Không gian văn hóa Hồ Chí Minh
0 0 0 2 3 3 1 2 9 3
Đang online:
8
Hôm nay :
506
Hôm qua :
1,975
Tuần này :
5,138
Tuần trước :
6,389
Tháng này :
8,562
Tháng trước:
33,492
20/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh - Có rất nhiều câu chuyện cảm động của Bác Hồ về dân chủ. Chúng ta biết rằng, năm cuối đời, sức khỏe giảm sút, nhưng Bác kiên trì luyện tập thân thể để tiếp tục làm việc. Sáng nào Bác cũng dậy sớm tập thể dục. Cán bộ T.Ư Đảng đi làm rất sớm bằng xe đạp, thấy Bác liền xuống xe chào Bác, có những đồng chí nữ còn xúc động ngã xe, Bác lại tiến gần đỡ lên và nói: Các cháu lúc nào cũng gặp Bác ở đây, cứ đi làm bình thường, chỉ cần gật đầu với Bác, mỉm cười với Bác, gọi Bác là được rồi, việc gì phải xuống xe, Bác có phải là vua đâu mà các cô, các chú hạ mã mãi thế! Đây cũng thể hiện sự dân chủ của Bác.
Năm 1957 và sau đó 1961, là 2 lần Bác về thăm quê Nam Đàn, Nghệ An. Quê Bác thời bấy giờ rất nghèo. Bác về thăm quê giữa trời nắng của miền Trung như đổ lửa, vậy mà khi nói chuyện với cán bộ, nhân dân Bác không cần phải che nắng, đứng giữa trời hòa đồng, động viên nhân dân lao động, sản xuất. Thấy vậy, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy lấy ô che cho Bác, Bác nói ngay: “Liệu chú có đủ 1 vạn cái ô ở đây không?” Rất thấm thía vậy đấy! “Bác muốn hòa vào dân, chịu đựng những vất vả, khó khăn cùng dân nên chú cất ô đi. Dân chịu được thì Bác cũng chịu được; để Bác nói chuyện với nhân dân còn kết thúc sớm cho dân đỡ nắng”. Đây chính là ý thức, tình cảm dân chủ của Bác với nhân dân.
Bác thường dặn chúng ta, đừng nể Bác mà không phê bình, Bác có điều gì sai các chú phải nói Bác mới sửa được. Ví dụ, thấy Bác có một vết nhọ trên trán mà các chú nể không nói thì sao Bác biết để sửa. Vết nhọ đó không đáng sợ, vết nhọ trong tư tưởng, trong đầu mới đáng sợ! Cho nên thương yêu nhau thì phải nghiêm khắc, giúp đỡ, phê bình để cùng nhau tiến bộ. Vì ai cũng có khuyết điểm. Ở đời có 2 loại người không có khuyết điểm và không còn khuyết điểm nữa: Một là đang nằm trong bụng mẹ; hai là đã nằm gọn trong áo quan. Chứ còn sống, còn làm việc thì có khuyết điểm là chuyện bình thường, nhất là làm lãnh đạo thì càng dễ mắc khuyết điểm vì áp lực, tránh nhiệm cao. Quan trọng là có biết sửa hay không. Bác là tấm gương về điều này.
Để có dân chủ thì phải có khoa học; phải có đạo đức; có ý thức trách nhiệm về chính trị… Theo Giáo sư Hoàng Chí Bảo: Từ những ngày đầu đổi mới, Đảng ta đã đặt mục tiêu dân chủ hóa toàn diện các lĩnh vực của xã hội; sau 15 năm đổi mới chúng ta đã đưa mục tiêu dân chủ vào hệ thống các mục tiêu của xã hội: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; Đảng và Nhà nước đã có quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn gặp những trở ngại. Thứ nhất, đó là ý thức tôn trọng pháp luật của người dân còn chưa cao, kể cả cán bộ và đảng viên; ở đây chúng ta thường thấy rõ trong dân mình đó là trọng lệ hơn trọng luật. Thứ hai, đó là dân chủ đối lập với quan liêu, tham nhũng; mà người dân phản cảm, lên án nhất chính là quan liêu, tham nhũng của cán bộ nhà nước. Thứ ba, hiện nay chúng ta phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, những mặt tích cực cũng nhiều, tiêu cực cũng không ít nhất là sự trỗi dậy của chủ nghĩa cá nhân, coi thường luật pháp, thông tin thật – giả lẫn lộn, chính vì vậy chúng ta phải tạo được môi trường lành mạnh từ gia đình, nhà trường đến xã hội; từ trong Đảng, Nhà nước đến nhân dân… 19/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Đối với tất cả các nước trên thế giới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết tha mong muốn duy trì tình hữu nghị và thành thật hợp tác trên cơ sở bình đẳng và tương trợ để xây dựng hòa bình thế giới lâu dài”.
Lời nói trên được Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày trong Hội nghị những người Ấn nghiên cứu vấn đề quốc tế, ngày 7 tháng 2 năm 1958. Đây là giai đoạn Người có nhiều hoạt động đối ngoại, viếng thăm các nước. Qua đó, Người thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Việt Nam trong đối ngoại, tố cáo những âm mưu chia cắt, cô lập đất nước ta lâu dài và tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với cách mạng nước ta.
Câu nói trên đã diễn đạt đầy đủ nguyện vọng, quan điểm và đường lối đối ngoại của Việt Nam lúc bấy giờ là duy trì tình hữu nghị, sự hợp tác chân thành với tất cả các nước trên thế giới dù có chế độ chính trị khác nhau, trên nguyên tắc bình đẳng và tương trợ lẫn nhau nhằm xây dựng hòa bình trên thế giới. Quan điểm của Người là nền tảng tư tưởng cho đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta và là cơ sở để các nước có chế độ chính trị khác nhau trên thế giới công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Quán triệt và thực hiện quan điểm của Người, hoạt động đối ngoại của nước ta không ngừng mở rộng và phát triển, đã tranh thủ được sự ủng hộ giúp đỡ to lớn của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa cũng như của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ cho cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của nhân dân ta. Đặc biệt, quan điểm đó của Người đã mở đường cho chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các hoạt động đối ngoại, Việt nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay.
Thực hiện lời dạy trên của Người, Quân đội nhân dân Việt Nam đã và đang quán triệt sâu sắc đường lối phát triển đất nước, đường lối quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng, tích cực, chủ động tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc phù hợp với khả năng và bản chất nhân văn, nhân đạo của một quân đội cách mạng. Quán triệt, thực hiện quan điểm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay, quân đội cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam, trên cơ sở đó nhận rõ đối tượng tác chiến; không ngừng chăm lo xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó có một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại để góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần gìn giữ hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. 19/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”... “Ham muốn tột bậc” ấy của Bác Hồ đã được lịch sử chứng minh không chỉ là câu nói xuất phát từ đáy lòng mà còn là mục tiêu, hành động nhất quán của Người.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có nội dung quan trọng về giải phóng đất nước, chăm lo đời sống nhân dân, gọi chung là tư tưởng yêu nước, thương dân. Sự hình thành và phát triển tư tưởng đó bắt nguồn đầu tiên từ truyền thống “yêu nước, thương nòi” của dân tộc - thể hiện rõ qua lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Bà Triệu chống quân Ngô với tuyên bố: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ đâu chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”. Danh tướng Trần Bình Trọng khi bị rơi vào tay quân Nguyên - Mông đã khảng khái nói: “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Còn trong tác phẩm bất hủ Bình ngô đại cáo, Nguyễn Trãi thể hiện sâu sắc tư tưởng yêu nước, thương dân khi dành trọn phần mở đầu để nói về “nhân nghĩa”, “yên dân”: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”...
Tư tưởng yêu nước, thương dân của Bác còn được phát triển từ truyền thống gia đình. Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, gần gũi với nhân dân. Cha của Người, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, người thầy đầu tiên dạy Chủ tịch Hồ Chí Minh bài học làm người và lòng yêu nước. Trong 5 năm từ chối ra làm quan, cụ Nguyễn Sinh Sắc thường đến những nơi có phong trào đấu tranh chống Pháp sôi nổi kết giao với những người có lòng yêu nước, có chí cứu nước như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Đặng Thái Thân..., và thường cho Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành đi cùng. Tư tưởng yêu nước, thương dân của Bác còn được phát triển từ tư tưởng nhân văn cao cả của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin... Chủ nghĩa yêu nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ, tổng hòa của tư tưởng yêu nước Việt Nam chân chính với hệ tư tưởng tiên tiến của giai cấp công nhân mà chủ nghĩa Mác - Lênin là đại diện.
- “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”, câu nói ấy đã làm xúc động hàng triệu con tim Việt Nam. Tư tưởng đó đã được Bác thể hiện như thế nào, thưa ông?
- Lòng yêu nước là động lực thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước khi chứng kiến cuộc sống cơ cực của người dân bị thực dân, phong kiến áp bức, bóc lột đến tận cùng xương tủy, khi nghĩ đến thân phận nô lệ của đồng bào mình. Tháng 12-1920, khi Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours (Pháp), trả lời câu hỏi của một nhà báo quốc tế, Người khẳng định: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh (năm 1927), Bác nêu rõ mục tiêu tiến tới thành lập Đảng Cộng sản, mang lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào mình, “kách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều”...
Khi Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng đăng trên Báo Cứu Quốc số ra ngày 17-10-1945, Bác khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”... Chính vì thế, sau Cách mạng Tháng Tám, Bác phát động ngay việc diệt “giặc đói”, cứu đói dân nghèo. Người mẫu mực thực hiện trước: “Lúc chúng ta mang bát cơm lên mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước. Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”. Sau này, Bác luôn nêu cao khẩu hiệu “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”. Đi đến đâu Bác cũng hỏi đời sống của người dân, việc phát triển kinh tế thế nào, và động viên nhân dân tích cực lao động sản xuất, nâng cao đời sống.
Đặc biệt, trong bản Di chúc, đến phút cuối đời Bác vẫn canh cánh “nỗi lo dân nước, nỗi năm châu”, căn dặn “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Ngay cả việc hậu sự của mình, Người cũng chỉ nghĩ đến dân, đất nước: “Chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”... Trong trả lời phỏng vấn một nhà báo nước ngoài 3 tháng trước khi Bác đi vào cõi người hiền, câu nói của Bác: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”, đã khái quát tư tưởng yêu nước, thương dân của Người. Tư tưởng ấy như sợi chỉ đỏ xuyến suốt cuộc đời hoạt động của Bác, để lúc nào trong tâm trí Người cũng canh cánh: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”...
- Ông đánh giá thế nào về giá trị tư tưởng yêu nước, thương dân của Bác trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc?
- Tư tưởng yêu nước, thương dân của Bác luôn có giá trị rất lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cách mạng Tháng Tám thành công, nhất quán với tư tưởng yêu nước, thương dân của Bác, Đảng và Chính phủ đã nêu rõ quan điểm “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”. Để đẩy lùi nạn đói, khắc phục tình trạng kiệt quệ sau chiến tranh, một mặt Chính phủ ra lời kêu gọi cả nước “nhường cơm sẻ áo” cứu giúp những người đang trong lúc khốn quẫn, mặt khác phát động phong trào tăng gia sản xuất với khẩu hiệu “tấc đất, tấc vàng”. Xác định “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” như lời Bác Hồ khẳng định, Chính phủ phát động phong trào “diệt giặc dốt”, coi đây là công việc cấp bách như “diệt giặc đói” và “diệt giặc ngoại xâm”.
Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, thấm nhuần tư tưởng yêu nước, thương dân của Bác, Đảng và Nhà nước đã nỗ lực nâng cao vị thế đất nước, đời sống của nhân dân, đạt được những thành tựu rất to lớn. Từ một đất nước trước năm 1986 còn nghèo nàn, thu nhập bình quân đầu người chưa đến 100 USD/năm, nay đã trở thành một nước có thu nhập trung bình với 2.600 USD/người/năm. Việt Nam được thế giới công nhận là một nước năng động về phát triển kinh tế, có chế độ chính trị ổn định, an sinh xã hội được bảo đảm... Đặc biệt, trong 8 mục tiêu thiên niên kỷ mà Liên hợp quốc nêu ra vào năm 2000 như: Triệt để loại trừ tình trạng bần cùng (nghèo cùng cực) và thiếu ăn; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học; nâng cao bình đẳng giới và vị thế, năng lực của phụ nữ; giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em; phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác... thì đến năm 2015, Việt Nam là một trong những nước thực hiện thành công nhất.
Đó là bởi Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, giảm nghèo bền vững, về xây dựng nông thôn mới, về việc làm và dạy nghề... để phát triển đất nước, cải thiện đời sống nhân dân được đánh giá cao. Đó là chưa kể Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình 135) năm 1998; Quyết định 134/2004/QĐ-TTg năm 2004 về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn; Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo; Chương trình 167 thực thi theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở... Trong Cương lĩnh Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng nêu 8 đặc trưng của xã hội Xã hội chủ nghĩa, trong đó hai đặc trưng đầu là: Xã hội chủ nghĩa hướng tới dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; là xã hội do nhân dân làm chủ... Bằng những hành động, chương trình cụ thể, Đảng và Chính phủ Việt Nam đang chứng tỏ là của dân, vì nhân dân phục vụ.
Tuy nhiên, phải thẳng thắn nhìn nhận rằng nhiều bộ phận dân cư còn khó khăn, vẫn còn sự phân hóa giàu nghèo, lãnh đạo một số nơi quan liêu, tham nhũng, gây mất niềm tin của nhân dân. Chính vì thế, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Khi tất cả đều quán triệt sâu sắc tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, chắc chắn chúng ta sẽ đẩy lùi khó khăn, hạn chế, tiêu cực..., xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. 30/1/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Chào mừng kỷ niệm 94 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2024)🌼
Sáng, chiều ngày 29/01/2024) với sự tham gia của hơn 2800 Đội viên, học sinh Liên đội đã ôn lại truyền thống 94 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2024) và tổ chức sân khấu hoá, diễn hoạt cảnh, tái hiện lại chiến thắng oai hùng của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo vĩ đại của Đảng cộng sản Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh và sự đoàn kết của toàn dân tộc. Qua đó nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, yêu dân tộc, khẳng định vai trò, uy tín, bản lĩnh, trí tuệ, năng lực lãnh đạo của Đảng.
