Không gian văn hóa Hồ Chí Minh
0 0 0 2 3 2 9 7 8 2
Đang online:
4
Hôm nay :
970
Hôm qua :
1,642
Tuần này :
3,627
Tuần trước :
6,389
Tháng này :
7,051
Tháng trước:
33,492
21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn làm tròn nhiệm vụ. Quyết tâm phải biến thành hành động dũng cảm, chiến đấu kiên quyết, không sợ hy sinh gian khổ”.
Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp của Quân đội năm 1969.
Đây là thời kỳ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang huy động cao nhất mọi nguồn lực, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Theo Bác, có quyết tâm cao mới có hành động dũng cảm, có phương pháp tốt mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ; quyết tâm một, biện pháp phải 10 mới đi đến thành công. Vì vậy, Người nhắc nhở cán bộ Quân đội trước hết phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn, phải học tập để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, nâng cao trình độ về mọi mặt, làm cho ta càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng. Đây là nguồn động viên, cổ vũ, khích lệ đội ngũ cán bộ Quân đội phải luôn triệt để chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, lập nhiều thành tích hơn nữa trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, lời dạy của Người về lòng quyết tâm và ý thức trách nhiệm của cán bộ Quân đội càng có ý nghĩa và giá trị nhân văn sâu sắc. Học tập và làm theo lời Bác dạy, đội ngũ cán bộ Quân đội luôn phát huy tốt tính tiền phong, gương mẫu, chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội; gương mẫu đi đầu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Cán bộ luôn gần gũi bộ đội, quan tâm xây dựng động cơ, quyết tâm cao cho bộ đội; cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn rèn luyện ý chí chiến đấu, tinh thần chịu đựng gian khổ, dũng cảm, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em văn hóa và tri thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”.
Lời dạy đó của Bác được trích trong bức thư Người viết “Gửi anh em văn hóa và trí thức Nam Bộ” vào ngày 25 tháng 5 năm 1947, khẳng định mặt trận văn hóa như một “cuộc chiến khổng lồ” giữa chính và tà, giữa cách mạng và phản cách mạng. Trong cuộc chiến đó, người “nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí” đấu tranh; đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Để làm tròn nhiệm vụ, đội ngũ nghệ sĩ, trí thức phải bám sát cuộc sống thực tiễn, đi sâu vào quần chúng, phê bình nghiêm khắc những thói xấu như tham ô, lãng phí, lười biếng, quan liêu, ca tụng chân thật những tấm gương người tốt, việc tốt cho mọi người học tập và giáo dục con cháu đời sau. Đội ngũ trí thức với trình độ học vấn, chuyên môn cao của mình phải quan tâm và có chính kiến trước những vấn đề chính trị - xã hội nóng bỏng của thời cuộc thông qua các bài viết, lời nói để dẫn dắt, định hướng quần chúng Nhân dân. Học tập và làm theo lời dạy của Nguời, nhiều nhà văn, nhạc sỹ, nghệ sỹ, trí thức, học giả, nhà nghiên cứu… đã hăng hái tham gia vào sự nghiệp cách mạng, dùng tri thức, sự hiểu biết và tài năng của mình cống hiến cho cách mạng, phục vụ Nhân dân một cách tận tụy, hết mình thông qua các công trình, tác phẩm, bài viết.
Thực hiện di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đã xây dựng nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ văn hóa nghệ thuật, cán bộ nghiên cứu khoa học có chất lượng tốt, số lượng phù hợp, cơ cấu hợp lý. Trong đó chú trọng quy hoạch, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ nghiên cứu, sáng tác các Viện, trung tâm nghiên cứu, các đoàn nghệ thuật, đoàn văn công, các học viện, nhà trường là những cán bộ vừa có trình độ chuyên môn giỏi, kinh nghiệm và năng lực sáng tạo, vừa có phẩm chất chính trị đạo đức tốt, luôn tâm huyết, yêu nghề, gắn bó với Quân đội và đơn vị. Đổi mới chính sách nhằm thu hút, giữ gìn và phát triển mạnh mẽ nguồn nhân lực chất lượng cao về lĩnh vực khoa học công nghệ, về nghệ thuật, tạo điều kiện thuận lợi để họ sáng tạo, nghiên cứu, cống hiến. Thường xuyên làm tốt công tác biểu dương, khen thưởng, tôn vinh các tập thể, cá nhân có các công trình, đề tài, tác phẩm, sáng kiến đạt chất lượng tốt để cổ vũ, động viên, khích lệ phát triển thành phong trào sâu rộng trong toàn quân, góp phần hoàn thành tôt mọi nhiệm vụ được giao. 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Trong dân gian có câu: “Làm trai cho đáng nên trai
Phú Xuân đã trải, Đồng Nai cũng từng”.
“Đồng Nai”, tên gọi thân thương từ rất xa xưa của miền đất Nam kỳ lục tỉnh. Đồng Nai là vùng đất màu mỡ, trù phú có từ rất lâu đời và chính thức đặt tên trên bản đồ đất Việt vào năm 1698 khi lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược xứ Đàng Trong, xác định chủ quyền và ổn định vùng đất phía Nam của Tổ quốc. Con người Đồng Nai vốn thật thà chất phác, giỏi nghề buôn bán, siêng việc ruộng nương. Ấy thế mà, khi quân thù xâm lược, không chịu kiếp nô lệ, gông cùm xiềng xích, cái cuốc cái cày đã hóa thành vũ khí, người dân tay lắm chân bùn biến thành chiến sĩ, mảnh đất tốt tươi là bẫy chông hào rộng vừa bảo vệ quê hương vừa tiêu diệt kẻ thù. Bao nhiêu năm chịu cảnh lầm than dưới gót giày xâm lược của thực dân và đế quốc, nhưng “miền Đông gian lao và anh dũng” vẫn luôn giữ tấm lòng kiên trung, buất khuất, vẫn mãi luôn là con cháu Bác Hồ để xứng đáng với kỳ vọng, niềm tin và tấm lòng của Bác “Miền Nam luôn trong trái tim tôi”. Để lưu giữ lại những tình cảm sâu sắc của Bác đối với quân dân Đồng Nai, đồng thời khắc ghi ký ức oai hùng trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ, tập thể tác giả đã từng sinh sống và chiến đấu bảo vệ quê hương Đồng Nai đã cho ra đời tác phẩm “Bác Hồ với Đồng Nai, Đồng Nai với Bác Hồ”.
Đối với những ai đã từng tiếp cận và đọc tác phẩm này, sẽ thật ấn tượng bởi sự kết hợp đơn giản và sang trọng của bìa sách với 2 màu vàng nâu được bọc bên ngoài, dưới tiêu đề cuốn sách là hình ảnh của lãnh tụ Hồ Chí Minh kính yêu được in rất đẹp với nụ cười đôn hậu, chiếc áo kaki thể hiện nét giản dị đời thường, bên trong bìa sách chính là dòng chữ sơn son thếp vàng nổi bật và trang trọng. Sách được in bìa cứng, khổ vừa gồm 393 trang do Tỉnh Ủy Đồng Nai chịu trách nhiệm xuất bản, được phát hành năm 2002.
“Bác Hồ với Đồng Nai, Đồng Nai với Bác Hồ” là một tác phẩm phản ánh chân thật lịch sử quá trình đánh đuổi bọn thực dân, đế quốc xâm lược và bè đảng tay sai, nhưng đồng thời cũng vừa là những dòng hồi ký mang đậm nét tự sự trữ tình. Tuy sách xuất bản đã hơn một thập kỷ nhưng tác phẩm vẫn luôn là tài liệu được hầu hết đảng viên, cán bộ, mọi tầng lớp nhân dân tìm đọc, lưu giữ và luôn được trân quý bởi cuốn sách là tập hợp tất cả những tâm tư, tình cảm của những người con Đồng Nai đối với Bác - những người một thời là chiến sĩ cách mạng được vinh dự gặp gỡ, trò chuyện cùng với Bác trong khi chiến đấu và cả những chiến sĩ chưa được gặp Bác lần nào. Điều chính yếu của nội dung quyển sách, đó chính là sự cổ vũ đầy nhiệt huyết, lời động viên chân thành, sự yêu thương vô bờ bến của Bác đối với quân dân Đồng Nai trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ.
