao” thế hệ là tất yếu xảy ra. Nhưng bàn giao không có nghĩa là trao lại giản đơn những gì đã có, trách nhiệm của thế hệ hôm nay là phải chuẩn bị cho lớp người mai sau những gì cần thiết một cách vững chắc nhất và tốt đẹp nhất.
Bồi dưỡng cho thế hệ trẻ là để trao vào tay họ cả tương lai và vận mệnh của đất nước. Vì vậy, Bác đặc biệt lưu ý: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chu nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”[3]. Thiết nghĩ Bác nhắc tới “hồng” là màu của dòng máu, của lá cờ, là nói tới truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của người dân Việt Nam. Mỗi người khi sống, khi làm việc gì hãy khắc ghi có bao nhiêu thế hệ đi trước đã hy sinh xây dựng mới có được đất nước như ngày hôm nay, đừng quên làm điều gì đó xứng đáng với công ơn người đi trước. Còn “chuyên” là mỗi người khi làm việc gì cũng phải học hành, phải lưu tâm để nâng cao trình độ, luôn làm việc đạt hiệu quả cao nhất mang lại lợi ích cho mình và cho đất nước. “Hồng”và “chuyên” có nghĩa là, giáo dục bồi dưỡng thế hệ trẻ phải chú ý đến cả hai yếu tố đạo đức và tài năng, trong đó lấy đạo đức làm gốc. Trong mỗi con người tài và đức phải được đi liền với nhau vì: "Có tài mà không có đức ví như anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì nhưng cũng không có lợi gì cho loài người"[4].
Hiện nay, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, thế hệ trẻ Việt Nam luôn kiên định ý chí theo lời căn dặn của Người. Họ đã và đang chứng tỏ bản lĩnh, sức trẻ, sự sáng tạo và tinh thần dám nghĩ, dám làm của mình. Họ đang ra sức tu dưỡng, học tập và rèn luyện về mọi phương diện, tích cực lao động sản xuất, tiến vào khoa học - công nghệ, để cùng với toàn Đảng, toàn dân thực hiện công cuộc đổi mới, góp phần không nhỏ sớm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Rất nhiều phong trào thi đua, như Thanh niên tình nguyện, Thanh niên lập nghiệp, chiến dịch tình nguyện mùa hè xanh,... được đông đảo đoàn viên, thanh niên, sinh viên và học sinh hưởng ứng, thực hiện.
Tuy nhiên, phải thừa nhận, do ảnh hưởng từ những mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng như của xu thế toàn cầu hóa, và đặc biệt, do thiếu nghiêm túc trong rèn luyện, phấn đấu, có nơi, có lúc còn một bộ phận không nhỏ thế hệ trẻ có những biểu hiện tiêu cực mà gia đình, xã hội đang lo lắng, băn khoăn trước thực trạng xuống cấp về đạo đức của một số bộ phận thanh niên, tình trạng bạo lực học đường, thanh niên ăn chơi, đua đòi sa vào tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật. Một bộ phận thanh niên giảm sút niềm tin, sống thực dụng, xa rời truyền thống tốt đẹp của dân tộc, một số ít bị lôi kéo, có những việc làm đi ngược lại truyền thống của Đoàn, trái với mục tiêu của Đảng, của dân tộc.… làm giảm lòng tin của nhân dân. Không ít thanh niên còn thờ ơ với hoạt động của Đoàn, hoạt động của Đảng, của xã hội mà chỉ quan tâm đến hưởng thụ. Tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI nhiệm kỳ 2017-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã căn dặn thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay phải tích cực tu dưỡng rèn luyện, tránh những biểu hiện: “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”.