Cùng với đó nhà trường cũng tổ chức sơ kết học kỳ I năm học 2023 - 2024 khen thưởng cho những em học sinh có thành tích học tập nổi bật, xuất sắc trong học kỳ I năm học 2023 - 2024.
#ToKykhonggianvanhoaHoChiMinhtrennengtangso
#liendoithcstoky 24/1/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Sáng, chiều ngày 22/01/2024 trong tiết sinh hoạt dưới cờ, Liên đội tổ chức Hoạt động "Nói lời hay làm việc tốt", mỗi ngày một tin tốt, mỗi tuần một câu chuyện đẹp, một quyển sách hay, một tấm gương sáng.
Hoạt động nhằm giáo dục truyền thống, đạo đức, nếp sống: Giúp đội viên nâng cao hiểu biết về truyền thống cách mạng của dân tộc, Đảng, Bác Hồ; Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Đội TNTP Hồ Chí Minh. Giáo dục cho các em tình yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc; bồi dưỡng cho cá… Xem thêm 18/1/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Trong số những yếu tố làm nên chân dung lãnh tụ lỗi lạc - danh nhân văn hoá thế giới Hồ Chí Minh, không thể không kể đến khả năng sử dụng ngôn từ siêu việt của Người. Từ xưa đến nay, đã có hàng chục cuốn sách, hàng trăm bài báo ca ngợi Hồ Chí Minh như một nghệ sĩ ngôn từ bậc thầy. Thế nhưng, có vẻ như tất cả những công trình đó mới chỉ là sự khởi đầu. Bởi khi tiếp xúc với nhiều văn bản từ lâu đã trở thành quen thuộc đối với hàng triệu công chúng của Bác, chúng ta vẫn thường xuyên cảm thấy ngỡ ngàng trước sự toả sáng của không ít câu chữ mà Người từng nói, từng viết. Bài viết này của chúng tôi xin đề cập một trường hợp như thế.
Năm 1946, trong cuộc nói chuyện với đồng bào trước lúc sang Pháp, Bác có câu: "Đồng bào thương tôi, ... làm theo lời tôi nói".
Ở đây, chúng tôi đã cố ý lược đi một từ ở chỗ dấu ba chấm để làm một cuộc thử. Với câu hỏi "Theo anh (chị), Bác đã dùng từ gì ở đó?" được đặt ra cho nhiều đối tượng khác nhau (tất cả đều có trình độ đại học trở lên), chúng tôi đã nhận được các phương án trả lời với các từ: Hãy, phải, thì, cần, nên, xin, cứ nhớ, mong, cùng, cố gắng, sẽ, vậy, ắt.
Có một điều thú vị là tất cả các phương án nói trên đều chuẩn xác về mặt ngôn ngữ, song lại không trùng với phương án của Bác. Chắc chắn Bác đã cân nhắc rất kỹ và đã có sự lựa chọn tối ưu tới mức ngỡ ngàng.
Vậy tại sao Bác lại không sử dụng các phương án trên? Chúng ta hãy thử cùng nhau tìm câu trả lời.
- Hãy: "Đồng bào thương tôi, hãy làm theo lời tôi nói". "Hãy" ở đây biểu thị tính chất mệnh lệnh của phát ngôn. Do vậy, câu nói của Bác "hãy làm theo lời tôi nói" trở thành câu ra lệnh. Điều này sẽ khẳng định quyền uy của Bác, qua đó làm gia tăng khoảng cách giữa một vị lãnh tụ tối cao và quảng đại quần chúng nhân dân. Vì lẽ đó, Bác, với tư cách là một vị cha già kính yêu và gần gũi của cả dân tộc, không thể sử dụng.
- Phải: "Đồng bào thương tôi, phải làm theo lời tôi nói". "Phải" có ý nghĩa là: "ở trong điều kiện bắt buộc không thể không làm, nhất thiết không thể khác hoặc nhất thiết cần phải có". Như vậy, từ này làm cho câu nói của Bác mang tính áp đặt, gợi cảm giác nặng nề đối với quần chúng nhân dân.
- Thì: "Đồng bào thương tôi, thì làm theo lời tôi nói". "Thì" là một thành tố trong cặp từ quan hệ "nếu...thì..." dùng để biểu thị giả thiết hay điều kiện. Do đó, câu này sẽ trở thành câu điều kiện, thể hiện sự tính toán, cân nhắc đầy sắc màu lý trí, khiến người đọc, người nghe không cảm nhận được sự gần gũi, thân thiết của Bác đối với mình.
- Cần: "Đồng bào thương tôi, cần làm theo lời tôi nói". "Cần": "Không thể không làm, không thể không có, vì nếu không làm, không có thì sẽ có hại". Câu này nhấn quá mạnh vào tính cấp thiết, vào tầm quan trọng của việc làm theo lời Bác. Cho nên, nó cũng có giọng điệu nặng nề, thể hiện một sắc thái thiếu khiêm nhường nào đó về mặt ý nghĩa.
- Nên: "Đồng bào thương tôi, nên làm theo lời tôi nói". "Nên" là dấu hiệu của lời khuyên. Mà đối với lời khuyên thì người ta có quyền lựa chọn: làm hoặc không làm. Câu này chưa thể hiện được đầy đủ tình cảm cũng như niềm tin của Bác đối với quần chúng nhân dân.
- Xin: "Đồng bào thương tôi, xin làm theo lời tôi nói". Từ "xin" ở đây có thể hiểu theo hai cách: 1,"biểu thị thái độ khiêm tốn, lịch sự"; 2, "cầu xin". Với cách hiểu thứ nhất của từ "xin", câu nói của Bác sẽ trở nên trang trọng tới mức khách sáo, không phù hợp với đối tượng mà nó hướng tới là quần chúng nhân dân. Còn với cách hiểu thứ hai, câu nói này thể hiện sự hạ thấp vị thế của chủ thể phát ngôn. Cả hai trường hợp đều không thể được Bác sử dụng.
- Cứ: "Đồng bào thương tôi, cứ làm theo lời tôi nói". "Cứ": "Từ biểu thị ý nhấn mạnh thêm về sắc thái khẳng định, không kể khách quan như thế nào". Câu này thể hiện lòng tin tới mức tuyệt đối hoá của chủ thể phát ngôn vào sự đúng đắn trong tư tưởng của mình. Điều này cũng có nghĩa: người nói đã phần nào chủ quan.
- Nhớ: "Đồng bào thương tôi, nhớ làm theo lời tôi nói". Từ "nhớ" mang sắc thái dặn dò, nhắc nhở. Nghe câu nói này, công chúng khó tránh khỏi có ý nghĩ: người nói lo rằng người nghe có thể quên vì chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của vấn đề mà anh ta vừa nêu. Và như vậy, nó không phù hợp với quan hệ đầy tin tưởng giữa Bác và quần chúng nhân dân.
- Mong: "Đồng bào thương tôi, mong làm theo lời tôi nói". "Mong" trong trường hợp này biểu thị ý nghĩa: "có nguyện vọng rằng, ước muốn rằng". Do vậy, câu nói trên không thể hiện tính chủ động của chủ thể phát ngôn cũng như niềm tin của người đó vào đối tượng tiếp nhận là "đồng bào".
- Cùng: "Đồng bào thương tôi, cùng làm theo lời tôi nói". Câu nói này có thể hiểu là lời khuyên nhủ mà cũng có thể hiểu là lời kêu gọi nhân dân thống nhất hành động. Trong cả hai trường hợp nó đều chưa thể hiện được niềm tin của chủ thể phát ngôn; mặt khác, còn hàm ý: đồng bào hình như vẫn chưa sẵn sàng hành động hoặc thiếu sự đoàn kết, nhất trí.
- Cố gắng: "Đồng bào thương tôi, cố gắng làm theo lời tôi nói". Từ "cố gắng" làm cho câu văn mang giọng điệu của một lời động viên, an ủi. Trong trường hợp này, chủ thể phát ngôn có vẻ chưa đánh giá đúng mức khả năng của quần chúng nhân dân và cũng chưa bộc lộ được niềm tin của mình vào họ.
- Sẽ: "Đồng bào thương tôi, sẽ làm theo lời tôi nói". Từ "sẽ" dùng để biểu thị thời tương lai, cho nên nó đã giới hạn phạm vi thời gian của hành động "làm theo lời tôi nói" (đồng bào từ trước tới nay luôn làm theo lời Bác, chứ đâu chỉ có ở một thời điểm nào đó). Mặt khác, nó còn thể hiện tính chắc chắn thái quá của sự việc, mà Bác Hồ hiểu rất rõ nên không dùng "sẽ".
- Vậy: "Đồng bào thương tôi, vậy làm theo lời tôi nói". "Vậy" trong bối cảnh này "dùng để chỉ điều vừa được nói đến là xuất phát điểm cho điều sắp được nêu ra". Như thế, hai vế trong câu nói của Bác thể hiện quan hệ nhân quả ("Đồng bào thương tôi" là nguyên nhân, "vậy làm theo lời tôi nói" là kết quả). Song, vế thứ hai "vậy làm theo lời tôi nói" là cấu trúc cầu khiến, nói cụ thể hơn, nó có dạng thức: "vậy, đồng bào hãy làm theo lời tôi nói". Điều này làm cho phát ngôn của Bác mang sắc thái cứng rắn của một mệnh lệnh.
- Ắt: "Đồng bào thương tôi, ắt làm theo lời tôi nói". "Ắt": "Từ biểu thị ý khẳng định điều cho là chắc chắn sẽ xảy ra với điều kiện đã nói đến". Do vậy, phát ngôn của Bác trở thành câu điều kiện. Thêm vào đó, từ "ắt" còn biểu thị tính tất yếu của hành động "làm theo lời tôi nói", tức là thể hiện sự tự tin tuyệt đích của người nói. Những sắc thái này, như chúng tôi đã luận giải trong trường hợp dùng "thì" và "cứ", Bác hoàn toàn không muốn đồng bào phải cảm nhận khi nghe câu nói của Người.
Vậy, ở chỗ dấu ba chấm nói trên, Bác Hồ đã dùng từ gì?
Câu trả lời thật bất ngờ: từ "chắc". "Đồng bào thương tôi, chắc làm theo lời tôi nói". Một câu nói tưởng chừng hết sức đơn giản nhưng là kết quả của cả một sự chắt lọc kỹ lưỡng.
Quan hệ giữa Bác và quần chúng nhân dân là quan hệ giữa những người ruột thịt (từ "đồng bào" khẳng định điều này). Bác luôn tin tưởng vào sức mạnh vô tận của nhân dân: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân". Thêm vào đó, Bác là người khiêm nhường nên không bao giờ tuyệt đối hoá lòng tin của mình tới mức chủ quan.
Tất cả những yếu tố trên thúc đẩy Bác lựa chọn từ "chắc". "Chắc" mới chỉ là "có nhiều khả năng, rất có thể". Như vậy, về mặt ý nghĩa, "chắc" thể hiện niềm tin lớn nhưng vẫn lường trước những tình huống không mong đợi, dù với xác suất rất nhỏ, có thể xảy ra. Mặt khác, từ "chắc" còn làm cho cấu trúc câu nói của Bác không mang sắc thái điều kiện, cũng không biểu thị chức năng cầu khiến. Những lý do trên đã giúp câu nói của Bác thật mềm mại, nhẹ nhàng, ân cần, gần gũi, phù hợp với phong thái vốn có của Bác mà vẫn đầy hiệu lực: Ai có thể không nghe và làm theo ý nguyện chân tình, tràn ngập niềm tin nhưng vẫn đầy khiêm tốn của một người vẫn đối xử với ta với tư cách của "người cha, người bác, người anh"?
Thế mới hay, Bác là người cẩn trọng trong sử dụng câu chữ tới mức nào.
Từ ví dụ cụ thể này, ta có thể rút ra 3 bài học sau:
Thứ nhất, trước khi nói và viết, cần xác định rõ các nhân tố tham gia hoạt động giao tiếp (những người tham gia giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp, cách thức giao tiếp, v.v.).
Thứ hai, với mỗi ý tưởng, hãy cố gắng tìm ra nhiều cách diễn đạt khác nhau. Sau đó, cân nhắc để lựa chọn cách diễn đạt phù hợp và hiệu quả nhất.
Thứ ba, những người càng có vị trí quan trọng trong xã hội (nhất là các nhà quản lý, các nhà truyền thông), càng phải nắm chắc và thường xuyên trau dồi các kiến thức về sử dụng ngôn ngữ. 18/1/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp cực kỳ vẻ vang, nhưng phải lâu dài và gian khổ. Nhân dân ta cần phải có tinh thần phấn đấu bền bỉ, quyết tâm vượt mọi khó khăn, để giành lấy những thắng lợi mới rực rỡ hơn nữa”.
Câu nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong:“Lời phát biểu tại lễ bế mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Khóa III” ngày 3-7-1964 đăng trên Báo Nhân dân, số 3748, ngày 4-7-1964.
Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhận rõ việc xây dựng Chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp cực kỳ vẻ vang nhưng cũng nhiều khó khăn, gian khổ và lâu dài. Do đó, cần sự đồng thuận, phấn đấu kiên trì, bền bỉ với một quyết tâm cao độ mới có thể đưa sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta đến thắng lợi hoàn toàn đồng thời phải kiên quyết khắc phục tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí.
Thấu triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tính chất của sự nghiệp xây dựng CNXH là cơ sở lý luận khoa học, cách mạng để Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12-1986) khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước; bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
Hiện nay, trước tình hình diễn biến phức tạp, khó lường, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, kiên định con đường đi lên CNXH, vững tin vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững chắc để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và lợi ích của quốc gia dân tộc, thực hiện thành công mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cán bộ, chiến sĩ toàn quân và Hải quân nhân dân Việt Nam luôn ý thức rõ trách nhiệm chính trị, trọng trách mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân đã giao phó; tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, luôn là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. 18/1/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Câu nói “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã trở thành bất hủ, không chỉ phản ánh ý chí, khát vọng của toàn dân tộc mà còn trở thành động lực, tiếp thêm sức mạnh cho nhân dân Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, tại Hà Nội, ngày 17/7/1966. Người khẳng định: Không có gì quý hơn độc lập tự do.
Cách đây 55 năm, ngày 17/7/1966, giữa lúc cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược đang diễn ra hết sức quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Không có gì quý hơn độc lập, tự do," kêu gọi đồng bào, chiến sỹ cả nước anh dũng tiến lên chống Mỹ, cứu nước.