Tác phẩm gồm 81 bài viết trong đó có cả những bài viết mang những dòng hồi ức thân thương về những lần được gặp Bác, vừa có những hình ảnh kỷ vật của Bác tặng cho, hay của các chiến sĩ sưu tập được trong khi làm nhiệm vụ, những bài thơ, bản nhạc trữ tình thể hiện tình cảm yêu quý đối với vị cha già dân tộc của các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ nổi tiếng đất Đồng Nai như: Hoàng Văn Bổn, Đàm Chu Văn, Trần Viết Bính, Huỳnh Văn Nghệ, …; những bài viết của những người từng là chiến sĩ cách mạng vừa là chỉ huy trong các trận đánh oai hùng năm xưa như Lê Bá Ước, Nguyễn Tấn Vàng, Trần Công An,…và tất cả những người đã và đang công tác ở tất cả các lĩnh vực, ngành nghề: Huỳnh Văn Tới, Trần Quang Toại, thích nữ Tuệ Tâm, hòa thượng Thích Thiện Hào, linh mục Nguyễn Kim Đoan…
Mở đầu cuốn sách là bài viết của Bác có tựa đề “Uy danh lừng lẫy khắp năm châu” trong bài thơ nổi tiếng viết về chiến thắng sân bay Biên Hòa năm 1964 dưới bút danh Chiến Sĩ. Bác đã rất vui trước chiến thắng lịch sử bởi một đội du kích miền Nam đánh tan tành trường bay của bọn Mỹ, Ngụy mà chúng luôn tự hào là “sân bay tuyệt đối vững chắc, trời cũng không làm gì được”. Thắng lợi đó đã ầm vang thế giới, làm cho bọn Mỹ Ngụy cảm thấy nhục nhã còn bạn bè thế giới thì hoan ca. Trận đánh sân bay Biên Hòa báo hiệu như một Điện Biên Phủ ở chiến trường miền Nam mà trong thơ Bác có nhắc đến“Thành Đồng trống thắng lay Lầu trắng, Điện Biên – Mỹ chẳng phải chờ lâu”
Đọc cuốn sách ta hồi tưởng Bác vẫn như còn sống, cùng gắn bó đời thường với anh em chiến sĩ, những lời nói, những lời dặn dò của Bác sao mà nồng ấm thân thương. Những câu chuyện về Bác là bao nỗi niềm xúc động, là những phút giây quý báu duy nhất trong suốt cuộc đời chiến sĩ được một lần gặp Bác vì đất nước bị chia đôi, quân thù càn quấy: nhớ lần đầu gặp Bác, nhớ ngày gặp Bác hay nhớ mãi kỷ niệm một lần được Bác đến thăm,…trong đó ấn tượng vui nhất là “Kỷ niệm lần đầu gặp Bác”. Khi ấy người chiến sĩ tên Công được dự hội nghị quân sự tại Tân Trào năm 1949, khi tới lượt đến chào Bác, Bác cười vui hỏi: Chú tên gì? Dạ thưa Bác, cháu tên Phan Đình Công. Bác cười rồi lại hỏi: Cách mạng thành công rồi thì sao lại mang tên là Đình Công, phải đổi tên là Thành công mới đúng. Cả hội trường cười vang vui vẻ. Lúc ấy người chiến sĩ tên Công vừa cảm thấy vui vừa cảm phục tài ăn nói khéo léo của Người, từng câu từng chữ đều mang hàm ý nghĩa sâu xa. Có người may mắn được gặp Bác đến 7 lần đó là đồng chí Trần Công An – người khai sinh lối đánh đặc công, nhưng cũng có những kỷ niệm xúc động bồi hồi dù chưa từng gặp Bác, chỉ hình tượng Bác qua: Xuân về nhớ Bác, chuyện ba bức hoành phi, Bác Hồ trong tim người tử tù, nhớ Bác khi lãnh án tử hình,…
Bác nhớ thương miền Nam bao nhiêu thì miền Nam cũng thương nhớ Bác bấy nhiêu. Đối với quân và dân Đồng Nai, Bác vừa đồng chí, vừa là người cha người anh nhưng cũng đồng thời là một minh quân của đất nước. Đến với tác phẩm ta như được sống lại những giây phút thiêng liêng và cảm động khi được nhìn Bác qua: chiếc đồng hồ kỷ vật của Bác, đồng tiền Cụ Hồ và đặc biệt là Bài thơ Chúc Tết của Bác. Lá thư Xuân trở thành sức mạnh vô hình đã biến thành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy khắp miền Nam vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968. Những người con Nam bộ không những bằng ý chí quật cường, quyết tâm đánh giặc mà còn gửi gắm tấm lòng yêu quý Bác thể hiện qua: Hoa nơi lăng Bác, chuyện cây hoàng lan ơn Bác, cây bưởi Tân Triều bên lăng Bác hay nặn tượng Bác Hồ,…
Và rồi, không vượt qua được tuổi già cùng sức khỏe, Bác đã ra đi vào lúc chiến tranh đang sắp đến hồi kết thúc, chiến thắng đang gần kề. 79 mùa Xuân có Bác đã đem đến cho nhân dân Việt Nam ánh sáng soi đường, cởi bỏ xiềng xích. Thật là xúc động, lệ rưng rưng chực tràn mi mắt khi đọc: nén nhang nhớ Bác, Bác ơi, mùa thu nhớ Bác, truy điệu Bác trong ngục Chí Hòa,…
81 câu chuyện trong tác phẩm đem đến cho người đọc bao cảm xúc vui buồn đan xen. Mỗi câu chuyện như một thước phim quay chậm để người đọc cảm nhận, vui sướng khi được ở bên Bác và nỗi nhớ thương, tiếc nuối, nghẹn ngào trong những giờ phút Bác sắp ra đi. Những lời dặn dò ân cần, những cuộc nói chuyện đầy ý nghĩa, mỗi tâm thư của Bác, mỗi kỷ vật Bác để lại đều có ý nghĩa sống còn mà người Đồng Nai kiên trung luôn chắt chiu gìn giữ, sẵn sàng bảo vệ đến hơi thở cuối cùng. Niềm tin tuyệt đối của Bác vào sự thắng lợi của cuộc cách mạng là tất cả động lực để quân dân cả nước nói chung, quân và dân Đồng Nai nói riêng làm nên chiến thắng mùa Xuân 1975 đã làm cho quân Mỹ phải tháo chạy về nước và bọn ngụy phải tan rã, cuối đầu khuất phục trước sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc.
Mặc dù chúng tôi là thế hệ hậu sinh được sống hạnh phúc và sung sướng trong thời bình, nhưng thông qua từng câu chuyện trong tác phẩm, tôi như được sống trong những ký ức hào hùng với bao kỷ niệm đẹp về Bác. Những câu chuyện nhỏ như thế được các tác giả kể lại nhằm để khẳng định một điều rằng: Dù bất cứ ở đâu, dù bất kỳ hoàn cảnh nào, ngay cả trong nhà tù khắc nghiệt của địch hay đối diện với cái án tử hình, thì người Đồng Nai vẫn một lòng một dạ đi theo con đường của Bác để “đòi độc lập cho đất nước, tự do cho muôn dân”. Để hiểu rõ hơn về chi tiết nội dung tác phẩm, chúng tôi mời các bạn hãy tìm đọc “Bác Hồ với Đồng Nai, Đồng Nai với Bác Hồ”, đây là món quà đầy tri ân đầy ý nghĩa của người Đồng Nai đối với vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta.