Những hiện tượng đó, trước hết là nguy cơ đe dọa tương lai của chính bản thân họ, đồng thời cản trở sự phát triển theo hướng lành mạnh, tiến bộ và văn minh của xã hội ta hiện nay. Mặt khác, cũng cần nói rằng, các thế lực thù địch đang "chờ đợi" và sẽ ra sức khai thác, lợi dụng những hiện tượng đó để tiến hành chiến lược "diễn biến hòa bình" hòng chống phá và ngăn chặn sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, thấm nhuần lời dạy của Bác trong Di chúc, hơn bao giờ hết toàn Đảng và toàn dân ta càng phải chăm lo giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ, coi đó là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, bởi nó liên quan trực tiếp đến tương lai của đất nước. Từ đó, đòi hỏi chúng ta cần thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Một là, cần nhận thức đầy đủ hơn nữa về vị trí, vai trò của thế hệ trẻ trong thời kỳ mới.
Cách mạng nước ta đang chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với mục tiêu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đây là điều kiện thuận lợi để thế hệ trẻ thể hiện trí tuệ, tài năng, sức trẻ, nhiệt huyết, khả năng cống hiến hết mình vì Tổ quốc. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước có hội nhập và sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không, phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên và phụ thuộc vào việc bồi dưỡng, rèn luyện, đào tạo các thế hệ trẻ.
Đảng và Nhà nước thường xuyên coi trọng công tác bồi dưỡng thế hệ trẻ, đặt niềm tin sâu sắc vào lực lượng đó. Song bản thân thế hệ trẻ cũng cần nhận thức sâu sắc hơn nữa vị trí, vai trò và sứ mệnh của mình, nâng cao ý thức trách nhiệm, không ngừng nỗ lực, phấn đấu học tập, tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ tri thức, đạo đức cách mạng để thực hiện được sứ mệnh lịch sử, đi đầu trong cuộc đấu tranh chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, đáp ứng yêu cầu cách mạng, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Để kế tục xứng đáng với di huấn thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc ta, thế hệ trẻ chúng ta hãy ra sức học tập, trau dồi lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; ra sức thi đua lao động, sáng tạo và rèn luyện để hình thành một thế hệ trẻ tân tiến, đáp ứng nhu cầu của đất nước và thời đại và luôn gắn liền với khẩu hiệu hành động của Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI: “Tiên phong - Bản lĩnh - Đoàn kết - Sáng tạo - Phát triển”.
Hai là, thường xuyên coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, văn hóa, đạo đức cách mạng đối với thế hệ trẻ hiện nay
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, văn hóa, đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, nhằm giúp thế hệ trẻ giác ngộ, nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, chuẩn mực đạo đức tiên tiến. Góp phần tích cực đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ có đủ phẩm chất, năng lực làm nhiệm vụ xung kích, sáng tạo, kế tục sự nghiệp vẻ vang của Đảng, thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Để đạt được mục đích đó, đòi hỏi phải đổi mới và mở rộng các hình thức sinh hoạt, học tập, tuyên truyền. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác”, tích cực xây dựng các điển hình tiên tiến đi đầu trong xây dựng lối sống lành mạnh, kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, ích kỷ; Phát huy vai trò của thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [5] theo Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Chỉ thị số 42-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ, giai đoạn 2015-2030”. Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa gia đình - nhà trường - Tổ chức Đoàn - xã hội trong đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ Việt Nam toàn diện về mọi mặt; trong đó, chú trọng nguyên tắc đào tạo gắn với bồi dưỡng, tin tưởng giao nhiệm vụ, tạo điều kiện để tuổi trẻ được tham gia trải nghiệm, “phải khéo léo kết hợp cán bộ giàu kinh nghiệm với cán bộ trẻ ít kinh nghiệm”, “không nên coi thường cán bộ trẻ” như Bác đã căn dặn: “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”[6].
Thời đại ngày nay, khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức đang phát triển nhanh chóng; công nghiệp 4.0 có những bước nhảy vọt trong khi tình hình chính trị, kinh tế thế giới có những diễn biến phức tạp tác động không nhỏ đến tư tưởng, phong cách, lối sống của Thế hệ trẻ. Do đó, xây dựng một thế hệ trẻ có đủ bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, sức sáng tạo để kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc trong thời kỳ mới đổi mới.