Từ đó, câu nói “Không có gì quý hơn độc lập, tự do" đã trở thành bất hủ, không chỉ phản ánh ý chí, khát vọng của toàn dân tộc mà còn trở thành động lực, tiếp thêm sức mạnh cho nhân dân Việt Nam trong suốt hành trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
“Không có gì quý hơn độc lập, tự do"
Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do" của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tư tưởng mang tầm chân lý, một chân lý bất hủ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và giá trị thời đại sâu sắc.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, độc lập, tự do là quyền dân tộc, quyền con người, là xuất phát điểm đối với mọi dân tộc trên con đường đi tới phồn vinh và hạnh phúc. Dân tộc không thể phát triển, đất nước không thể phồn vinh, nhân dân không thể có cơm no, áo ấm và cuộc sống hạnh phúc nếu không có được độc lập, tự do. Do đó, giành lấy và bảo vệ độc lập, tự do là yêu cầu sống còn của các dân tộc. Khi độc lập, tự do bị xâm phạm cả dân tộc phải kiên quyết đứng lên chiến đấu đến cùng để giữ vững và bảo vệ nền độc lập và tự do ấy.
Không phải đến khi viết lời kêu gọi ngày 17/7/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới khẳng định giá trị của độc lập tự do. Ngay từ khi còn niên thiếu, động lực thúc đẩy Người quyết chí ra tìm đường cứu nước chính là để tìm lại độc lập tự do cho dân tộc.
Sau này, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Người soạn thảo cũng xác định: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập." (1)
Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 5/1941), Đảng ta và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: “Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được." (2)
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giữ vững ngọn cờ độc lập, tự do, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân nêu cao ý chí, quyết tâm “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ." (3)
Đặc biệt, khi đế quốc Mỹ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam, đồng thời sử dụng không quân và hải quân tăng cường đánh phá miền bắc, lường trước khả năng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có thể còn lan rộng và vô cùng ác liệt, để khẳng định quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do."
55 nam Ngay Bac Ho ra loi keu goi “Khong co gi quy hon doc lap, tu do”
Ngày 17/7/1966, lời kêu gọi của Người được phát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam và được đăng trên báo Nhân Dân số 4484 ngày 17/7/1966. Trong lời kêu gọi này, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta cả ở miền Bắc cũng như ở miền Nam. Quân và dân miền Nam đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu anh dũng đã thắng lợi vẻ vang, thực hiện mục tiêu quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất nước nhà.
Thông qua lời kêu gọi đã thể hiện dân tộc Việt Nam hết sức bình tĩnh trước khó khăn, thách thức, tin tưởng vào sức mình, vào sự đoàn kết của toàn dân tộc. “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ!."(4)
Trong lời kêu gọi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một chân lý nổi tiếng làm cho lời kêu gọi ngày 17/7/1966 có sức lan tỏa rất xa và có sức mạnh tập hợp đoàn kết rất mạnh mẽ, đồng thời khẳng định một niềm tin lớn vào ngày mai. Đó là chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do." Và “đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn." (5)
Có thể khẳng định, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do" là tư tưởng mang tính cách mạng sâu sắc và triệt để. Nó gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người-sự nghiệp vĩ đại mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phấn đấu, hy sinh cả cuộc đời để thực hiện.
Chân lý bất hủ
Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do" của Chủ tịch Hồ Chí Minh có nội hàm rộng lớn, giá trị to lớn và tính cách mạng sâu sắc. Nó không chỉ là độc lập, tự do của Tổ quốc mà còn là hạnh phúc của nhân dân. Bởi “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì." (6)
Tháng 12/1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến, kêu gọi toàn dân tộc Việt Nam nhất tề đứng lên kháng chiến với quyết tâm: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. (Ảnh: Nguyễn Bá Khoản/Tư liệu TTXVN)
Và nó không chỉ đúng trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống xâm lược, mà còn có giá trị sâu sắc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ đất nước, quyết tâm giành lại độc lập tự do đã trở thành mục tiêu to lớn giúp Đảng ta thức tỉnh, tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước, tạo nên sức mạnh to lớn đánh Pháp, đuổi Nhật, làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám (1945), khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ (năm 1954) “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu," chấm dứt sự đô hộ của thực dân Pháp.
Với ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do!", dân tộc ta đã "đánh cho Mỹ cút." Thừa thắng, quân và dân ta tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong 55 ngày đêm tiến công, ta đã "đánh cho ngụy nhào."
Từ đây đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện trọn vẹn mong muốn của Bác Hồ và làm sáng ngời hiện thực của chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do!" trong sự nghiệp bảo vệ đất nước.
"Không có gì quý hơn độc lập, tự do!," chúng ta đã vào cuộc trường chinh xây dựng "đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" với công cuộc đổi mới theo sự chỉ dẫn của Bác Hồ: "chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi." Đi theo chỉ dẫn đó, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tiềm lực đất nước và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.
Không chỉ được thể hiện ở việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, độc lập tự do còn thể hiện rõ nét thông qua việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội để mang lại cho người dân cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, quan điểm xuyên suốt của Đảng ta là: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước." (7) Nền dân chủ và việc bảo đảm phát huy dân chủ không chỉ được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng mà còn được thể chế hóa và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước.
55 nam Ngay Bac Ho ra loi keu goi “Khong co gi quy hon doc lap, tu do”
Ngày 28/12/1967, Bộ Chính trị họp phiên đặc biệt, do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, chính thức thông qua kế hoạch chiến lược năm 1968, mở cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 là nhằm giáng một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải đơn phương ngừng ném bom miền bắc, buộc phải đi đến ngồi với ta, thương lượng với ta. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân;
2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức" (Điều 2);
Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người đều có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện" (Điều 3);
“Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước" (Điều 6)...
Quyền dân chủ của nhân dân còn được ghi nhận tại Chương II Hiến pháp năm 2013 (quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân) cũng như trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Trưng cầu dân ý, Luật Đất đai, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Báo chí, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm y tế...
Về phát triển kinh tế-xã hội, chăm lo cuộc sống của nhân dân, trong thời gian qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn. Kinh tế tăng trưởng khá đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng kém phát triển. GDP bình quân đầu người năm 2019 đạt 2.715 USD (gấp 15 lần năm 1990). Tỷ lệ hộ nghèo năm 2020 còn dưới 3%. Điều kiện và chất lượng giáo dục ngày càng tăng, trình độ y tế ngày càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng lên, từ “ăn no, mặc ấm" dần chuyển sang “ăn ngon, mặc đẹp" kết hợp vui chơi, giải trí.
Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 gây nhiều khó khăn cho đời sống và sản xuất của người dân và doanh nghiệp, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người lao động và sử dụng lao động, giúp họ vượt qua khó khăn, có thêm niềm tin vào cuộc sống.
Có thể khẳng định hơn nửa thế kỷ, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do" của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nội hàm rộng lớn vẫn luôn là chân lý bất hủ, có giá trị sâu sắc cho đến mãi về sau./.
(1): Hồ Chí Minh Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 3, trang 1.
(2): Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 7, trang 113.
(3): Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, tập 4, trang 534.
(4), (5): Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, tập 12, trang 131.
(6): Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, trang 64
(7): Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, trang 84-85. 18/1/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Báo Nhân dân số 362 ngày 27/2/1955 có đăng bài “Thư gửi hội nghị cán bộ Y tế” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một bức thư ngắn gọn nhưng sâu sắc, xúc tích và chất chứa đầy những lời dặn dò quý báu mang tính chiến định hướng chiến lược của Bác đối với những người làm công tác y tế. Trong bức thư chưa tới 2000 từ, Bác dành những câu những từ mộc mạc song đầy ý nghĩa, tình cảm tới những cán bộ công tác trong ngành Y tế. Bác dặn:
Thứ nhất, phải thật thà đoàn kết.
Đoàn kết có một vị trí và vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của cách mạng cũng như của mỗi tổ chức và từng ngành nghề nói riêng. Bác khuyên ngành nào cũng vậy cần phải thật thà đoàn kết, bởi “đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích”. Mục tiêu lớn nhất của đoàn kết đó chính là phục vụ nhân dân. Sự đoàn kết chính là điểm cốt lõi để thực hiên thắng lợi các nhiệm vụ được giao.
Thứ hai, thương yêu người bệnh
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Lương y như từ mẫu”, Người đánh giá rất cao vai trò của những người thầy thuốc trong xã hội. Người thầy thuốc trước hết phải là những người luôn phải đặt yếu tố đạo đức nghề nghiệp lên trên hết. Trong xã hội, nghề nào cũng cần nêu cao đạo đức nghề nghiệp nhưng riêng với nghề y, đạo đức đóng vai trò quan trọng hàng đầu, bởi đây là nghề chữa bệnh cứu người. Muốn làm tốt công việc của mình, bản thân người thầy thuốc còn phải luôn luôn rèn đức, hướng tâm, hướng thiện, hết lòng hết sức tận tụy phục vụ người bênh giống như một “người mẹ nhân từ”. Bác viết: “Người bệnh đã phó thác tính mệnh của họ nơi các cô chú. Chính phủ đã phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và sức khỏe cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang”. Bác dặn: “Cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em, ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn.”
Thứ ba, xây dựng một nền y học của ta
Hồ Chí Minh rất quan tâm tới việc xây dựng nền y học nước nhà, trong những năm nước ta bị nô lệ thì y học cũng như các ngành khác đều bị kìm hãm, nay chúng ta đã được độc lập, tự do, cán bộ cần giúp đồng bào và chính phủ xây dựng một nền y tế thích hợp với nhu cầu của nhân dân ta. Nguyên tắc xây dựng nền y học nước ta theo Hồ Chí Minh là phải: khoa học, dân tộc và đại chúng. Do ý nghĩa sâu sắc của bức thư này, ngày 06/02/1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 39/HĐBT lấy ngày 27/02 hàng năm làm “Ngày Thầy thuốc Việt Nam” và cũng kể từ đó, ngày 27/02 đã trở thành ngày truyền thống của ngành Y tế.
Nghề Y là một nghề rất đặc biệt và cao quí trong xã hội. Đối với những người thầy thuốc trước hết phải là những người luôn đặt yếu tố đạo đức nghề nghiệp lên trên hết. Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác cũng đã từng dạy: “Không có nghề nào nhân đạo bằng nghề cứu người. Không có nghề nào vô nhân đạo bằng nghề y thiếu đạo đức”. Cùng với sự phát triển về kinh tế, cuộc sống ngày càng được nâng cao hơn về chất lượng thì những ảnh hưởng, tác động của xu thế phát triển toàn cầu hóa, những mặt trái của nền kinh tế thị trường vấn đề y đức lại càng được nhắc đến nhiều hơn. Y đức là phẩm chất tốt đẹp, là giá trị cốt lõi của những người làm công tác y tế. Y đức được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, sự tận tụy phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh như chăm lo cho những người thân yêu trong gia đình của mình. Chúng ta không khỏi cảm phục khi có rất nhiều tấm gương các bác sĩ ở vùng sâu, vùng xa đã không quản ngại khó khăn, vất vả, dù chính sách đãi ngộ thấp nhưng vẫn kiên quyết ở lại cùng bà con nhân dân để tuyên truyền, hướng dẫn để bà con thay đổi những tập tục, thói quen cũ để biết đến cơ sở y tế khám, chữa bệnh; rất nhiều những tấm gương của các bác sĩ đóng góp một phần dù không nhỏ những đồng lương của mình để cho người bệnh có thêm điều kiện khám chữa bệnh tốt hơn, có thêm những cái Tết ấm hơn; ngay trong đại dịch Covid-19 đầu năm 2020, chúng ta thấy rõ hơn vai trò cũng như sự tâm huyết với nghề của những y bác sĩ tự nguyện đi trên chuyến bay Boing chở hàng cứu trợ và đón công dân Việt Nam trở về giữa tâm dịch Vũ Hán…
Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận những “con sâu làm rầu nồi canh”, gây phiền hà, nhũng nhiễu, khó khăn cho bệnh nhân, thậm chí gây ra những tổn thất nặng nề về tinh thần, thể lực, nghiêm trọng nhất là khiến bệnh nhân thiệt mạng chỉ vì trình độ kém, y đức kém. Trong lúc cả nước đang đẩy mạnh việc học tập Chỉ thị số 05, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, một lần nữa tiêu chuẩn đạo đức đối với mỗi cán bộ ngành y: “Lương y như từ mẫu” cần phải được nêu cao và thực hiện hiệu quả, luôn chí công vô tư trước những cám dỗ của đồng tiền, người thầy thuốc phải giữ vững bản lĩnh của mình, không phân biệt giàu nghèo để có sự quan tâm, chăm sóc đối xử tốt với tất cả các bệnh nhân, luôn đặt y đức, lương tâm trên hết coi đó là kim chỉ nam để không bị lầm đường lạc lối gây ra những buồn phiền cho người bệnh. Học và làm theo lời Bác để qua đó, mỗi cán bộ, nhân viên ngành y tế cần nhìn nhận cũng như đánh giá bản thân mình để cố gắng hơn nữa với trọng trách quan trọng của người làm công việc trị bệnh cứu người, không ngừng phát huy nhiều hơn nữa về đạo đức, y đức, phẩm chất của người thầy thuốc
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại và cùng với sự cần cù, chịu khó trong công tác nghiên cứu của đội ngũ cán bộ y bác sĩ Việt Nam, trong năm 2018 đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của ngành y tế Việt Nam. Nhiều kỹ thuật hiện đại, nhiều phương pháp điều trị mới được đưa vào ứng dụng một cách sáng tạo và thành công như ghép tạng, thử nghiệm thành công vắc xin cúm mùa “3 trong 1” gồm cúm A/H1N1/09, A/H3N2, cúm B và vắc xin cúm tiền đại dịch A/H5N1. Việt Nam cũng đã sản xuất vắc xin thành công sởi, vắc xin phối hợp Sởi - Rubella đạt tiêu chuẩn GMP của Tổ chức Y tế thế giới, WHO…góp phần quan trọng cải thiện sức khỏe cho người bệnh, giảm tỉ lệ tử vong. Điều này chứng tỏ trình độ chuyên môn và tay nghề cao của các thầy thuốc Việt Nam.