Tuy Bác đã đi xa gần nửa thế kỷ nhưng chúng con vẫn luôn mong nhớ Bác, nhớ từng ánh mắt trìu mến, nụ cười đôn hậu cùng tấm lòng của Bác đối với miền Nam vẫn được chúng con nâng niu, ấp ủ từng ngày, cố gắng học và hành theo từng việc làm cụ thể của Bác, luôn tâm niệm trong tim rằng sẽ mãi luôn “học và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách chủ tịch Hồ Chí Minh”. Những di vật, những tác phẩm bất hủ của Bác để lại cho thế hệ hậu sinh có giá trị trường tồn mãi với thời gian đã đưa đường chỉ lối cho đảng viên đi đúng hướng, dạy công chức đạo đức làm người, thực hành công vụ luôn tư duy đổi mới để phục vụ tốt cho nhân dân. Cho đến tận bây giờ, nỗi mong nhớ Bác của người Đồng Nai vẫn ẩn sâu trong từng giấc ngủ và hằng đêm trong những cơn mộng đẹp, vẫn luôn thầm gọi tên Bác: Bác ơi!, Bác ơi!,… 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền non trẻ đứng trước muôn vàn khó khăn. Một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng lúc này chính là cải thiện đời sống của nhân dân, cần phải thay đổi, xóa bỏ những lề lối, nếp sống cổ hủ, lạc hậu. Đảng ta chủ trương phát động phong trào “Xây dựng đời sống mới”. Ngày 3-4-1946, Ủy ban vận động đời sống mới Trung ương được thành lập. Một năm sau, Bác về thăm và nói chuyện với cán bộ, nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Bác bắt tay viết tác phẩm Đời sống mới với bút danh Tân Sinh. Ngày 20-3-1947, Người đã công bố tác phẩm này để chỉ đạo và động viên phong trào toàn dân xây dựng đời sống mới.
Trong lời tựa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định ý nghĩa của tác phẩm là giúp nhân dân ta thực hành đời sống mới để cứu quốc và kiến quốc: “Trong lúc kháng chiến cứu quốc chúng ta phải đồng thời kiến quốc. Thực hành đời sống mới là một điều cần kíp cho công cuộc cứu quốc và kiến quốc”.
Theo Người, thực hành đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính. Người giải thích: “Chính trong lúc này càng phải thực hành đời sống mới là Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Quân đội phải siêng tập, siêng đánh (giặc). Nhân dân tăng gia sản xuất, phải siêng làm, thì kháng chiến chắc chắn thắng lợi, thế cho nên phải Cần. Binh sĩ phải tiết kiệm đạn dược, mỗi viên đạn một tên thù. Cho nên phải Kiệm. Mọi người đều trong sạch, không tham lam, không đem của công dùng vào việc tư, thì mọi việc mới chạy. Cho nên ai cũng phải Liêm. Mỗi người quốc dân đều phải vì nước quên nhà, hăng hái ủng hộ kháng chiến, ra sức tăng gia sản xuất, trừ diệt bọn bán nước hại dân quyết làm cho Tổ quốc thống nhất độc lập. Thế là Chính”. Cần, kiệm, liêm, chính như cách trình bày của Người trong tác phẩm không phải xa lạ, không khó khăn. Nếu mỗi người đều cố gắng sẽ thực hiện được một cách hiệu quả.
Nói về đạo đức mới, Người giải thích rằng không phải là gạt bỏ mọi cái cũ mà phải phát huy những tinh hoa về truyền thống yêu nước, cần cù lao động, đoàn kết chống giặc ngoại xâm, tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách... “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ. Thí dụ: Ta phải bỏ hết tính lười biếng, tham lam. Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý. Thí dụ: Đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ, ta phải giảm bớt đi. Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm. Thí dụ: Ta phải tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiếu với dân hơn khi trước. Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm. Thí dụ: Ăn ở cho hợp vệ sinh, làm việc cho có ngăn nắp. Làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích của đời sống mới”. Đời sống mới bao gồm đời sống mới riêng cho từng người và đời sống mới chung cho cộng đồng, tập thể như các gia đình, làng xã, nhà máy, trường học, công sở... 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Một tác giả đã đánh giá có phần hợp lý rằng, có thể coi tác phẩm này như một di chúc về giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng với cán bộ, đảng viên. Trong Di chúc lịch sử, Người dặn: "Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư". Nhưng trong tác phẩm nói trên, Người nói kỹ, nói sâu sắc về đạo đức cách mạng.
Trong không khí tiếp tục cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", nhắc lại và cùng nhau phân tích tác phẩm quan trọng này của Người có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn, để ôn lại lời dạy của Người góp phần thúc đẩy cuộc vận động trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta làm cho Đảng ta thêm vững mạnh, xã hội thêm lành mạnh, tiếp tục công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Xã hội nào cũng có cách phân định thiện - ác, tốt - xấu, vinh - nhục... Những phạm trù đó có những tiêu chí giống nhau nhưng có những khác nhau của mỗi hình thái kinh tế - xã hội, của mỗi dân tộc trong từng giai đoạn phát triển, hình thành hệ giá trị cốt lõi của văn hóa mỗi dân tộc, chủ yếu để định hướng phát triển của xã hội và là tiêu chí để bình xét, đánh giá các hiện tượng và con người.
Cùng với hệ giá trị của mỗi dân tộc, lại có chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa ràng buộc với những ai ở trong cộng đồng đó. Đạo đức cách mạng là chuẩn mực đạo đức của những người cách mạng, có những tiêu chí chung và nhất quán như sự hy sinh vì lý tưởng, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần hết lòng phụng sự Tổ quốc, nhân dân... đồng thời lại có những yêu cầu riêng của từng thời kỳ cách mạng.
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Ngay trong tác phẩm "Đường Cách mệnh" tập hợp những bài giảng cho lớp thanh niên tiến bộ chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Người đã đề cập các nội dung về đạo đức của người chiến sĩ cách mạng.
Khi cách mạng thành công, Đảng lãnh đạo chính quyền, đảng viên có nhiều cơ hội có địa vị, quyền hành, Hồ Chủ tịch lại đặc biệt quan tâm việc giáo dục cán bộ, đảng viên mà có tác giả nước ngoài đã đánh giá là vị lãnh tụ quan tâm nhất tới việc giáo dục đạo đức của cán bộ cầm quyền. Ngay từ rất sớm, những nhà nghiên cứu thường nhắc tới hai bức thư Người gửi cho các đồng chí Bắc Bộ, Trung Bộ khi mới trải qua hơn một năm Cách mạng Tháng Tám thành công và tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc" mà chúng ta vừa kỷ niệm 50 năm ngày công bố.
Ngay từ lúc đó Người đã nhìn ra bệnh "quan cách mạng" có thể phát triển, nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải tránh các bệnh địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, hẹp hòi, quân phiệt quan liêu, ham chuộng hình thức, làm việc bàn giấy xa rời nhân dân, bệnh kiêu ngạo tự mãn vô kỷ luật, ích kỷ, hủ hóa, "óc địa vị, cố tranh cho được ủy viên này, chủ tịch kia", chỉ "lo ăn ngon mặc đẹp, lo chiếm của công làm của tư", "giữ thói một người làm quan cả họ được nhờ, đem bà con bằng hữu đặt vào chức này, việc kia", rồi "không phê bình giúp nhau sửa đổi, mà lại che đậy cho nhau", làm hỏng việc của đất nước, làm mất niềm tin của nhân dân.