Ba là, phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của thế hệ trẻ tham gia các phong trào hành động cách mạng
Các cơ quan, tổ chức cần có nhiều hình thức và biện pháp thích hợp để phát huy vai trò xung kích, sáng tạo, tinh thần tình nguyện, khơi dậy tiềm năng to lớn của thế hệ trẻ, động viên đi đầu thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị.
Cần có nhiều hình thức hoạt động phong phú, đa dạng, phù hợp với thế hệ trẻ, lôi cuốn thế hệ trẻ tham gia tích cực các phong trào hành động cách mạng, nhất là trên các lĩnh vực, các địa bàn có nhiều gian khổ, khó khăn, thể hiện rõ vai trò xung kích của thanh niên. Bồi dưỡng thế hệ trẻ gắn với các phong trào thực tiễn, nhất là tiếp tục triển khai hiệu quả ba phong trào hành động cách mạng: “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc” trong từng nhóm đối tượng và duy trì các phong trào đặc thù. Từ đó, xây dựng, nhân rộng các mô hình hay, cách làm sáng tạo của các gương điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt trong cha mẹ, thầy cô, nhân dân và trong chính thế hệ trẻ để “làm gương mẫu cho các em trước mọi việc”. Đồng thời, bản thân mỗi người trẻ cũng phải tự học tập, tự tu dưỡng, phấn đấu ở mọi nơi, mọi lúc và suốt đời, để xây dựng tương lai cho chính mình và đi tiên phong trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giàu mạnh, bền vững. Có quá trình chuẩn bị, bồi dưỡng thường xuyên về đức và tài cho thế hệ trẻ; có sự chuẩn bị chu đáo, thận trọng, chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ cán bộ như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, đất nước Việt Nam sẽ có đủ sức mạnh nội lực, trí tuệ, đạo đức để tự tin, kiên định, vững vàng trên con đường đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững.
Đồng thời, thông qua các phong trào hành động cách mạng, tạo ra được môi trường lành mạnh để thế hệ trẻ tự rèn luyện, tìm được lẽ sống cao đẹp cho mình. Phải thường xuyên quan tâm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho thế hệ trẻ; làm tốt cả "bồi dưỡng" và "phát huy" thế hệ trẻ để hoạt động của các tổ chức trở nên thiết thực, động viên được đông đảo thế hệ trẻ tham gia. Thường xuyên chú trọng học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn trong đào tạo, bồi dưỡng văn hóa, khoa học - kỹ thuật, công nghệ, quân sự, ngoại ngữ, v.v.. và thường xuyên bồi dưỡng thể chất, rèn luyện thân thể cho thế hệ trẻ để đủ sức khỏe, trí tuệ tham gia các phong trào hành động cách mạng.
Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một nhiệm vụ khó khăn, lâu dài, bền bỉ, nhưng với quyết tâm thực hiện lời căn dặn trong Di chúc của Bác, toàn Đảng, toàn dân, chúng ta nhất định thực hiện thành công để các thế hệ trẻ cùng: "Giúp sức vào xây dựng một nước nhà tốt đẹp - một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh". Để xứng đáng với lòng mong mỏi của Bác, hãy cố gắng "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh", ra sức tu dưỡng rèn luyện "Nâng cao đạo đức cách mạng, quyết sạch chủ nghĩa cá nhân", góp phần xây dựng Khoa, xây dựng Học viện vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
*********
[1]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb CTQG, Hà Nội 2011, tr. 622
[2]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, Hà Nội 2011, tr. 488
[3]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, Hà Nội 2011, tr. 498
[4]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, Hà Nội 2000, tr.399
[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương, Hà nội, 2016, tr.162.
[6]. Trích trong Bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam toàn miền Bắc, ngày 22/9/1962)