Đã 65 năm trôi qua nhưng giá trị của bức thư Bác gửi cho cán bộ ngành Y vẫn còn vẹn nguyên giá trị. Đây là dịp để một lần nữa chúng ta nhận thức sâu sắc hơn lời dạy thiết thực, những tình cảm quý báu của Bác đối với ngành Y tế Việt Nam. Năm 2020 đánh dấu kỷ niệm 65 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955 - 27/2/2020), xin gửi lời kính chúc tới tất cả những người đang khoác trên mình chiếc áo Blu trắng, mong rằng tất cả mọi người cùng đoàn kết, nêu cao y đức và chung tay xây dựng một nền y tế Việt Nam tiên tiến, dân tộc, khoa học, đại chúng đáp ứng ngày càng cao yêu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. 18/1/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại luôn dành những tình cảm tốt đẹp cũng như thời gian, công sức, trí tuệ của mình để giáo dục, bồi dưỡng các thế hệ thanh niên Việt Nam đến với cách mạng, tham gia vào quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Bởi theo Người thanh niên luôn là lực lượng tiên phong, xung kích trên các mặt trận, góp phần xây dựng hoà bình. Bác rất tin tưởng ở thanh niên - lực lượng hậu bị của Đảng và là lực lượng cách mạng cho đời sau.
Ngay từ thời trẻ, Người đã ý thức được vai trò của thanh niên trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc là vô cùng to lớn. Như tình cảm của một người cha đối với con, Bác Hồ hiểu rõ những ưu, nhược điểm của thanh niên nước ta. Bác luôn căn dặn thanh niên: “Thanh niên sẽ làm chủ nước nhà. Phải học tập mãi, tiến bộ mãi, mới thật là thanh niên”. Bác luôn nhấn mạnh đến việc học tập, vấn đề cốt lõi để các thế hệ thanh niên trang bị cho mình sự hiểu biết, vốn kiến thức, một trong những điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho các thế hệ thanh niên có thể vươn mình ra biển lớn, lấy sức trẻ làm giàu cho Tổ quốc, quê hương.
Có thể khẳng định rằng, chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã dành cho thế hệ trẻ những tình cảm và sự quan tâm sâu sắc.
Nhân dịp kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931-26/3/2016). Nhân dịp này, xin được trích dẫn những lời dạy mà lúc sinh thời Bác đã dành cho các thế hệ thanh niên Việt Nam để thấy được những tình cảm sâu sắc, sự quan tâm bồi dưỡng những thế hệ thanh niên của Bác kính yêu.
Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”.
(Thư gửi Thanh niên An Nam, 1925)
“… ngày nay chúng ta phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên toàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nhà nước trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai cùng các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.
(Thư gửi các em học sinh nhân Ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 9/1945).
“Hỡi anh chị em thanh niên Nam Bộ!
Tôi thề cùng các bạn giữ vững nền độc lập tự do của nước Việt Nam. Dẫu có phải hy sinh đến nửa số dân tộc, ta cũng quyết hy sinh. Cuộc kháng chiến tự vệ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam phải toàn thắng”.
(“Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ”, ngày 30/10/1945)
“... Một năm khởi đầu từ mùa Xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa Xuân của xã hội.
Vậy qua năm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới”.
Đời sống mới là:
- Hăng hái, kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ.
- Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm.
- Việc nên làm (như ủng hộ kháng chiến, tăng gia sản xuất) thì ta không chờ ai nhắc nhủ.
- Việc nên tránh (như tự tư tự lợi) thì ta không đợi ai ngăn ngừa”
(Gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến, 1 - 1946, Sđd, tập 4, trang 167)
“… Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó”.
(“Thư gửi các bạn thanh niên”, ngày 12/8/1947)
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”.
(Bài thơ Bác tặng Đơn vị thanh niên xung phong 312 làm đường tại xã Cẩm Giàng, Bạch Thông, Bắc Kạn, ngày 28/3/1951)
“Ưu điểm của thanh niên ta là hăng hái, giàu tinh thần xung phong. Khuyết điểm là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh anh hùng. Rất mong toàn thể thanh niên ta ra sức phát triển những ưu điểm và tẩy sạch những khuyết điểm ấy. Huy hiệu của thanh niên ta là “tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên”. Ý nghĩa của nó là: Phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng. Thanh niên phải thành một lực lượng to lớn và vững chắc trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Đồng thời phải vui vẻ, hoạt bát. Bác mong mỗi cháu và toàn thể các cháu nam nữ thanh niên cố gắng làm tròn nhiệm vụ, để xứng đáng với cái huy hiệu tươi đẹp và vẻ vang ấy”.
(Thư gửi thanh niên, tháng 4/1951, Hồ Chí Minh toàn tập)
“Kháng chiến càng tiến tới, công việc ngày càng nhiều, chúng ta cần củng cố và phát triển Ðội TNXP để bảo đảm thêm công việc kháng chiến và đào tạo cán bộ sau này. Nhiệm vụ của Ðội TNXP là xung phong mọi việc bất kỳ việc khó, việc dễ và phục vụ đến ngày kháng chiến thành công. Ðó là nhiệm vụ rất vẻ vang của thanh niên”.
(“Ðội Thanh niên xung phong” đăng trên báo Nhân Dân số 147, 1953)
“Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào
(Bài nói chuyện với sinh viên và thanh niên trong Lễ khai mạc Trường Đại học Nhân dân Việt Nam ngày 19/11/1955)
“Tính trung bình thanh niên chiếm độ 1 phần 3 tổng số nhân dân – tức là một lực lượng to lớn. Lực lượng to lớn thì phải có nhiệm vụ to lớn”
(“Nhiệm vụ của thanh niên ta”, báo Nhân dân ngày 20/12/1955)
“Người ta thường nói: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Để thật xứng đáng là người chủ của một nước xã hội chủ nghĩa, thanh niên ta quyết tâm thực hiện mấy điều sau đây:
- Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là khiêm tốn, đoàn kết, thực hành chủ nghĩa tập thể, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, người tiên tiến thì giúp đỡ người kém, người kém phải cố gắng để tiến lên, ra sức cần kiệm xây dựng nước nhà.
- Phải nghiêm khắc chống chủ nghĩa cá nhân như tự tư tự lợi, tự kiêu, tự mãn, chỉ tham việc gì có danh tiếng, xem khinh những công việc bình thường. Phải chống tham ô, lãng phí.
- Phải cố gắng học hỏi để không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa và kỹ thuật để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.”
(Bài nói chuyện tại Đại hội Thanh niên tích cực lao động xã hội chủ nghĩa, ngày 17/3/960)
“Thanh niên ta phải cố gắng học. Do hoàn cảnh trong xã hội cũ hạn chế nên số đông thanh niên công – nông ta ít được học. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhất định phải có học thức”.
(Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam, ngày 24/3/1961)
“Bác rất yêu quý thanh niên:
- Vì thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách, dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai - tức là các cháu nhi đồng.
- Vì thanh niên là người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế và văn hóa trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Vì thanh niên là lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ, đang hăng hái giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ Tổ quốc"
(Bài nói chuyện tại Đại hội toàn quốc lần thứ hai của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, ngày 20/12/1961)
“Phải không sợ khổ, không sợ khó, thực hiện đâu cần thanh niên có, việc khó có thanh niên, gặp gian khổ phải đi lên phía trước, khi hưởng thụ phải hưởng thụ sau mọi người”.
(Bài phát biểu tại Hội nghị Cán bộ toàn miền Bắc, tháng 9/1962)
Đảng, Chính phủ và Bác rất chú ý đến thanh niên. Bác vui lòng khen ngợi những cố gắng của thanh niên… Thanh niên phải xung phong đến những nơi khó khăn gian khổ nhất, nơi nào người khác làm ít kết quả, thanh niên phải xung phong đến làm cho tốt.
Trọn đời trung thành với sự nghiệp cách mạng, với Tổ quốc, với Đảng, với giai cấp.
Không sợ khổ, không sợ khó, thực hiện: "Đâu cần thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm", "gian khổ thì đi trước, hưởng thụ sau mọi người".
Không nên tự cho mình là tài giỏi, không khoe công, không tự phụ.”
(Bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam toàn miền Bắc, ngày 22/9/1962)
“Bác muốn dặn thêm các cháu mấy điều:
- Phải luôn luôn nâng cao chí khí cách mạng “trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Không sợ gian khổ, hy sinh, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất và anh dũng chiến đấu, xung phong đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.
- Phải tin tưởng sâu sắc ở lực lượng và trí tuệ của tập thể, của nhân dân. Tăng cường đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau. Nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật. Kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tự do.
- Luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn và giản dị. Chống kiêu căng, tự mãn. Chống lãng phí, xa hoa. Thực hành tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh, để giúp nhau cùng tiến bộ mãi.
- Ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân sự để cống hiến ngày càng nhiều cho Tổ quốc, cho nhân dân.
- Luôn luôn chú ý dìu dắt và giáo dục thiếu niên và nhi đồng, làm gương tốt về mọi mặt cho đàn em noi theo”.
(Thư gửi thanh niên Ngày 2/9/1965)
“Các cháu xứng đáng là những thanh niên ưu tú của nhân dân Việt Nam anh hùng. Và, giặc Mỹ đã thua to ở hai miền nước ta, chúng đang thất bại ngày càng nặng nề hơn ở miền Nam, nhưng chúng vẫn rất ngoan cố chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta. Vì vậy, Bác nhắc nhở các cháu: Phải nêu cao ý chí chiến đấu, tinh thần cảnh giác cách mạng, cùng quân dân ta quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược; luôn luôn đoàn kết, ra sức học tập chính trị, kỹ thuật, văn hóa để ngày càng tiến bộ, đem hết nhiệt tình tài năng của tuổi trẻ cống hiến thật nhiều cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước”.
(Thư khen ngợi đơn vị TNXP 333 có nhiều thành tích xuất sắc trên các tuyến đường Khu Bốn ác liệt, ngày 27/1/1969)
“Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”.
(Di Chúc của Người) 18/1/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa với sự phát triển của đất nước. Tư tưởng của Người về văn hóa chiếm một vị trí hết sức quan trọng, hiện vẫn là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình phát triển văn hóa Việt Nam.
"Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”
Nhiều nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra, dù không có tác phẩm riêng bàn về văn hóa nhưng qua những bài phát biểu, nói chuyện tại các hội nghị; qua thư từ, ghi chép cá nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành mối quan tâm đặc biệt đến sự nghiệp phát triển văn hóa và con người Việt Nam. Trong bài phát biểu tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (ngày 24/11/1946), Người đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng, tính đi trước đón đầu của văn hóa - ngọn lửa soi đường, dẫn lối cho dân tộc đi đến những thắng lợi: “Số phận dân ta là ở trong tay dân ta. Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”.
Theo PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc (nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng), hơn ai hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến di sản văn hóa dân tộc. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 23/11/1945, Người đã ký kết sắc lệnh 65 về bảo tồn tất cả các di sản văn hóa như đình chùa, đền miếu, cung điện, thành quách, bia ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở, kể cả những cái có tính tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử. Năm 1951, trong lúc đang kháng chiến chống Pháp, Người cũng đã ra chỉ thị phục hồi vốn cổ dân tộc. Nhờ vậy mà một số loại hình nghệ thuật truyền thống ở các địa phương trong nước được phục hồi để phục vụ nhu cầu tinh thần của Nhân dân, động viên toàn dân, toàn quân đẩy mạnh công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc.
Trong Di chúc, Bác vẫn đau đáu căn dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của Nhân dân”. Theo GS.TS Mạch Quang Thắng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), có thể thấy, đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, lĩnh vực văn hóa và phát triển văn hóa luôn có tầm quan trọng ngang với kinh tế và phát triển kinh tế.
Kinh tế có tác dụng nâng cao đời sống vật chất, còn văn hóa nâng cao đời sống tinh thần cho Nhân dân. Đây là hai lĩnh vực liên kết biện chứng, gắn bó mật thiết trong đời sống xã hội. “Đây là trách nhiệm rất lớn của Đảng cầm quyền, để thể hiện sự ham muốn tột bậc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là làm cho mọi người được ấm no, tự do, hạnh phúc” - PGS.TS Nguyễn Mạnh Thắng nói.
Theo các tư liệu về Bác, quan điểm văn hóa gắn với kinh tế, thúc đẩy kinh tế được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ hơn trong thư gửi các họa sĩ, nhân dịp triển lãm hội họa năm 1951: "Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị". Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đưa ra luận điểm nổi tiếng "Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy", đã thể hiện một cách khái quát nhất các quan điểm của Người về công cuộc xây dựng nền văn hóa mới trong đó có vai trò của người trí thức.
Dành sự quan tâm đặc biệt với văn hóa phi vật thể
Có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra vai trò đặc biệt của văn hóa trong đời sống tinh thần của xã hội, văn hóa có vai trò định hướng tư tưởng, văn hóa gắn liền với xây dựng con người mới và là động lực phát triển của xã hội. Bên cạnh những chủ trương, chính sách, Bác cũng dành sự quan tâm đặc biệt đến di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc, đó là những tác phẩm văn học, nghệ thuật cổ điển, nghệ thuật truyền thống.
Bác xem các loại hình văn học dân gian như tục ngữ, vè, ca dao… là những viên ngọc quý của dân tộc. Người thường hay dẫn Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều, những câu hò, lời ca, điệu ví quen thuộc, vốn rất đặc trưng tiêu biểu cho văn nghệ dân tộc để nhắc nhở những người làm công tác văn hóa về thái độ trân trọng vốn di sản văn hóa dân tộc.
Như tư liệu lịch sử đã ghi lại, Người thường nhắc nhở mọi người, đặc biệt là những người làm nghệ thuật phải luôn biết trân trọng, bảo tồn và phát huy giá trị của di sản dân tộc. Người căn dặn văn nghệ sĩ phải tôn trọng, giữ gìn và phải phát triển cho hết cái hay, cái đẹp của di sản văn hóa dân tộc.