Theo Người, cán bộ, đảng viên phải là người vừa có đức vừa có tài nhưng đức là gốc vì "Trước mặt quần chúng, không phải ta viết lên trán hai chữ "cộng sản" mà ta được họ mến. Quần chúng chỉ yêu quý những người có tư cách, đạo đức"; "Muốn hướng dẫn quần chúng phải làm mực thước cho người ta bắt chước, hô hào nhân dân tiết kiệm thì mình phải tiết kiệm trước đã"...
Rèn luyện đạo đức cách mạng là để làm cách mạng, làm tròn nhiệm vụ nhân dân giao, để xứng đáng là công bộc của dân. 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Sự quan tâm của Bác Hồ đối với văn học dân gian trước hết biểu hiện ở thái độ trân trọng, khẳng định vai trò và sức sáng tạo, giá trị văn hóa tinh thần của nhân dân trong lịch sử, ở việc vận dụng linh hoạt những hình tượng, truyền thuyết dân gian, những câu ca dao, tục ngữ vào những tác phẩm, những bài báo, những bức thư và lời phát biểu của Bác.
Cuộc đời, sự nghiệp của Bác Hồ là cuộc đời, sự nghiệp của một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, đồng thời là cuộc đời, sự nghiệp của một nhà văn, nhà thơ lớn. Từ trước tới nay đã có nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên cứu văn thơ của Bác, nghiên cứu ý kiến của Bác Hồ đối với văn nghệ. Trong bài viết này, tôi muốn qua những lời dạy và những tác phẩm của Bác, tìm hiểu những ý kiến của Bác về văn học dân gian và phong cách dân gian trong thơ văn của Bác.
Sự quan tâm của Bác Hồ đối với văn học dân gian trước hết biểu hiện ở thái độ trân trọng, khẳng định vai trò và sức sáng tạo, giá trị văn hóa tinh thần của nhân dân trong lịch sử, ở việc vận dụng linh hoạt những hình tượng, truyền thuyết dân gian, những câu ca dao, tục ngữ vào những tác phẩm, những bài báo, những bức thư và lời phát biểu của Bác. Bác Hồ bàn về văn học dân gian không nhiều nhưng ý kiến của Bác vô cùng cô đọng, súc tích và trong cái cô đọng, súc tích ấy vẫn đầy đủ những quan niệm của Bác về văn học dân gian.
Năm 1958, tại Hội nghị cán bộ văn hóa, Bác nêu rõ quần chúng là người sáng tạo ra lịch sử, ra của cải vật chất cho xã hội; đồng thời là người sáng tạo ra tinh thần, sáng tạo ra văn nghệ: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là những người sáng tạo. Nhưng quần chúng không chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã hội. Quần chúng còn là người sáng tác nữa… Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng, các sáng tác ấy rất hay mà lại ngắn chứ không trường giang đại hải, dây cà ra dây muống”. Bác đánh giá cao các sáng tác của nhân dân, coi “những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý”. Bác chỉ ra cho chúng ta thấy văn nghệ của dân tộc ta rất phong phú, phải chú ý khôi phục và bảo vệ. Những sáng tác dân gian qua nhiều năm được nhân dân giữ gìn mài giũa còn lại đến ngày nay đã và đang cổ vũ, động viên mọi người xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chứng minh thuyết phục ý kiến của Bác. 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 50 tác phẩm hội họa đặc sắc, thể hiện tấm lòng tri ân, tôn kính của các thế hệ nghệ sĩ tạo hình Việt Nam đối với Bác Hồ sẽ được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nhân kỷ niệm nửa thế kỷ thực hiện bản Di chúc thiêng liêng của Người. Dù với chất liệu, bút pháp nghệ thuật nào thì bao trùm lên tất cả, những tác phẩm đặc biệt đó mang đến cho người xem xúc cảm dâng trào, niềm tôn kính thiêng liêng với vị Cha già dân tộc.
Vẽ với cả tấm lòng tôn kính
Trong các tác phẩm văn học nghệ thuật, hình tượng Bác Hồ luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho những sáng tạo của các nghệ sĩ, trong đó có giới nghệ sĩ tạo hình. Nhân kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969-2019), chào mừng 74 năm Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2-9-1945 – 2-9-2019), vào ngày 30-8 tại Hà Nội, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam khai mạc triển lãm hội họa đặc biệt mang tên Nhớ về Bác.
TS Nguyễn Anh Minh, Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam chia sẻ, Nhớ về Bác là cuộc triển lãm chuyên đề đặc biệt được Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam tổ chức trong dịp cả đất nước kỷ niệm nửa thế kỷ thực hiện bản Di chúc thiêng liêng mà Người để lại. Bằng ngôn ngữ đặc thù của nghệ thuật tạo hình, 50 tác phẩm tại triển lãm khắc họa từ nhiều góc độ hình tượng giản dị mà rất đỗi thiêng liêng, vĩ đại của vị Cha già dân tộc. Triển lãm giới thiệu 50 tác phẩm nghệ thuật đa dạng về thể loại: hội họa, đồ họa, điêu khắc, áp-phích với nhiều chất liệu khác nhau như: sơn dầu, sơn mài, khắc gỗ, bột mầu, mầu nước… được 39 họa sĩ, nhà điêu khắc thuộc nhiều thế hệ sáng tác trước và sau khi bản Di chúc thiêng liêng của Bác ra đời.
Ðằng sau mỗi nét vẽ, mảng mầu, công chúng yêu hội họa đều có thể cảm nhận được tấm lòng tôn kính và tình yêu thương của những danh họa nổi tiếng Việt Nam khi vẽ về Người. Cũng theo lãnh đạo Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, trong kho tàng đồ sộ những tác phẩm hội họa, những bộ sưu tập thuộc sở hữu của Bảo tàng, sưu tập những tác phẩm hội họa về Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được gìn giữ, bảo quản nghiêm ngặt. Trưng bày Nhớ về Bác cũng là dịp hiếm hoi Bảo tàng đưa ra trưng bày một số lượng lớn các tác phẩm nghệ thuật giá trị về Người. 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Trước nhất, có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của Bác đã khơi nguồn sáng tạo cho nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ đi theo cách mạng. Kể cả những nhà thơ nổi tiếng “duy mỹ” như Nguyễn Xuân Sanh cũng có những sáng tác hay về Bác, đó là bài thơ “Mẹ con” ngợi ca công lao của Bác đối với đồng bào vùng cao trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Sự đa dạng, phong phú về tác giả kéo theo sự đa dạng về thể loại và bút pháp trong việc khắc họa hình ảnh Bác. Về thơ, có thể kể đến “Sáng tháng Năm”, “Bác ơi” của Tố Hữu; “Người đi tìm hình của nước” của Chế Lan Viên; “Viếng Lăng Bác” của Viễn Phương; “Gửi lòng con đến cùng Cha” của Thu Bồn...
Ở thể trường ca có những tác phẩm, như: “Theo chân Bác” của Tố Hữu, “Mùa thu nhớ Bác” của Ngô Văn Phú, “Bác Hồ và người chiến sĩ” của Lê Huy Quang, “Một người-Thơ-Tên gọi” của Nguyễn Thế Kỷ... Văn xuôi có truyện ký “Người ở nguồn” của Hoàng Việt Quân, tiểu thuyết có “Búp sen xanh” của Sơn Tùng, “Cha và con” của Hồ Phương, “Mặt trời Pác Bó” và “Giải phóng” của Hoàng Quảng Uyên... Mặc dù đa dạng về thể loại nhưng chất lượng tác phẩm không có sự đồng đều. Trong khi thơ, trường ca đã “phủ sóng”, tái hiện toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú của Bác và có những tác phẩm vươn đến đỉnh cao thì ở tiểu thuyết-thể loại vốn được xem là máy cái của nền văn học-vẫn còn những điều băn khoăn.