Bác cũng nhấn mạnh đến yếu tố kế thừa, chọn lọc và phát triển để giữ gìn vốn văn hóa quý báu của dân tộc, khôi phục những yếu tố tích cực trong kho tàng văn hóa dân tộc, loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong đời sống văn hóa tinh thần của Nhân dân, những cái cũ phiền phức, phát triển những cái cũ mà tốt, phải triệt để làm những cái mới và hay, phải tẩy sạch những gì mà giáo dục thực dân để lại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa đã và đang là định hướng lớn cho việc xây dựng và phát triển nền văn hóa nước ta. Những tư tưởng, quan điểm của Bác dù trực tiếp hay gián tiếp bàn về văn hóa đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị, trở thành “kim chỉ nam” trong việc hoạch định kế hoạch phát triển văn hóa. Nhiều nghị quyết liên quan đến vấn đề này đã được ban hành đi vào cuộc sống, tiếp tục khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. 17/1/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 1. Gặp Bác ở hồ chứa nước Suối Hai
12 giờ ngày 15-4-1964, tôi đang ngồi sau cửa sổ hướng về hồ mong làn gió thổi tới, bỗng nghe tiếng động cơ ô tô, và xe từ từ dừng lại trước cống lấy nước. Mọi người trên xe bước xuống, tôi thấy một người dáng cao cao đang bước về phía cống. Vội vã khoác chiếc áo, vừa đi vừa cài khuy, tôi chạy ngay lên đập và gặp đúng Bác! Bác hỏi: “Chú làm gì ở đây?”. “ Thưa Bác, cháu là trưởng ban kiến thiết công trường”. Bác hỏi thăm sức khoẻ anh em và tình hình công trình. Tôi báo cáo với Bác tóm tắt về sức khoẻ và sinh hoạt của anh em, báo cáo về tính năng tác dụng của hồ chứa nước. Bác vui vẻ nhìn toàn cảnh hồ chứa nước và hỏi: “Các nhà gì đây hở chú?”. “Thưa Bác, nhà cạnh đập kia là nhà nghỉ mát của Tỉnh ủy, còn các nhà khác là nhà của một số Bộ cũng đang chuẩn bị xây cất nhà nghỉ mát”. Nét mặt Bác hơi thay đổi, Bác bảo: “Không được. Chú về bảo với tỉnh, tại sao không xây nhà nghỉ mát cho công nhân trước, mà lại lo xây nhà nghỉ mát cho lãnh đạo. Chú bảo với các Bộ không được một cơ quan nào chiếm chỗ để xây cất nhà cửa. Bác sẽ về bảo Ủy ban Kế hoạch nhà nước và Bộ Kiến trúc tới đây để quy hoạch lại toàn bộ. Tỉnh của chú rồi sẽ giàu lắm, ngoài việc hồ chứa phục vụ nông nghiệp, còn phải lợi dụng tổng hợp cảnh đẹp của hồ chứa, tất cả các hòn đảo nằm trong lòng hồ ta sẽ cho xây nhà hội họp, xung quanh xây nhà nghỉ mát, các ven đồi sẽ cho trồng các loại hoa như hoa phượng, hoa đào, hoa mai, hoa hồng, hoa đại... Ta sẽ cho quốc tế thuê để hội họp, nghỉ mát như Giơnevơ (Thụy Sĩ), tỉnh chú sẽ giàu và có nhiều ngoại tệ. Nối liền giữa đất liền với các nhà nghỉ cần phải có các loại xuồng, thuyền máy, ca nô để cho khách thuê và đi lại”. Sau đó tôi đưa Bác tới hạ lưu sông và báo cáo việc mở cống để lấy nước tưới theo yêu cầu của các hợp tác xã, Bác phấn khởi: “Chú ạ, kênh mương còn chiếm nhiều đất, phải tiết kiệm, trước mắt hai bên bờ kênh chú nên tranh thủ trồng thật nhiều cây”. Rồi Bác lên xe và vẫy chào mọi người.
2. Để Bác giới thiệu cho
Ngày 20-10-1964, Bác Hồ cùng Tổng thống nước Cộng hòa Mali, Môđibô Câyta và phu nhân đến thăm Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Bác nói với đồng chí thuyết minh: “Chú dẫn khách đi xem từ cổ tới kim, còn Bác, Bác xem ngược dòng lịch sử”. Khi lên gác, Bác dừng lại ở ngoài phòng số 6, nghe đồng chí Phúc kể sự kiện năm 1941 Bác Hồ về nước. Bác thong thả bước vào nói với đồng chí Phúc:
- Sao chú nói về Bác nhiều thế. Sao không nói nhiều về Đảng ta vĩ đại, nhân dân ta anh hùng?
Lúc xuống đến phòng “Chiến thắng Điện Biên Phủ”, khi nghe đồng chí Phúc giới thiệu về vị trí địa lý của Điện Biên: “đông giáp, tây giáp”... Bác nhắc:
- Khách không có nhiều thời gian đâu...
Rồi Bác hỏi:
- Chú có mặt ở Điện Biên Phủ không?
Một đồng chí khác thưa:
- Thưa Bác, đồng chí Phúc nguyên là tiểu đoàn trưởng pháo binh Điện Biên đấy ạ.
- Thế là rất quý... Ngoài chú, còn ai nữa? Thôi để Bác giới thiệu cho.
Bác nói đúng 7 phút. Bác dứt lời, ông bà Tổng thống và các vị khách cùng đi vỗ tay nồng nhiệt, cảm động cảm ơn Hồ Chủ tịch.
3. Bác Hồ trên đồi Yên Lập
Tết Ất Tỵ 1965, đúng dịp kỷ niệm Đảng ta tròn 35 tuổi, Bác Hồ về chúc Tết đồng bào, chiến sĩ tỉnh Quảng Ninh. Tối 30 Tết, Bác nghỉ lại ở khu Bãi Cháy, nơi sáu tháng trước máy bay Mỹ bắn phá. Đoàn cán bộ, chiến sĩ đi theo Bác được lãnh đạo tỉnh mời dự bữa cơm đón giao thừa. Chúng tôi đang ngồi tập trung ở một phòng ăn nhỏ, bỗng thấy Bác Hồ từ trên gác hai đi xuống bước vào phòng. Bác chúc Tết mọi người cùng gia đình. Bác nói lời thông cảm với những anh chị em ngày Tết phải xa nhà để đi công tác ở Quảng Ninh.
Chúng tôi đứng cả dậy chúc Bác năm mới mạnh khoẻ, sống lâu để lãnh đạo nhân dân ta sản xuất, chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn. Bác bảo nhắc nhà bếp chuẩn bị xôi nắm cho đoàn hôm sau đi đường.
Sáng mồng 1 Tết, Bác qua phà Bãi Cháy để sang thị xã Hòn Gai. Ở đầu bến phà, Bác đã thấy dấu tích còn lại của cuộc chiến đấu đánh thắng không quân Mỹ, bắt sống phi công Mỹ đầu tiên. Hơn 20.000 đồng bào, chiến sĩ Quảng Ninh đứng kín một sân trường học Hòn Gai reo mừng đón Bác. Bác nói chuyện, khen ngợi dân Quảng Ninh đã làm nên chiến thắng oanh liệt ngày 5-8-1964 và thợ mỏ Quảng Ninh đã hoàn thành vượt mức kế hoạch 200.00 tấn than.
Bác rời Hòn Gai đi chúc Tết nhân dân ở huyện Yên Hưng. Bác “xông đất” một số gia đình xã viên hợp tác xã Khe Cát. Các cụ, các cháu trong xóm chạy ra nắm tay Bác mời Bác vào nhà. Bác mừng thấy trong hoàn cảnh chiến tranh gia đình nào cũng có bánh mật, bánh chưng, chè Ba Đình và hoa đẹp. Bác chúc Tết các gia đình.
Bác ra đường, đi bộ một quãng. Bỗng Bác dừng bên một cột mốc khắc chữ: “Lộc Ninh - 1995 km”. Bác nói với anh em trong đoàn: “Tết này không biết đồng bào miền Nam ăn Tết có được yên ổn không?”.
Cả đoàn đề nghị Bác nghỉ một lát trước khi tiếp tục đi chúc Tết đồng bào, chiến sĩ. Bác đồng ý và chỉ mọi người lên ngồi nghỉ trên một đồi thông bên đường thuộc xã Yên Lập. Bác dặn: Đừng hái lộc để bảo vệ rừng.
Chúng tôi quây quần bên Bác. Bác gọi phóng viên báo Nhân Dân đến cho ngồi cạnh Bác. Trời xanh cao. Tiết xuân ấm dịu. Đi làm việc từ mờ đất, mọi người đã đói. Bác nói: “Các chú đã có gói xôi mang theo. Các chú lấy ra ăn rồi lên đường”.
Nắm xôi ngày Tết ấy trên đồi Yên Lập bùi ngon đến lạ thường.
4. Thăm nhà máy dệt mới khánh thành
Ngày lễ Quốc tế Phụ nữ mồng 8-3-1965 còn là ngày hội của chị em phụ nữ công nhân Nhà máy dệt mồng 8 tháng 3, ngày nhà máy dệt lớn nhất nước ta lúc bấy giờ cắt băng khánh thành. Vinh dự cho chị em là trong ngày vui lớn lao đó Bác Hồ đã đến thăm nhà máy. Cần nói thêm là công nhân của nhà máy toàn là nữ. Thời kỳ đó, đế quốc Mỹ liều lĩnh mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, để đảm bảo an toàn, phòng máy bay Mỹ oanh tạc, lễ khánh thành nhà máy được ấn định vào 7 giờ tối.
Khoảng một giờ trưa, chẳng có ai dẫn lối, Bác đi thẳng đến khu nhà tập thể. Vào giờ này, người nào không bận làm ca kíp ở nhà máy thì đều đang giấc ngủ trưa. Bác đi xem xét nhà ăn, nhà trẻ, khu vệ sinh, hình như khá lâu mà không ai hay. Khi người ra bể nước công cộng, mấy chị em đang giặt giũ bên bể nước thấy Bác reo ầm lên: “Ôi Bác! Bác Hồ! Bác đến!”
Ngay lập tức cửa các căn nhà mở toang, mọi người cuống quýt chạy ra. Lúc này Bác đã tới đầu nhà A1, một trong mấy dãy nhà ở cao tầng mới xây dựng. Người đến mỗi lúc một đông, vòng trong vòng ngoài, ai cũng muốn được đến gần Bác, nhìn rõ Bác.
Đồng chí Bí thư chi bộ dẫn Bác lên kiểm tra tầng trên. Bác thoăn thoát bước lên cầu thang, vừa lên đến tầng hai đã nhìn thấy cảnh nhà nhà đang lôi đủ thứ ra phơi phóng lộn xộn ngoài hành lang, nơi ban công. Bác vẫy mọi người lại, phê bình: Đây là khu tập thể của một nhà máy hiện đại. Nhà máy càng hiện đại công nhân càng phải gương mẫu trong sản xuất và trong việc gìn giữ vệ sinh trong công nghiệp và vệ sinh trong sinh hoạt. Có như thế mới có đủ sức khoẻ để sản xuất tốt. Bác phê bình các cô các chú đều là người lớn cả mà ở rất bẩn. Các cô, các chú có hứa với Bác chú ý gìn giữ chỗ ăn ở luôn sạch sẽ, ngăn nắp không?
Mọi người đồng thanh đáp: “Có ạ!” rõ to. Lời đáp dõng dạc đó như làm vơi đi sự không hài lòng do chính họ gây ra.
Trên đường dẫn Bác đến thăm các phân xưởng nhà máy sẽ làm lễ khánh thành tối hôm đó, Bác nói với đồng chí Bí thư Đảng ủy: Chắc các cô đang bận lo việc khánh thành nhà máy, lo sản xuất mà lãng quên việc chăm lo đời sông của công nhân, như thế là không được, nhất là cương vị người lãnh đạo cao một nhà máy lớn có hàng vạn công nhân nữ. Lo việc lớn nhưng không bỏ qua việc nhỏ, kể cả những nguyện vọng chính đáng của từng chị em.
5. Câu chuyện về “cây bụt mọc”
Những lần đến thăm nhà sàn và ao cá Bác Hồ, nếu không được giới thiệu, chắc hẳn hầu hết mọi người sẽ ngạc nhiên trước những rẽ cây lạ trồi cao khỏi mặt đất, tựa như những pho tượng Phật bằng gỗ mộc, kích thước to, nhỏ, cao thấp đa dạng, lô nhô xếp liền nhau quanh sườn bờ ao bên trái ngôi nhà sàn và gần chiếc cầu nhỏ uốn cong bắc qua ao cá, tạo ra một sự kỳ thú của cảnh quan tự nhiên.
Vì tất cả bộ rễ nhô lên khỏi mặt đất có hình tựa như hình ông bụt đứng dầm chân, soi gương bóng nước nên Bác Hồ đã đặt tên loài cây này là cây bụt mọc.
Sát bên đầu phía nam chiếc cầu nhỏ bắc qua ao cá cũng có một cây bụt mọc. Vào đầu năm 1965, anh em phục vụ phát hiện ra cây bụt mọc này bị mối xông đã hỏng đến quá nửa thân, sợ cây đổ bất ngờ gây nguy hiểm vì nó mọc ngay cạnh con đường nhỏ quanh ao cá mà hàng ngày Bác và mọi người thường qua lại, các đồng chí trong cơ quan quyết định chặt bỏ cây. Khi biết được ý định đó, Bác đã nói: “Chặt bỏ một cây hỏng thì dễ dàng thôi nhưng trồng được một cây mới thì rất khó. Bởi vậy các chú hãy tìm cách chữa cho cái cây bị mối xông đi đã”. Rồi Bác chỉ cho anh em một kinh nghiệm chữa cây bị mối xông như sau: Trước hết, cạo sạch phần thân cây bị mối xông, sau đó dùng vôi, rơm nhồi vào trong và cuối cùng dùng xi măng trát phía ngoài thân cây. Bác phân tích: Vôi có tác dụng chống mối và côn trùng xâm nhập; rơm tạo thành lớp mùn giúp cây phát triển bình thường; xi măng ngăn không cho nước ngấm vào thân cây thêm mục nát, đồng thời giữ cho thân cây cứng cáp. Anh em đã làm theo lời Bác và sau một thời gian, cây bụt mọc đã sống lại, không bị mối xông, phát triển tốt.
Chuyện về việc chữa cây bụt mọc qua đi tưởng như chỉ đơn giản có thế, nhưng sau này, trong buổi nói chuyện tại một hội nghị cán bộ quản lý, Bác Hồ đã kể lại câu chuyện chữa cây bụt mọc để nhắc nhở chung mọi người làm việc gì cũng phải suy xét cho kỹ, tìm phương pháp tối ưu để đạt kết quả tốt nhất, và Người kết luận rằng: “Việc quản lý, giáo dục, xem xét cán bộ cũng phải như vậy - đừng thấy cán bộ phạm khuyết điểm đã vội vã kết luận ngay và thi hành kỷ luật mà không cần suy xét gì. Đó là thói quan liêu. Trách nhiệm của người cán bộ quản lý là phải tìm ra nguyên nhân dẫn đến việc cán bộ phạm khuyết điểm. Như vậy cán bộ mới trưởng thành, cán bộ quản lý mới làm tròn trách nhiệm của người lãnh đạo”.
Cây bụt mọc mang ý nghĩa đặc biệt trên đã bị đổ do cơn bão số 3, tháng 7-1977, nay chỉ còn lại phần gốc cao tới 2 mét như bằng chứng của một kinh nghiệm quý báu mà Bác đã để lại cho chúng ta và một bài học mang giá trị thực tiễn lớn lao cho những người làm cán bộ quản lý.
6. Cây đa kiên trì
Theo lối chính, trên con đường tới nhà sàn của Bác Hồ, khách thăm quan tới ngay góc ngã ba, cạnh một khóm tre tươi tốt có một cây đa lớn nằm bên tay trái, dáng vẻ rất lạ. Cây đa này, sườn bên phải có một rễ phụ rất dài và lớn (thật ra, gồm hai rễ phụ quấn chặt vào nhau), sườn bên trái có hai rễ phụ hơi xa nhau, ngắn hơn và nhỏ hơn rễ phụ sườn bên phải. Các rễ phụ từ các cành cao đâm thẳng xuống đất, trong đó một rễ có độ nghiêng khá lớn. Vì thế, dù theo nhánh đường nhỏ nào ở hai bên sườn cây đa để ra con đường ven ao cá hướng tới ngôi nhà sàn thì khách tham quan cũng đều đi dưới một rễ đa - tức là một rễ đa vắt chếch phía trên đầu. Rễ phụ, cành và thân đa tạo thành một cái khung tựa vòm cổng. Hai nhánh đường nhỏ, mỗi nhánh đi qua một vòm cổng tự nhiên do cây đa tạo thành. Chọn đúng khoảng cách và vị trí đứng thích hợp để ngắm, khách tham quan sẽ thấy cây đa có dáng vẻ rất đẹp. Nếu không có mấy rễ phụ to, cao, kéo nghiêng xuống thì cây đa sẽ không có được dáng vẻ đẹp rất lạ ấy.
Khi làm việc tại nhà sàn, Bác Hồ thường đi lại trên con đường có cây đa nói trên. Lúc đó cây đa chưa có rễ phụ to, cao, dáng đẹp như chúng ta thấy ngày nay và không phải ngẫu nhiên mà cây đa có được những rễ cây này.
Khoảng tháng 9-1965, anh em làm vườn thấy hai rễ đa nhỏ từ trên cành buông xuống lơ lửng cách mặt đường không xa. Vì lo hai rễ phụ này lớn dần thêm và dài xuống làm vướng lối đi lại của Bác, nên anh em phục vụ định cắt bỏ rễ đó đi. Biết được ý định đó, Bác không tán thành và gợi ý: nên tìm cách kéo rễ đa xuống đất, nhưng sao cho rễ đa không vướng lối đi mà còn có thể tạo cho cây có một thế vững chắc và đẹp. Mặc dù anh em phục vụ đã hiểu được ý của Bác và không cắt bỏ hai cái rễ phụ nữa, nhưng vẫn chưa tìm được cách nào để thực hiện yêu cầu ấy.
Mấy ngày sau, Bác Hồ vẫn nhớ chuyện hai cái rễ đa và lại hỏi anh em phục vụ. Anh em thưa với Bác là chưa tìm được cách làm hợp lý và Bác đã bày cho mọi người cách làm như sau: Chẻ đôi một cây bương, đục rỗng những mấu bên trong, sau đó cho đất xốp vào lòng cây bương, ốp rễ đa vào giữa rồi dùng dây buộc chặt cây bương đó lại. Cây bương được chôn xuống đất và phải thường xuyên tưới nước để giữ độ ẩm cho rễ đa. Rễ đa nhờ có đủ độ ẩm sẽ phát triển nhanh. Khi rễ đa chạm đất, Bác nhắc anh em phục vụ vun đất cho rễ và tiếp tục chăm sóc. Làm theo cách Bác Hồ hướng dẫn, thời gian bén đất của rễ cây sẽ ngắn hơn, đồng thời hướng được rễ theo chiều ta muốn. Những rễ đa này sau khoảng ba năm (1965-1968) thì bén đất.
Khi hoàn thành công việc kéo rễ đa xuống đất, anh em phục vụ đến báo cáo kết quả với Bác, Bác vui vẻ nói: “Các chú thấy đấy, con người hoàn toàn có khả năng chinh phục và cải tạo được thiên nhiên, tuy công việc đó rất khó khăn, đòi hỏi sự kiên trì và quyết tâm cao”.
Sau này, cây đa lại có thêm hai rễ phụ nữa (hai rễ cách xa nhau chứ không xoắn chặt làm một) do các đồng chí phục vụ kéo thêm với phương pháp kể trên. Nhớ lời Bác nói khi hoàn thành công việc, anh em phục vụ đặt tên cho cây đa này là cây đa kiên trì, bởi làm cho rễ phụ của cây đa bén đất dù nhanh cũng phải cần thời gian tính bằng mấy năm, nhưng kiên trì thực hiện lời Bác dạy nhất định sẽ thành công.
7. Những kỷ niệm sâu đậm nhất
Năm 1965, bắt đầu thời kỳ chiến tranh phá hoại của Giônxơn, tôi (Hoàng Thị Mễ) về công tác ở Vĩnh Linh, làm Trưởng ban kiểm tra của Đảng trong khu vực và được cử đi dự hội nghị tổng kết công tác kiểm tra toàn quốc.
Lần này, đến thăm hội nghị, Bác mặc một bộ ka ki giản dị. Trông người vẫn khoẻ khoắn, nhanh nhẹn. Tôi rất mừng. Bác huấn thị cho chúng tôi nhiều điều hết sức quý báu về công tác kiểm tra, về đạo đức, phẩm chất của người cộng sản. Bác dặn đi dặn lại, đại ý: Công tác kiểm tra có quan hệ đến sinh mệnh của từng người đảng viên. Làm công tác kiểm tra tốt thì có lợi cho Đảng, có lợi cho mỗi đồng chí của ta. Bác nhắc nhở các đại biểu nữ càng phải đi sâu kiểm tra, bảo đảm quyền lợi cho đảng viên phụ nữ. Chúng tôi ghi tạc những lời Bác dạy. Làm công tác kiểm tra không được thành kiến, phải có lượng khoan hồng, đồng thời cần cứng rắn về nguyên tắc. Những lời dạy của Bác thật là quý báu cho chúng tôi và cho đất Vĩnh Linh nóng bỏng lửa đạn quân thù. Ngay từ đầu Bác đã hết sức quan tâm đến mảnh đất này, Bác rất chú ý đến các cháu thiếu nhi và chị em phụ nữ Vĩnh Linh, Bác dặn: Trong cuộc chiến đấu ác liệt này, các cháu Vĩnh Linh là những hạt giống quý, những mầm non xanh tươi, phải được giữ gìn sao cho mầm non đó cứ tươi tốt lên, dù trong hoàn cảnh khó khăn như thế nào. Bác chỉ thị: Phải sơ tán hết các cháu, không được để cháu nào bị địch giết hại ở Vĩnh Linh. Ngày tết sắp đến, Bác nhắc các tỉnh phải gói bánh chưng gửi cho các cháu. Riêng Bác, Bác hay gửi bánh kẹo cho các cháu Vĩnh Linh. Cho đến giờ các cháu vẫn nhớ và nhắc đến “Quà Bác Hồ”. Thỉnh thoảng Bác lại hỏi thăm đồng bào và phụ nữ Vĩnh Linh có khoẻ mạnh không, sản xuất chiến đấu và học tập ra sao?
Năm 1968, địch buộc phải ngừng bắn, Bác chỉ thị ngay phải tiếp tế khẩn trương cho Vĩnh Linh, chủ yếu là đường, vải, thuốc. Các xe tải phải chuyên chở cho Vĩnh Linh, Cồn Cỏ và phải coi đây là một công tác rất quan trọng. Hồi đó tôi là Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Vĩnh Linh, được phụ trách phân phối hàng về các xã. Tôi đã chấp hành nghiêm chỉnh lời Bác dạy. Việc phân phối được bảo đảm công bằng, hợp lý, chú ý các cháu mồ côi, các cụ già, bà mẹ các thương binh, bệnh binh…
Nhận được quà Bác cho, đồng bào Vĩnh Linh vô cùng hồ hởi bảo nhau: chúng ta phải làm gì để tỏ lòng biết ơn Bác.
Riêng tôi, lời dạy của Bác luôn là nguồn khuyến khích, động viên lớn nhất. Nhớ lại những lời dạy bảo của Bác về phẩm chất của người đảng viên, người cán bộ phải hết lòng vì nhân dân phục vụ, lại nghĩ tới tình thương yêu của Bác đối với nhân dân Vĩnh Linh như biển cả, tôi thấy mình có thêm sức mạnh, cùng với anh chị em dân quân, du kích làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.
8. Đi thăm miếu Khổng Tử
Ngày 19-5-1965, nhân lúc đang thăm Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến quê hương Khổng Tử. Hai giờ chiều, trong bộ quần áo lụa Hà Đông, Bác Hồ thong thả bước vào Khổng phủ trang nghiêm, cổ kính. Bác kể cho các cán bộ cùng đi: “Cho đến năm 1937, Khổng Đức Thanh là lớp con cháu đời thứ 77. Bố Khổng Tử có ba vợ. Khổng Tử là con vợ thứ ba. Khổng Tử lấy vợ sinh con là Khổng Lý... Đời Tống, Nguyên, Thanh đều góp của, góp công sửa sang Khổng phủ, Khổng miếu... Điều đó chứng tỏ học thuyết Khổng Tử từ lâu thành hệ tư tưởng chính thống, có sức sống qua nhiều thời đại. Chúng ta không gạt bỏ tất cả mà phải chọn lọc, tiếp thu những cái tốt đẹp nhất để làm giàu cho mình, cho con cháu mình....”. Đứng dưới gốc cổ thụ ở Khổng miếu mà nghe nói chính tay Khổng Tử trồng, cách đây 2.400 năm, Bác nói, giọng trầm lắng: “Khổng Tử là người chủ trương quyền bình đẳng về của cải và sự công bằng trong đời sống. Câu “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng” mà Bác trích là từ câu của Khổng Tử: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng. Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên. Đã công bằng thì không nghèo, đã hoà mục thì không thiếu, lòng dân đã yên thì không sợ nghiêng đổ”. Rời Khổng miếu, sang Khổng Lâm, dạo bước dưới bóng cây cổ thụ, Bác Hồ lại tiếp tục nói chuyện. Bác nhắc đến chữ “nghĩa chiến” của Mạnh Tử trong sách “Khổng học đăng” chính là chiến tranh nhằm mục đích nhân nghĩa, Bác nói: “Khổng Tử thường nêu “dân vi bang bản” (dân là gốc của nước) hoặc “quốc dĩ dân vi bản” (nước lấy dân làm gốc)...”. Gần ba giờ vừa đi xem cảnh, vừa nói chuyện, đến năm giờ chiều, Bác cùng đoàn cán bộ lên xe lửa về Tế Nam. Ngồi trên tàu, nhìn nắng chiều nhạt dần trên triền núi mờ xa, Bác đọc bài thơ chữ Hán vừa làm: Thăm Khúc Phụ :
“Mười chín tháng năm thăm Khúc Phụ
Miếu xưa vẫn dưới bóng tùng xưa
Uy quyền họ Khổng giờ đâu nhỉ?
Lấp loáng bia xưa, chút ánh tà”.
9. Câu chuyện về chiếc tàu phá thủy lôi mang biệt hiệu T5 và tấm lòng của Bác
Năm 1965, tôi (Phan Trọng Tuệ) làm Chính ủy kiêm Tư lệnh đường mòn Hồ Chí Minh. Một hôm anh Vũ Kỳ gặp tôi và nói:
- Anh có phim tư liệu gì mới đem vào chiếu cho Bác xem.
Tôi đưa cuộn phim về giao thông vận tải, quay từ Hà Nội vào đến Vinh cho Bác xem. Bác xem phim rất chăm chú và hỏi thăm tình hình nhân dân trong đó.
Tôi báo cáo với Bác:
- Chúng cháu muốn đảm bảo giao thông phải dựa vào dân. Nhân dân nhiều khi phá cả nhà để lát đường cho xe qua.
Bác nói:
- Nhân dân không nhà không cửa thì ở vào đâu? Các cháu học hành thế nào?
Tôi thưa với Bác:
- Các cháu vẫn được học. Học dưới hầm. Giao thông vẫn có những chuyến xe đặc biệt chở dụng cụ học tập và sách vở cho học sinh.
Nghe tôi nói thế, Bác mới yên tâm và khen:
- Thế là tốt. Nếu chú có gặp các đồng chí trong đó, cho Bác gửi lời thăm đồng bào.
Bác vừa nói chuyện vừa suy trầm tư, vẻ mặt Bác rất xúc động.
Tôi vào khu IV truyền đạt lời thăm hỏi của Bác cho các đồng chí trong đó, các đồng chí rất xúc động.
Bộ phim mang vào chiếu cho Bác xem có cảnh phá thủy lôi bằng kích thích. Cho ca nô chạy nhanh qua bãi thủy lôi. Thủy thủ lái ca nô mặc áo bảo vệ kèm phao bơi. Bác xem và hỏi:
- Mặc như thế kia thì cử động thế nào được?
Tôi báo cáo với Bác:
- Ca nô chạy nhanh, thủy lôi sẽ nổ, thủy thủ phải mặc như thế để đảm bảo an toàn.
Bác nghe xong, suy nghĩ một lát rồi nói:
- Các chú đó thật dũng cảm. Nhưng chú thử nghĩ xem có phương pháp nào điều khiển ca nô chạy tự động qua bãi thủy lôi, chứ làm thế này nguy hiểm cho tính mạng của các chiến sĩ.
Tôi suy nghĩ rất nhiều về gợi ý của Bác. Sau đó tôi cho họp Hội đồng kỹ thuật, báo cáo lại ý kiến của Bác. Mọi người đều rất tán thành và đề nghị thiết kế tàu không người lái, điều kiển từ xa.