Về chất lượng, các tiểu thuyết viết về Bác mặc dù có những nỗ lực khám phá, tìm tòi nghệ thuật nhưng vẫn chưa có những tác phẩm xứng đáng với sự mong chờ, kỳ vọng của công chúng. Mặt khác, các tiểu thuyết viết về Bác mới chỉ tập trung vào cuộc đời của Bác từ thời thơ ấu cho đến khi ra đi tìm đường cứu nước mà ít đề cập đến quãng đời 30 năm bôn ba hải ngoại. Trong sự hiểu biết của mình, chúng tôi mới chỉ thấy có tiểu thuyết “Trông vời cố quốc” của nhà văn Hoàng Quảng Uyên là viết về quãng đời hoạt động cách mạng của Bác từ lúc ra đi ở Bến Nhà Rồng cho đến khi Người trở về Cao Bằng. Điều này trái ngược hẳn với tình hình ở lĩnh vực điện ảnh. Bộ môn nghệ thuật thứ bảy đã có hàng loạt tác phẩm về cuộc đời của Bác trong 30 năm tìm đường cứu nước, như: “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”, “Thầu Chín ở Xiêm”, “Vượt qua bến Thượng Hải”... tạo được dấu ấn tốt đẹp đối với công chúng trong và ngoài nước. Đây là điều đáng tiếc đối với tiểu thuyết nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung, bởi quãng thời gian 30 năm hoạt động tìm đường cứu nước của Bác chứa đựng trong đó những câu chuyện, những bài học, những tư tưởng, triết lý sâu sắc làm chúng ta hiểu rõ hơn về sự vĩ đại của Người cũng như bối cảnh lịch sử trong nước và thế giới ở thời điểm đó.
Theo chúng tôi, sở dĩ có tình trạng trên là do một vài nguyên nhân sau: Khó khăn đầu tiên và lớn nhất là vấn đề tư liệu. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử. Do đó, tiểu thuyết viết về Bác là tiểu thuyết lịch sử. Vì vậy, sự chân xác của tư liệu lịch sử là vấn đề then chốt, sống còn, quyết định đến thành công của tiểu thuyết. Để có được những tư liệu quý có giá trị (không kể đến nguồn tư liệu qua dịch thuật, qua internet mà đôi khi có thể là tài liệu hư cấu) buộc các nhà văn phải đi điền dã, thực tế tìm tư liệu. Đây là công việc đòi hỏi phải có thời gian, quan hệ và... kinh phí. Việc đi điền dã, tìm tư liệu trong nước là có thể làm được.
Tuy nhiên việc “ăn dầm nằm dề” hàng tháng, thậm chí hàng năm trời để gặp gỡ nhân chứng, tìm kiếm tài liệu ở nước ngoài xa xôi là điều vượt quá khả năng của đại đa số nhà văn Việt Nam. Chính điều này đã hạn chế cơ hội của các nhà văn tiếp cận đề tài Bác Hồ ở nước ngoài. Mặt khác, ngoài khó khăn trong tìm kiếm tư liệu, các nhà văn cũng phải giải quyết vấn đề “khó nhằn” nhất của tiểu thuyết lịch sử: Sự cân bằng giữa các yếu tố mâu thuẫn, đối nghịch nhau. Trong đề tài về Bác nói chung và đề tài về Bác hoạt động ở nước ngoài nói riêng, có 3 sự cân bằng mà theo chúng tôi là những thách thức thật sự cho người cầm bút. Đó là sự cân bằng trong việc khắc họa giữa Hồ Chí Minh với tư cách một vĩ nhân, một nhà chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa lỗi lạc trong tương lai và Hồ Chí Minh-một con người bình dị, đời thường giữa mảnh đất xa xôi. Đó là sự cân bằng giữa sự chân thực và hư cấu trong xây dựng nhân vật, tình tiết, chi tiết truyện. Đó là sự cân bằng giữa tình cảm yêu mến, cảm phục vô vàn đối với Bác và giọng điệu khách quan trong miêu tả. Ba sự cân bằng này tạo ra thế “chân kiềng”, vừa là bệ đỡ chắc chắn, vừa là bệ phóng cho tác phẩm vươn đến thành công. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, đây là điều vô cùng khó, mà theo cảm nhận chủ quan của chúng tôi, chưa có một tiểu thuyết viết về Bác từ trước đến nay đạt được sự cân bằng này.
Trên đây là một vài nguyên nhân khách quan và chủ quan khiến số lượng tiểu thuyết viết về cuộc đời hoạt động ở nước ngoài của Bác còn ít ỏi. Mảng đề tài này vẫn đầy tiềm năng cho các nhà văn khai thác. Thiết nghĩ, viết về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác ở hải ngoại không chỉ là trách nhiệm, là biểu hiện của tình cảm yêu quý vô vàn đối với Bác mà còn là sự đóng góp thiết thực vào dòng chảy văn học cách mạng của các nhà văn. 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Kỷ niệm 80 năm Bác Hồ viết tác phẩm "Lịch sử nước ta" là dịp để chúng ta ghi nhớ công ơn của Người đã dành cả cuộc đời cho độc lập của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân, và cũng là dịp để chúng ta luôn ghi nhớ lịch sử nước nhà, lịch sử hào hùng của dân tộc mà cha ông ta qua nhiều thế hệ đã phải hy sinh xương máu để gìn giữ.
1. Lịch sử là động lực thôi thúc cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, ngày 28/1/1941 lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc. Tại làng Pắc Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, Người đã mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ cách mạng, trực tiếp bắt tay thực hiện chương trình thí điểm của Việt Minh, tổ chức các Hội Cứu quốc. Ngày 6/6/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đoàn kết, nhất tề đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật. Người còn xuất bản tờ báo “Việt Nam độc lập” (số đầu tiên ra ngày 1/8/1941) và viết bài cho cơ quan ngôn luận Việt Minh bí mật đóng ở căn cứ rừng núi Cao Bằng. Mục đích của Người là giúp cán bộ Việt Minh có thêm nguồn tư liệu để truyền bá, vận động quần chúng tích cực tham gia vào đoàn thể cứu quốc, vào đội bán vũ trang chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng khi thời cơ đến.
Tác phẩm “Lịch sử nước ta” gồm 236 câu theo thể thức lục bát, xuất bản lần đầu vào tháng 2/1942, do Việt Minh tuyên truyền bộ ấn hành; trình bày lịch sử Việt Nam từ thời Vua Hùng dựng nước đến năm 1941. Nội dung tác phẩm nêu bật tinh thần yêu nước, truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc qua các triều đại, ca ngợi những anh hùng dân tộc trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm.