Sau đó một loại tàu mới có biệt hiệu là T5 ra đời, có người điều khiển từ xa để phá hủy thủy lôi. Đó là do bao công sức đóng góp của các anh em làm công tác kỹ thuật sáng chế.
Khi chiếc tàu này mới được chế tạo, chúng tôi cho mang lên Hồ Tây chạy thử. Lần chạy thử đó có mời đồng chí Tố Hữu đến xem. Nhờ chiếc tàu đó mà chúng tôi đã phá được rất nhiều thủy lôi, đảm bảo giao thông đường thủy thông suốt, lại không nguy hiểm đến tính mạng cho các chiến sĩ.
Lời phát biểu của Bác đã tác động đến anh em kỹ thuật, giúp họ suy nghĩ, phát huy sáng kiến và chế tạo ra chiếc tàu mang biệt hiệu T5.
Ngồi xem phim với Bác, Bác hỏi nhiều điều mà chúng tôi không lường hết được. Bác quan tâm đến mọi vấn đề. Bác muốn biết hết tất cả mọi việc.
Bác quan tâm đến công việc chung, nhưng cũng không quên những việc nhỏ, làm cho tôi rất cảm động. Tôi đưa phim vào chiếu cho Bác xem. Sau đó Bác cho phép tôi mang vợ con vào thăm Bác. Tôi còn nhớ khi đó là đầu năm 1967.
Bác hỏi tôi:
- Chú đi vào trong kia bằng phương tiện gì?
Tôi báo cáo với Bác:
- Cháu đi bằng ô tô. Đoạn nào không đi được bằng ô tô thì đi xe đạp.
Bác nghe, rồi nói:
- Đi bằng ô tô hay đi bằng xe đạp cũng phải thật chú ý và cảnh giác vì máy bay Mỹ có thể bắn phá bất ngờ.
Trên đây là một số kỷ niệm về Bác mà tôi còn ghi nhớ. Những kỷ niệm này sẽ mãi mãi không bao giờ phai mờ trong ký ức của tôi.
10. Bác Hồ với thiếu nhi thủ đô
Năm 1958, khi hàng ngàn thiếu nhi Thủ đô đang chuẩn bị đón Tết Trung thu ở Câu lạc bộ thiếu nhi thì được tin Bác Hồ đến thăm. Tất cả mọi người dường như muốn đổ dồn về phía lễ đài để mong được gần Bác hơn, trong số đó có một bà mẹ người nước ngoài cũng đang cố gắng đưa con mình đến gần lễ đài để được gần Bác. Lúc đó Bác rất vui, Bác căn dặn các cháu phải chăm học, chăm làm để trở thành con ngoan, trò giỏi. Cũng trong năm này, Bác đã đến thăm Đại hội Thanh niên Thủ đô. Khi Bác tới, mọi người cùng đứng dậy hô to “Bác Hồ muôn năm!”. Bác ra hiệu cho mọi người ngồi xuống và nói: “Làm tốt thì Bác muôn năm, làm không tốt thì Bác muốn nằm”. Mọi người đều cười vui vẻ và cảm thấy Bác như người Ông, người Cha ở nhà vậy.
Tháng 6-1959, tại Công viên Bách thảo, thiếu nhi Hà Nội tổ chức cắm trại và liên hoan văn nghệ chào đón Tổng thống Xucácnô sang thăm Việt Nam. Bác và Tổng thống Xucácnô đã ở lại tham gia các hoạt động của thiếu nhi hơn một tiếng đồng hồ.
Năm 1960, Bác đã bảo thư ký đón các cháu thiếu nhi vào Phủ Chủ tịch để cùng Bác đón gia đình ông luật sư người Anh Lôdơby Bác đã tặng quà từng người và còn dặn, nhớ để dành quà Tết của Bác cho người thân ở nhà.
Năm 1961, Bác quyết định để thiếu nhi Hà Nội tổ chức triển lãm tại Phủ Chủ tịch trong suốt 10 ngày liền. Ngày nào Bác cũng dành thời gian để xem các cháu biểu diễn văn nghệ.
Năm 1965, trong buổi biểu diễn văn nghệ chào mừng Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, cháu Phương (8 tuổi) ngâm bài thơ “Cháu nhớ Bác Hồ” của nhà thơ Thanh Hải. Bài thơ nói về tình cảm của thiếu nhi miền Nam với Bác Hồ. Bác chăm chú lắng nghe. Đến câu “Bác ơi nhớ mấy cho cùng. Ngoài xa Bác có thấu lòng cháu không?” thì thấy Bác lấy khăn lau nước mắt và gật đầu nói: “ Có nhớ… có nhớ…”.
Theo 117 câu chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 17/1/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 1. Những vị khách tí hon
Có một lần, vào dịp sinh nhật Bác Hồ, vừa mới sáng sớm, đồng chí Kỳ - thư ký cùng các con mình và con đồng chí Cẩn - người nấu ăn cho Bác, mang hoa vào để chúc thọ Bác. Thấy các cháu đến, Bác Hồ rất vui, nhưng vì đang làm dở công việc nên Bác bảo đồng chí Kỳ đưa các cháu xuống nhà lấy nước và bánh kẹo mời các cháu, làm việc xong Bác sẽ xuống gặp và vui với các cháu. Đồng chí Kỳ dẫn các “vị khách tí hon” xuống nhà nhưng nghĩ đây là con mình và con anh Cẩn nên không mời các cháu vào phòng mà để các cháu chơi tha thẩn ngoài vườn. Một lúc sau, Bác xuống, nhìn thấy thế, Bác tỏ ý không bằng lòng, Người hỏi đồng chí thư kí: “Sao chú không lấy bánh kẹo, rót nước mời các cháu?”. Đồng chí Kỳ thưa với Bác: “Thưa Bác, đây là con cháu trong nhà nên xin Bác cứ để các cháu chơi ở sân, không cần phải tiếp bánh kẹo gì Bác ạ”. Biết đồng chí thư ký nghĩ chưa đúng, Bác ôn tồn nói, có ý phê bình: “Các cháu là con của các chú, nhưng là khách của Bác. Bác đang bận, thì chú phải tiếp giúp Bác”. Lời Bác nói nhẹ nhàng nhưng thật thấm thía. Hiểu được ý nghĩa lớn lao trong câu Bác nói và thấy khuyết điểm của mình chưa làm đúng ý Bác, nên đồng chí liền mời các “vị khách tí hon” vào phòng, lấy bánh kẹo và pha nước tiếp các cháu như những khách người lớn đến gặp Bác.
Những đồng chí được sống và làm việc cùng Bác, luôn thấy rõ Bác chu đáo với mọi người, từ em bé đến cụ già. Đặc biệt đối với các cháu thiếu nhi, Bác Hồ không những yêu thương, quý mến mà còn rất tôn trọng. Ở dưới nhà sàn, Bác cho làm thêm những bệ xi măng, trên có lát ván như những chiếc ghế để khi các cháu vào gặp Bác có chỗ ngồi. Bác còn đặt bể cá vàng cạnh nhà để tiếp các “vị khách tí hon”.
2. Mênh mông quá
Bác Hồ của chúng ta là Chủ tịch nước, nhưng trong cuộc sống hàng ngày Bác không coi nhẹ các việc nhỏ. Bác thương yêu đồng bào cả nước, kiều bào ở nước ngoài, các dân tộc anh em bị áp bức. Một em bé da đen bị đói, một người con gái ở nước Pháp bị án tử hình đều làm Bác xúc động.
Bác không bằng lòng khi thấy nhiều cán bộ “ra vẻ hăng hái”, “kiên trung”, thấy bạn bè, đồng đội, đồng bào có lầm lỗi, chưa phân tích đầy đủ nguyên nhân khách quan, chủ quan, mức độ đã “vơ đũa cả nắm”, “đánh một đòn chết tươi”. Thường là, nếu cán bộ, đồng bào có điều gì không phải Bác lại nhận lỗi ấy về mình, “mong được lượng thứ”.
Năm 1960, trong một cuộc họp cán bộ, có đồng chí “lên án” gay gắt “bệnh lười biếng”, “công thần”, đòi phải “xử lý”… Bàn cãi hồi lâu, sắp hết giờ họp, Bác “xin được phát biểu”. Bác nói đại ý:
Bể cũng là nước, giọt nước cũng là nước. Trong Đảng hàng ngày là giọt nước hay là bể. Nếu nói lười biếng, công thần cũng là tư tưởng tư sản thì mênh mông quá.
3. Nhà Bác không có thỏ đâu !
Đồng chí Vũ Kỳ, người đã nhiều năm đã giúp việc cho Bác Hồ kể lại:
Một lần, các cháu thiếu nhi vào Phủ Chủ tịch ríu rít quanh Bác. Một em hỏi:
- Thưa Bác, chúng cháu muốn xem nhà Bác Hồ ạ.
Bác cười tươi:
- Đây không phải là nhà Bác, đây chỉ là nơi làm việc của Bác thôi. Để Bác dẫn các cháu đi xem vườn hoa nhé!
Một cháu chạy vội bị vấp ngã, cô giáo chạy lại dỗ cháu:
- Nín đi! Nín ngoan, cô yêu, rồi cô cho đi xem con thỏ của Bác Hồ nuôi.
Bác ngắt một bông hoa, đến gần cháu bé dỗ:
- Cháu ngoan, Bác cho cháu bông hoa nhỏ, chứ nhà Bác không có thỏ đâu!
Cháu bé nín khóc, cầm hoa, một tay nắm ngón tay Bác để Bác dắt đi. Sau đó, Bác nói riêng với cô giáo:
- Đối với các cháu, dù còn nhỏ, cũng nên nói sự thật, làm gương tốt và tạo thói quen tốt cho các cháu.
4. Một chuyến thăm, ba bài học
Sau hơn một tuần diễn ra trận chiến bảo vệ kho xăng Đức Giang, ngày 29-6-1966, Bác Hồ đến thăm một đại đội thuộc đoàn thông tin Sông Điện, bộ đội phòng không đóng ở chùa Trầm (Hoài Đức). Cuộc đi thăm không báo trước. Khi chiếc xe con dừng lại ở lưng chừng dốc, một chiến sĩ nhận ra Bác reo to lên. Bác giơ tay ra hiệu không được làm ồn ào rồi bảo chiến sĩ đó đưa Bác vào đơn vị.
Với đôi dép cao su giản dị, Bác đi rất nhanh lên sườn đồi, bộ quần áo bà ba nâu bay trong gió. Sau khi dừng lại xem câu lạc bộ, Bác nhanh nhẹn đi xuống nhà bếp. Thấy đồng chí Hào, tổ trưởng anh nuôi đang bê một nồi cơm to từ trên bếp lò xuống, Bác vui vẻ hỏi:
- Mỗi bữa chú ăn được mấy bát?
- Thưa Bác, cháu ăn được ba bát ạ.
- Chú ăn được như vậy là tốt - Nói xong, Bác mở hộp thuốc lá lấy ra một điếu đưa cho Hào.
- Bác biếu chú, chú hút đi.
Rồi Bác lấy một điếu khác ra để hút. Thấy Bác có ý tìm đóm để châm lửa, Hào vội rút bao diêm trong túi ra định bật diêm cho Bác, Bác liền ngăn lại:
- Chú để dành diêm mà nhóm bếp. Cả bếp lò đang hồng thế kia tha hồ cho Bác cháu ta châm thuốc.
Chỉ một que diêm mà Bác đã cho chúng tôi bài học sâu sắc về tinh thần tiết kiệm.
Ở bếp bước ra, Bác hỏi cán bộ đại đội:
- Các chú có trồng rau không?
- Thưa Bác, chúng cháu chỉ trồng được rau muống dưới chân núi thôi ạ. Còn trên sườn đồi này nhiều sỏi, trồng không lên.
Bác kể lại kinh nghiệm hồi ở chiến khu và bảo:
Các chú xúc hết đá đi, xới đất, xuống ao bốc bùn đổ lên, rau sẽ xanh tốt. Có trồng có ăn, đỡ phần cung cấp của nhân dân.
Từ đó, trên vách đá men theo con đường trong đơn vị, các vườn rau đua nhau mọc lên xanh tốt. Đơn vị không chỉ tự túc rau ăn mà còn bán cho đơn vị bạn và nhân dân nữa.
Bài học thứ ba Bác dạy cho chúng tôi là con đường mòn và công tác dân vận. Khi đơn vị chưa đóng ở chùa Trầm, bà con trong vùng vẫn đi làm đồng theo con đường mòn qua núi. Từ ngày đơn vị đến, anh em đã tự động rào lại, cấm người qua lại. Thăm qua mấy nơi, Bác bảo tập hợp bộ đội lại để Bác nói chuyện, Bác căn dặn:
- Muốn làm tốt nhiệm vụ, các chú phải đoàn kết nội bộ tốt, đoàn kết chặt chẽ với nhân dân địa phương, chỉ có dựa vào nhân dân, đoàn kết với nhân dân mới bảo vệ được mình, che mắt địch và đánh thắng được chúng.
Chợt Bác chỉ tay ra phía đường cái và hỏi:
- Thế các chú cấm con đường này thì nhân dân đi lối nào?
- Thưa Bác, đi vòng theo các bờ ruộng ngoài kia ạ.
Bác nghiêm mặt:
- Như vậy là không được. Các chú cấm đường để bảo mật, phòng gian là đúng, nhưng phải đắp đường khác cho dân đi chứ. Có như vậy mới đúng là quân dân đoàn kết.
Bác dặn đơn vị phải làm ngay, đắp đường cho to, trồng cây hai bên và khi nào làm xong báo cáo cho Bác biết. Ngay hôm sau, đơn vị bắt tay vào làm đường, làm cả trưa hè nắng lửa, đốt đuốc làm cả đêm. Con đường hoàn thành trước hạn định. Các cụ trong làng đem cây ra trồng hai bên. Con đường quân dân đoàn kết ấy được đặt tên là “Đường Quyết Thắng”- Con đường mang ý Bác, lòng dân, con đường đi của chúng tôi: vì nhân dân phục vụ.
5. Hai lần gặp Bác
Trung thu năm 1966, Thành đoàn tổ chức cho Câu lạc bộ thiếu nhi biểu diễn tại Nhà hát thành phố, có báo cáo mời Bác Hồ đến vui với các cháu.