Trước năm 1941, những bộ thông sử của nước ta gồm có: Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Khâm định việt sử thông giám cương mục do Quốc sử quán triều Nguyễn viết... Những vị tiền nhân sử học biên soạn bằng chữ Hán và chữ Việt, theo thể văn chính luận, ghi chép các biến cố về đời sống, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội nước nhà. Tuy phong cách viết khác nhau nhưng họ đều giống nhau ở tình yêu tha thiết với lịch sử đất nước. Được viết bởi Nguyễn Ái Quốc - Người cộng sản Việt Nam đầu tiên, “Lịch sử nước ta” là tác phẩm có giá trị đặc biệt đứng về phương diện sử học bởi đây là lần đầu tiên lịch sử Việt Nam được đánh giá theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin. Tác giả Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên những quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo làm phong phú thêm kho tàng tư tưởng lý luận của Đảng. Người đã khái quát và coi lịch sử là một nguồn tư liệu vô giá, là động lực góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Ngay từ những câu đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định vị trí quan trọng của lịch sử dân tộc:
“Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam,
Kể năm hơn bốn ngàn năm,
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà”.[1]
Trân trọng lịch sử, tự hào về truyền thống giữ nước của dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã dùng những từ ngữ phổ thông, dân dã, dễ hiểu, dễ nhớ, ca ngợi, tri ân, vinh danh các triều đại vua chúa, các đấng anh hùng có tài trị quốc an dân, phát triển đất nước, diệt giặc ngoài thù trong, mở mang bờ cõi như: Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống quân Nam Hán để lại “tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta”, Bà Triệu khởi nghĩa chống quân Ngô, Lý Bôn đánh Tàu “lập nên triều Lý sáu mươi năm liền”, Mai Thúc Loan chống nhà Đường, Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, “ra tài kiến thiết kinh dinh”, Lê Đại Hành “đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành”; “đời Trần văn giỏi võ nhiều” đã 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược. Khi quân Minh đô hộ nước ta, Lê Lợi với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã “Đánh 20 vạn quân Minh tan tành, Mười năm sự nghiệp hoàn thành…”. Đặc biệt, trong 236 câu diễn ca, Nguyễn Ái Quốc đã tâm huyết viết về thời đại Quang Trung - Nguyễn Huệ 40 câu, đủ biết Người đã dành ý tưởng của mình cho thời kỳ oai hùng này.
Bằng việc điểm lại những cuộc đấu tranh, khởi nghĩa chống quân xâm lược với những tên tuổi tiêu biểu, Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng, trải qua hàng nghìn năm lịch sử, thời nào đất nước ta cũng xuất hiện những nhân tài có công trị nước yên dân, xây dựng cuộc sống thanh bình, hạnh phúc. Đặc biệt là những khi đất nước bị xâm lăng, từ những người nông dân áo vải bình dị đã sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt có lòng yêu nước nồng nàn, có tài cầm quân thao lược giữ yên bờ cõi, trở thành tấm gương sáng, để lại tiếng thơm cho muôn đời. Đồng thời Nguyễn Ái Quốc cũng nghiêm khắc phê phán một số triều đại thoái vị cướp ngôi, tạo nên cảnh chia cắt “Lê Nam - Mạc Bắc”; “Trịnh Bắc - Nguyễn Nam”; “Nam - Bắc phân tranh”; “Vua Lê chúa Trịnh”;… cõng rắn, cắn gà nhà, rước voi giày mả tổ, gây nên thảm cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt, kéo dài hàng thế kỷ, làm chậm quá trình phát triển của đất nước trong một thời gian dài. 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Cần phải chăm sóc tốt trâu bò trong vụ rét sắp tới
Mùa Thu sắp qua, Đông rét sắp tới, các hợp tác xã cần phải chăm sóc trâu bò chu đáo. Mấy năm gần đây, thi đua với các hợp tác xã Đồng Xuân Tiến (Ninh Bình), Nam Hưng và Đông Bình Cách (Thái Bình), nhiều hợp tác xã đã chăn nuôi tốt, trâu bò được béo khỏe, không chết trong vụ rét, lại đẻ thêm được nhiều bê nghé.
Vài ví dụ:
- Hợp tác xã Trần Phú (Nam Hà) năm 1960 chỉ có 35 trâu, thiếu sức kéo. Nhưng từ năm 1963 đến nay, do chăn nuôi tốt cho nên trong năm năm liền không có trâu nào chết, lại có thêm được 82 nghé. Vì đủ sức kéo cho nên đã thâm canh đạt hơn 5 tấn thóc một hécta.
- Hợp tác xã Phú Yên (Vĩnh Phú) trước đây không đủ trâu bò cày. Từ năm 1963, vì ra sức chăn nuôi tốt, chẳng những đủ sức kéo lại còn thừa trâu bò để cung cấp cho hợp tác xã bạn hơn 60 con.
Nhiều nơi, các cụ phụ lão đã hăng hái tham gia việc bảo vệ trâu bò. Như cụ Nguyễn Đình Ba, 73 tuổi, xã Vũ Lãm (Thái Bình), từ năm 1961 đến nay đã nuôi 5 trâu gầy yếu thành trâu béo khoẻ.
Các cháu thiếu niên ở nhiều tỉnh đã tổ chức thành những nhóm chăm sóc trâu bò. Như ở Yên Bái, các cháu có phong trào nuôi trâu béo khỏe, thực hiện khẩu hiệu: “Trâu là bạn quý, Mỹ là kẻ thù”. Hợp tác xã “Măng non” thôn Kim Đô (Hải Hưng) trong ba năm nhận nuôi 65 con trâu thì 50 con được xếp loại A.
Như vậy là các cụ phụ lão và các cháu thiếu niên đều có thể giúp sức nhiều vào việc chăm sóc tốt trâu bò.
Mong các cụ phụ lão, các cháu thiếu niên và hợp tác xã các tỉnh như Thanh Hóa, Lạng Sơn, Hà Bắc, Hà Tây và các tỉnh khác thi đua với các cụ và các cháu thiếu niên ở các tỉnh Thái Bình, Hải Hưng, Yên Bái, hăng hái chăm sóc trâu bò cho béo khỏe.
Việc chăm sóc tốt trâu bò là nhiệm vụ chung của cả hợp tác xã. Các cán bộ địa phương đều phải ra sức làm tốt. Đó cũng là một cách thiết thực của đồng bào nông dân ở hậu phương tham gia sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.
T.L.
---------------------
- Báo Nhân Dân, số 5292, ngày 9-10-1968, tr.1.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd,t.15, tr.502-503. 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Tết trồng cây
Ngày nay, đồng bào ta ai cũng hiểu rõ trồng cây gây rừng có ích lợi to lớn cho kinh tế và quốc phòng. Vì vậy, Tết trồng cây là ngày mở đầu cho việc trồng cây suốt cả năm, đã trở thành một tục lệ tốt đẹp của nhân dân ta. Tính chung trong mấy năm nay, theo báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp, nhân dân ta đã trồng được hàng chục vạn hécta cây các loại trên các đồi, bãi, vườn, hai bên đường, trên bờ mương máng, v.v..
Trong mấy năm chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, nhân dân ta càng nhận rõ lợi ích của việc trồng cây, cho nên phong trào trồng cây càng phát triển. Việc trồng cây ngày càng hướng vào những yêu cầu thiết thực như lấy gỗ, cây ăn quả, cây chắn gió phục vụ thâm canh lúa, bảo vệ đê, bao đồi, chống xói mòn, chống cát bay, v.v.. Những dải rừng được trồng ở ven biển, dọc đường giao thông, trong thôn xóm, đã có tác dụng lớn.
Những nơi có thành tích trồng cây trước đây như Lạc Trung, Ngọc Long, Liên Phương, v.v., vẫn tiếp tục phát triển. Gần đây, có thêm một số nơi phong trào trồng cây khá, như các tỉnh Nam Hà, Quảng Ninh, Hà Tĩnh, nhất là Lạng Sơn phong trào đang vươn lên mạnh. Nguyên nhân chính là do các Tỉnh ủy, các cấp Đảng và chính quyền thiết thực lãnh đạo nhân dân ra sức trồng cây và bảo vệ cây.
Một ví dụ: Xã Đô Lương (Lạng Sơn) có nhiều đất rừng, nhưng trước đây không biết chăm lo trồng cây. Từ năm 1964, trong cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã, Đô Lương hợp bảy hợp tác xã nhỏ thành ba hợp tác xã lớn. Việc trồng rừng được quản lý tốt, bảo vệ tốt, kết quả bước đầu là với 270 hécta rừng được chăm sóc, hằng năm đã bán cho Nhà nước 1.100 mét khối gỗ và 1.000 mét khối củi.
Nhờ trồng cây tốt cho nên thuỷ lợi cũng tiến bộ. Hơn 100 hécta ruộng trước kia bỏ hoá, nay đã trở thành ruộng 5 tấn. Đóng góp lương thực nghĩa vụ ngày càng tăng, năm 1967 được 130 tấn thóc, năm 1968 được 141 tấn thóc.
Thu nhập của hợp tác xã cũng ngày càng tăng, năm 1965 thu được 16.250 đồng, năm 1967 thu được 50.240 đồng. Nhờ vậy, đời sống của xã viên ngày càng cải thiện. Ví dụ đó chứng tỏ trồng cây gây rừng rất ích nước lợi nhà.
Những cá nhân có thành tích xuất sắc như: Anh hùng trồng cây Nguyễn Văn Tần, cán bộ miền Nam tập kết ở Vĩnh Phú; cụ Nguyễn Văn Quắc, 74 tuổi, ba năm liền chiến sĩ thi đua về trồng cây ở Ninh Bình; ông Hoàng Đông Hán ở Quảng Ninh; cụ Sùng Chín Tín ở Hà Giang; cụ Nông Quảng Liêm ở Lạng Sơn, tự tay mình trồng được 3.500 cây trên đồi trọc, cây nào cũng tốt, cụ còn vận động cả hợp tác xã trồng được hàng vạn cây xanh tươi, v.v..
Bên cạnh những gương tốt đó, còn có những địa phương trồng cây gây rừng chưa tốt, hoặc kém bảo vệ, chăm sóc, cho nên trồng nhiều mà cây sống ít, diện tích đồi trọc còn nhiều. Nguyên nhân là do ngành lâm nghiệp chưa quan tâm đúng mức, nhưng chủ yếu là do cấp ủy và ủy ban hành chính địa phương chưa lãnh đạo tốt phong trào trồng cây. Các địa phương đó cần học tập và thi đua với những nơi có phong trào trồng cây khá. Chúng ta phải trồng cây cho cả đồng bào miền Nam nữa.
Kinh nghiệm cho thấy rằng: Mọi người đều nên tham gia trồng cây, nhưng lực lượng các cụ phụ lão có tổ chức là quan trọng và các cháu thiếu nhi là lực lượng góp phần đắc lực.
Năm nay, chúng ta thi đua trồng cây cho thật tốt, phải bảo đảm trồng cây nào tốt cây ấy, tổ chức “một Tết trồng cây quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”.
T.L.
-------------------
- Báo Nhân Dân, số 5411, ngày 5-2-1969, tr.1.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd,t.15, tr.549-551. 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân
Nhân dân ta thường nói: đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Đó là một lời khen chân thành đối với đảng viên và cán bộ chúng ta.
Trải qua 39 năm đấu tranh oanh liệt, làm Cách mạng Tháng Tám thành công, kháng chiến lần thứ nhất thắng lợi và ngày nay vừa chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nhân dân ta tin tưởng rằng: Đảng ta lãnh đạo rất sáng suốt đã đưa dân tộc ta tiến lên không ngừng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hằng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ, đảng viên ta đã tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang.
Đảng ta đã đào tạo một thế hệ thanh niên cách mạng, gái cũng như trai, rất hăng hái, dũng cảm trong mọi công tác.
Đó là những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân dân ta và Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng như thế.
Song bên cạnh những đồng chí tốt ấy, còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém.
Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”.
Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ.
Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.
Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm.
Để làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng, Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ.
Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ.
Đó là một cách thiết thực để kỷ niệm ngày thành lập Đảng ta, Đảng vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân anh hùng của chúng ta. Đó cũng là một việc làm cần thiết để giúp tất cả cán bộ, đảng viên đều tiến bộ, góp sức nhiều hơn nữa cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước toàn thắng và xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công.
T.L.
----------------
- Báo Nhân Dân, số 5409, ngày 3-2-1969, tr.1.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd,t.15, tr.546-548. 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Phải hoàn thành tốt công tác phòng và chống lụt, bão năm 1968
Mấy năm gần đây, đến mùa này, ở miền Bắc nước ta thường có mưa lũ lớn, giặc Mỹ lại đánh phá đê, kè. Đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta đã anh dũng chiến đấu, vượt nhiều khó khăn, thêm nhiều kinh nghiệm và đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chống lụt, chống bão, chống địch.
Cả nước ta đang phấn khởi, tự hào vì miền Nam anh hùng đánh mạnh, thắng to, miền Bắc đã bắn rơi hơn ba nghìn máy bay Mỹ. Giặc Mỹ thua to nhưng vẫn rất ngoan cố, chúng vẫn dùng máy bay đánh phá các vùng đông dân và có nhiều đê. Chúng ta không được chủ quan khinh địch, phải luôn luôn cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu.
Hiện nay đang mùa mưa lũ, ở một số nước châu Á đã xảy ra nạn lụt. Các ngành và các địa phương cần coi trọng hơn nữa việc phòng và chống lụt, bão, chống địch đánh phá đê, kè.
Nhiều nơi đã bồi đắp xong đê. Có nơi làm khá như Vĩnh Phú, Nam Hà, Hải Hưng, Hà Bắc, nhưng cũng có nơi làm còn chậm. Nhiều xã chưa tổ chức xong lực lượng phòng và chống lụt, bão; nhiều hợp tác xã nông nghiệp chưa chuẩn bị sẵn sàng.
Các cấp tỉnh, huyện phải kiểm tra thật kỹ việc chuẩn bị ở địa phương.
Các đồng chí lãnh đạo tỉnh và huyện phải phân công nhau trực tiếp đi xuống các xã, hợp tác xã nông nghiệp để kiểm tra, đôn đốc, giúp đỡ việc chuẩn bị phòng, chống lụt, bão và đẩy mạnh sản xuất vụ mùa. Phải vận động đồng bào làm nhiều thuyền, mảng, ụ đất, sàn gác, chằng chống nhà cửa cho vững, phòng khi lụt to, bão lớn. Phải giữ gìn và sửa sang hầm hố, phòng máy bay giặc Mỹ.
Các đơn vị bộ đội, các cơ quan phải có kế hoạch tích cực tham gia và giúp đỡ nhân dân chuẩn bị các mặt cho tốt.
Đồng bào, chiến sĩ và cán bộ ta phải có quyết tâm cao, phải chuẩn bị tốt, nhất định phải thắng thiên tai, địch họa trong mùa mưa lũ năm nay, góp phần đẩy mạnh sản xuất và giành thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.
T.L.
---------------------
- Báo Nhân Dân, số 5196, ngày 4-7-1968, tr.1.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd,t.15, tr.469-470. 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc[1]
Cùng với nhân dân Liên Xô và nhân dân lao động toàn thế giới, nhân dân Việt Nam đang sôi nổi chào mừng ngày kỷ niệm lần thứ 50 cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.
Trong cao trào chống Mỹ, cứu nước, với quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước mình, nhân dân Việt Nam nhiệt liệt hướng về Liên Xô, quê hương của Lênin vĩ đại và của Cách mạng Tháng Mười vẻ vang, đầy lòng biết ơn và tin tưởng.
Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế.
Cách mạng Tháng Mười là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác và học thuyết Lênin ở một nước lớn là Liên Xô, rộng một phần sáu thế giới. Đó là thắng lợi vĩ đại nhất của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức do giai cấp công nhân và đội tiền phong của họ là Đảng bônsêvích lãnh đạo. Cách mạng Tháng Mười đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của những người lao động, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội không có người bóc lột người.
Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.
Về ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Mười, Lênin nói:
“Chúng ta có quyền tự hào và thực thế, chúng ta tự hào là chúng ta có vinh hạnh được bắt đầu xây dựng Nhà nước Xôviết và do đó, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới, thời đại thống trị của một giai cấp mới, giai cấp bị áp bức trong tất cả các nước tư bản chủ nghĩa và ở bất cứ nơi nào cũng đang tiến tới một cuộc đời mới, tiến tới chiến thắng giai cấp tư sản, tiến tới chuyên chính của giai cấp vô sản, tiến tới giải phóng loài người khỏi ách tư bản, khỏi những cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa”[2].
Tình hình thế giới trong 50 năm qua đã chứng minh hùng hồn nhận định thiên tài ấy của Lênin. Thật vậy, từ Cách mạng Tháng Mười, trên thế giới đã diễn ra rất nhiều sự biến đổi cách mạng cực kỳ to lớn!
Liên Xô, Nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên, đã tỏ ra có sức mạnh phi thường. Ngay từ khi mới thành lập, Liên Xô chẳng những đập tan được bọn phản cách mạng trong nước, mà còn đánh thắng cuộc can thiệp vũ trang của 14 nước đế quốc; chưa đầy 30 năm sau lại đánh thắng hoàn toàn bọn phát xít Đức - Ý - Nhật, chẳng những bảo vệ được Nhà nước Xôviết mình mà còn góp phần to lớn giải phóng nhiều nước khác, cứu cả loài người khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa phát xít.
Mặc dù bị chiến tranh tàn phá nặng nề và chịu đựng muôn nghìn gian khổ, hy sinh (20 triệu người chết, 1.710 đô thị bị tàn phá và hơn 3 vạn xí nghiệp bị hư hại), do sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự cố gắng phi thường của toàn dân, chỉ trong mấy năm, Liên Xô đã phấn đấu vô cùng anh dũng, hàn gắn lại vết thương của chiến tranh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và tiến lên xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa cộng sản. Liên Xô đã trở thành một nước công nghiệp lớn có một nền khoa học và kỹ thuật hiện đại bậc nhất trên thế giới và là nước đầu tiên đã mở đường chinh phục vũ trụ.
Sau Cách mạng Tháng Mười Nga, thắng lợi của cách mạng Trung Quốc cũng có ý nghĩa quốc tế cực kỳ quan trọng. Đó là một thắng lợi vĩ đại mới của chủ nghĩa Mác - Lênin ở một nước nửa thuộc địa và nửa phong kiến với 700 triệu dân do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Chưa đầy 20 năm, từ một nước nông nghiệp lạc hậu bị bọn đế quốc nước ngoài cùng bọn tư sản quan liêu và địa chủ phong kiến trong nước áp bức, bóc lột nặng nề, Trung Quốc đã vùng dậy giành lại và củng cố nền độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và ngày nay đã trở thành một nước lớn có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp phát triển, khoa học và kỹ thuật tiên tiến.
Thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở các nước Ba Lan, Bungari, Cộng hoà Dân chủ Đức, Hunggari, Rumani, Tiệp Khắc, Anbani, Mông Cổ, Triều Tiên, Cuba và Việt Nam cũng có ý nghĩa lịch sử rất to lớn. 21/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Kiên quyết cấm nấu rượu trái phép
Toàn dân ta đang ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu kiên quyết, để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.
Nhưng vẫn có một số ít người vì muốn làm tiền bất nghĩa mà đành lòng lãng phí lương thực để nấu rượu trái phép. Thật là xấu xa!
Ngày 27-10-1966, Nhà nước ta đã ban bố lệnh cấm nấu rượu trái phép. Việc đó rất hợp với ý nguyện của nhân dân.
Nấu rượu lậu chẳng những phạm pháp luật và lãng phí lương thực, mà nó còn đẻ ra nhiều tệ nạn xấu xa khác. Một ví dụ:
Xã L.T. (Kim Sơn, Ninh Bình) vốn có truyền thống anh dũng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Sau cải cách ruộng đất, hơn 88% nông hộ đã hăng hái vào hợp tác xã. Nhân dân trong xã đoàn kết chặt chẽ, làm ăn cần cù. Nhưng về sau nạn nấu rượu lậu đã làm cho xã ấy kém sút mọi bề. Trước hết, nó làm cho cán bộ hư hỏng, tham ô, lãng phí, quan liêu, hách dịch, xa rời quần chúng, mất tín nhiệm đối với nhân dân. Như:
- Lãng phí. Chỉ trong 14 tháng, cán bộ đã chi 4.435 đồng và 2.609 kilô thóc của công để chè chén trong 146 cuộc họp cán bộ.
- Tham ô. Quỹ của xã thiếu hơn 5.000 đồng mà cán bộ phụ trách tài chính không giải thích được. Cán bộ đã vay nợ 3.555 kilô thóc của xã. Huyện chỉ cho phép bán 18 tấn thóc nghĩa thương, nhưng cán bộ đã bán 25 tấn để chia nhau mua với giá rẻ. Quần chúng phải trả 6 đến 8 hào một kilô, cán bộ chỉ trả 25 đến 33 xu một kilô.
- Không công bằng. Việc phân phối và điều hoà lương thực rất không công bằng. Có hộ bình quân mỗi người một tháng được 50 đến 60 kilô thóc, có hộ thì chỉ được 6 đến 7 kilô.
- Mất đoàn kết. Do thói xấu tự tư tự lợi mà nội bộ mất đoàn kết, cán bộ kéo bè, kéo cánh chèn ép lẫn nhau, đả kích lẫn nhau, tranh nhau quyền lợi và địa vị, v.v..
Nói tóm lại, cán bộ xã L.T. đã bị con ma rượu lậu làm cho lu mờ tinh thần cách mạng, quên hết tư cách đảng viên, cho nên mọi việc đều kết quả xấu: 60% hộ trong hợp tác xã cũng đua nhau nấu rượu lậu. Mỗi tháng lãng phí hơn 7 tấn thóc. Cờ bạc, ma chay, đồng bóng, thói hư tật xấu phát triển không ngừng. Công việc đồng áng bị lơ là. Nhân dân xem thường cán bộ. Quần chúng thắc mắc với nhau. Đời sống văn hóa và vật chất của xã sút kém.
May mà Tỉnh ủy và Huyện ủy đã kiểm tra và giúp đỡ xã L.T. sửa chữa.
Nói chung, cán bộ và nhân dân ta rất tốt. Khi đã biết rằng nấu rượu lậu là xấu xa và phạm pháp thì họ khuyên bảo nhau bỏ nghề ấy ngay. Một ví dụ:
Ở làng Lã (Hà Bắc), từ xưa nấu rượu lậu là một nghề cổ truyền, mọi nhà đều nấu. Mỗi tháng tốn hết 30 tấn gạo. Nhưng đã mấy năm nay, làng Lã đã bỏ nghề đó. Trước hết, cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên đi tuyên truyền và thuyết phục từng người, từng nhà, rồi ra sức giúp cho họ có công ăn việc làm, như chỉnh đốn lại hợp tác xã nông nghiệp, biến ruộng một mùa thành hai mùa, như đưa họ đi vỡ hoang, v.v.. Nhờ vậy, từ một làng lạc hậu, đầy rẫy hơi men, làng Lã đã trở thành một làng tiên tiến.
Được như vậy là do đảng viên và đoàn viên đều làm gương mẫu tốt. Cán bộ xung phong đi trước, lôi cuốn đồng bào làm theo.
Việc đồng bào làng Lã đã làm được tốt thì đồng bào những nơi có thói nấu rượu lậu, nhất định cũng làm được.
CHIẾN SĨ
---------------------
- Báo Nhân Dân, số 4615, ngày 26-11-1966, tr.2.
- Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd,t.15, tr.202-204.