Sắp đến giờ mở màn, mọi người nóng lòng mong Bác đến. Tôi (Lê Bùi) đang khẩn trương chuẩn bị phía trong sân khấu, thỉnh thoảng lại khẽ hé ri đô nhìn ra các hàng ghế đầu xem Bác tới chưa, nhưng chỗ Bác vẫn để trống mà phía sau đã ngồi đầy ắp ba tầng nhà hát.
Chợt có tiếng reo to: “Bác Hồ! Bác Hồ!”. Tôi quay lại đã thấy Bác đứng sau cánh gà trong bộ quần áo lụa giản dị, tay cầm chiếc quạt giấy nhẹ nhàng quạt cho mấy cháu đứng bên. Bác hỏi:
- Hôm nay các cháu biểu diễn gì?
- Dạ thưa Bác, hôm nay chúng cháu biểu diễn ca múa nhạc ạ.
Bác hỏi tiếp:
- Thế có tiết mục văn nghệ dân tộc không?
- Thưa Bác, có ạ.
Các cháu ríu rít quanh Bác, còn tôi, vì hồi hộp quá không biết nên thưa với Bác điều gì. Bác đi thăm các đồng chí phục vụ nhà hát rồi xuống xem biểu diễn. Tối biểu diễn hôm đó thành công tốt đẹp, vui, sôi nổi hơn bao giờ hết.
Một lần khác, tôi dẫn gần 100 cháu và cán bộ phụ trách vào biểu diễn phục vụ khách tại Phủ Chủ tịch.
Khi các cháu vừa hoá trang và chuẩn bị xong thì Bác và một số đồng chí từ nhà sàn đi tới trên con đường xoài mát rượi. Các cháu ùa ra đón Bác, còn tôi và mấy cán bộ đội chỉ đứng ngây ra nhìn Bác và đàn cháu nhỏ. Cháu nào cũng muốn chen vào để được gần Bác, để được Bác cầm tay, xoa đầu và hỏi han. Bác và các cháu đi dần về phía sân khấu nơi Bác sẽ tiếp khách.
Chợt Bác hỏi:
- Hôm nay các cháu làm gì mà đánh phấn, má hồng thế này? Thế không đánh phấn thì có biểu diễn được không? - Bác hỏi tiếp.
Các em đồng thanh trả lời:
- Thưa Bác có ạ.
Cán bộ phụ trách chúng tôi lúc ấy đều hiểu ý Bác: không nên quá câu nệ hình thức son phấn đối với tuổi thơ trong những buổi sinh hoạt thế này.
Cuối buổi biểu diễn, Bác cùng khách gọi các cháu đến để chia kẹo và chụp ảnh cùng Bác.
6. Thấu hiểu phong tục của một dân tộc
Có một lần, đoàn đại biểu phụ nữ Mỹ sang thăm nước ta theo lời mời của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Đoàn đến vào đúng dịp lễ Nôen. Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ chuẩn bị chiêu đãi đoàn tại khách sạn Thống Nhất. Trước đó, các đồng chí phụ trách Hội đã đến báo cáo với Bác chương trình hoạt động của đoàn và dự kiến một buổi để Bác tiếp. Sau khi nghe báo cáo, Bác hỏi đồng chí phụ trách:
- Các cô định tổ chức chiêu đãi đoàn thế nào?
Đồng chí phụ trách báo cáo với Bác là sẽ chiêu đãi đoàn những món ăn dân tộc của Việt Nam. Ngoài ra trong phòng còn đặt một cây thông Nôen như phong tục của người Mỹ trong ngày lễ này. Nghe xong Bác cười và bảo:
- Các cô tiếp đoàn bằng những món ăn dân tộc như thế là tốt, nhưng theo Bác biết ở Mỹ ăn mừng lễ Nôen bao giờ cũng có món thịt gà tây được đặt nguyên cả con. Các cô nên làm thêm món đó.
Biết được chi tiết đó, các đồng chí phụ trách đã cho chuẩn bị đúng như vậy. Trong buổi chiêu đãi, tất cả các thành viên trong đoàn phụ nữ Mỹ rất ngạc nhiên và cảm động. Trong khi Chính phủ Mỹ đang gây biết bao tội ác đối với dân tộc Việt Nam mà đoàn lại được những người phụ nữ Việt Nam tiếp đón hết sức ân cần, chu đáo.
Thì ra phong tục trên đây Bác Hồ biết trong thời gian Người sống và làm việc ở nước Mỹ cách đây hơn 50 năm. Vậy mà đến bây giờ Bác vẫn còn nhớ rất kỹ. Đúng là Bác Hồ không những yêu thương, quý trọng người dân lao động mà còn thấu hiểu cả phong tục, tập quán của cả những dân tộc các nước mà Bác đã đi qua.
7. Cháu tập đàn một tay có khó lắm không?
Cả hội trường như lắng xuống khi âm thanh của cây đàn ghi ta trong lòng người nghệ sĩ một tay cất lên. Âm thanh cuối cùng của bản nhạc chưa kịp tan ra, hàng tràng vỗ tay đã vang dội, tiếng vỗ tay đòi phải diễn lại một lần nữa... Màn sân khấu chưa kịp đóng lại, khán giả đã ùa lên. Các đồng chí của đoàn nghệ thuật quân đội Liên Xô quây quanh người nghệ sĩ với cây đàn. Có người đưa cả hai tay nắm chặt bàn tay còn lại của người nghệ sĩ lắc lắc, nước mắt rưng rưng. Đó là tiết mục của nghệ sĩ thương binh Vân Hoàng, đoàn ca múa Tổng cục Chính trị.
Ngày hôm sau, Vân Hoàng được lên gặp Bác tại Phủ Chủ tịch. Nắn nắn cánh tay còn lại của Vân Hoàng đang lặng đi vì xúc động, Bác dẫn anh ngồi xuống ghế và hỏi thăm gia đình, quê hương và cuộc đời của anh: “Hôm qua cháu đàn, các đồng chí Liên Xô hoan nghênh lắm. Hôm nay Bác gọi cháu đến hỏi chuyện. Cháu về với Bác hôm nay như về thăm gia đình, không phải bỡ ngỡ gì cả”. Và ân cần, nhân hậu như một người cha, Bác hỏi: “Cháu bị thương từ bao giờ? Cháu tập đàn một tay có khó lắm không?”. Cả buổi sáng Bác chăm chú ngồi nghe Vân Hoàng kể chuyện, chuyện đời anh, chuyện gia đình, làng xóm và nghe kể quá trình khổ luyện của người nghệ sĩ thương binh. Một bàn tay với năm ngón, vừa bấm phím đàn, vừa gẩy đàn bằng ngón tay út thay thế cho cả một bàn tay đã mất... Bác nghe và hỏi anh rất tỉ mỉ, lúc đầu tập thế nào, tập rung, tập luyến láy ra sao và vì sao lại kiên trì được như thế. Nghe đến những cảnh khổ mà Hoàng phải chịu, mắt Bác đượm buồn. Bác còn mời Vân Hoàng ăn cơm và hỏi: “Bây giờ cháu đàn còn khó khăn gì không?”. “Thưa Bác, do cháu phải gẩy trên cần đàn nên tiếng không vang được, cháu mong ước có một máy tăng âm”. Bác gật đầu và bảo chiều Vân Hoàng đến đàn cho Bác nghe. Bác muốn nghe riêng những bài mà anh sẽ biểu diễn tối nay trong tiệc thết đoàn nghệ thuật quân đội Liên Xô. Chiều hôm đó Vân Hoàng nhận được một bộ tăng âm mới.
8. Bác mong có nhiều “cốc” hơn nữa
Tết năm 1967 (Đinh Mùi), Bác đến thăm quân chủng Phòng không không quân. Cùng đi với Bác còn có đồng chí Nguyễn Lương Bằng và Thượng tướng Văn Tiến Dũng. Cây gậy trúc trước kia thường dùng để đi rừng, bây giờ theo tay Bác đến thăm bộ đội Phòng không không quân, một quân chủng vừa mới thành lập, nhưng ngay từ những trận đầu ra quân đánh trả “không lực Hoa Kỳ” đã chiến thắng vẻ vang.
Đang trong không khí ngày Tết, lại vừa thắng lợi giòn giã xong, nay được Bác đến thăm ai nấy đều rất vui mừng, phấn khởi. Bác thân mật hỏi:
- Buổi họp mặt hôm nay có mấy đồng chí là anh hùng quân đội?
- Thưa Bác, có năm đồng chí ạ - Đồng chí chính ủy quân chủng báo cáo với Bác.
Bác gật đầu rồi hỏi:
- Đồng chí nào hạ nhiều máy bay Mỹ nhất?
- Thưa Bác, đồng chí Nguyễn Văn Cốc đã bắn rơi chín chiếc.
Bác liền gọi:
- Chú Cốc lên đây! - Và Bác tươi cười nói vui - Năm nay Bác mong muốn có nhiều “Cốc” hơn nữa!
Cả hội trường rộn lên tiếng cười vui vẻ.
Anh hùng lái máy bay Nguyễn Văn Cốc bước lên đứng cạnh Bác. Bác thân thiết ôm hôn Cốc giữa tiếng vỗ tay nồng nhiệt. Bác quay xuống hàng quân, nói:
- Thế còn các cháu gái đâu? Cử một cháu gái, một bác sĩ, một y tá, một chiến sĩ nuôi quân lên đây Bác bắt tay.
Cả hội trường nhìn nhau hồi hộp. Những tràng pháo tay lại nổi lên giòn giã. Tất cả cùng sung sướng khi thấy các chiến sĩ vừa được cử lên được Bác bắt tay, ân cần hỏi han. Bác kéo tất cả các chiến sĩ đó đứng quây quần quanh Bác. Mái tóc bạc phơ, chòm râu như tuyết của Bác nổi lên giữa những mái đầu xanh và cành đào lớn tươi nở sao mà đẹp vậy! Bác giới thiệu Thượng tướng Văn Tiến Dũng nói chuyện trước bộ đội. Sau đó, Bác tươi cười căn dặn mọi người:
- Các cô, các chú bộ đội phải luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu để nó dở quẻ là mình đập lại được ngay!…
Đến lúc ra về, một lần nữa Bác lại nắm tay anh hùng Nguyễn Văn Cốc giơ lên nói:
- Năm mới, chúc các cô các chú lập được nhiều chiến công mới, có nhiều “Cốc” hơn nữa.
9. Bác đến
Hôm đó là ngày 30-5-1967, chúng tôi đang chuẩn bị công việc buổi sáng như thường lệ thì có thông báo mời các trưởng ban lên phòng họp của Viện có việc đột xuất.
Khoảng 30 phút sau, từ phòng họp, đồng chí Trưởng ban chạy về, báo cho chúng tôi một tin vui:
- Bác sắp về!
Cả Viện Quân y 7 rộn rã hẳn lên. Chúng tôi, mỗi người lao vào một việc để chuẩn bị đón Bác. Tim tôi đập dồn dập. Mỗi khi nghe tiếng ô tô chạy ngoài đường là chúng tôi đổ xô ra cửa, chỉ sợ Bác đến lúc nào không biết.
Một đoàn xe con dừng bánh. Chúng tôi chạy ùa ra cửa, mặc dù đã được nhắc trước là ai ở buồng nào thì ngồi tại buồng đó, Bác sẽ lần lượt đến thăm. Ai cũng muốn được nhìn thấy Bác đầu tiên. Sau khi báo cáo tình hình, đồng chí Viện trưởng mời Bác vào phòng trực tra thuốc phòng và mặc áo choàng, Bác cười:
- Các chú định cho Bác làm bác sĩ hay sao?
- Thưa Bác, để phòng bệnh ạ.
- Xin chấp hành.
Vừa nói Bác vừa mặc áo choàng, đội mũ, đeo mạng bịt miệng theo sự hướng dẫn của đồng chí Viện trưởng. Các cán bộ đi theo Bác đều làm theo Bác.
Bác đi lên cầu thang gác ban Nội 2. Cán bộ, nhân viên và thương, bệnh binh chúng tôi đứng dưới cầu thang khá đông, nhiều anh em tỏ ý muốn Bác bỏ mũ và khẩu trang để được nhìn thấy rõ Bác. Đang đi lên cầu thang, khi biết nguyện vọng của anh em, Bác tươi cười quay lại:
- Bác không phải là bác sĩ. Bác không muốn là bác sĩ giả. Nhưng đồng chí Viện trưởng bảo để phòng bệnh thì Bác phải chấp hành. Các cháu hỏi bác sĩ đây có đồng ý cho Bác bỏ mũ và bịt miệng ra không?
Bác vừa nói xong, bác sĩ Viện trưởng thưa với Bác là có thể được vì khu vực này không phải là khu lây. Bác sĩ Viện trưởng vừa đỡ lấy chiếc mũ và cởi chiếc khẩu trang của Bác ra, chúng tôi đứng dưới cầu thang vỗ tay vang dội, sung sướng đến chảy nước mắt. Tôi lách vào đứng thật gần Bác để được nhìn rõ Bác.
Một đồng chí thương binh giơ tay hô: “Hồ Chủ tịch muôn năm”. Bác khoát tay ra hiệu không được hô. Bác bảo:
- Ở đây là bệnh viện, phải giữ yên tĩnh để các cô, các chú đang mệt nghỉ ngơi.
Bác vào thăm một buồng nữ bệnh nhân của ban Nội 1. Chị Huệ, một thương binh miền Nam tập kết, trông thấy Bác chị reo lên: “Bác”, rồi oà lên khóc. Bác bước đến bên cạnh chị và hỏi:
- Tại sao cháu lại khóc? Bác đến thăm, cháu phải vui chứ!
Chị Huệ nghẹn ngào:
- Thưa Bác, khi đi tập kết, ba, má, đồng bào miền Nam dặn cháu: Ra miền Bắc thưa với Bác Hồ… nói đến đây chị lại khóc nấc lên không sao nói được nữa. Bác cảm động cầm tay chị Huệ một lúc lâu. Mọi người đứng xung quanh cũng xúc động lặng đi. Một lát sau, chị Huệ lau nước mắt nhìn Bác, thưa tiếp.
- Thưa Bác, hôm nay được gặp Bác cháu mừng quá, cháu khóc đấy ạ!
- À, thế là mừng quá cũng khóc.
Mọi người đứng xung quanh cùng cười…
Bác đi thăm các cơ sở điều trị của thương binh, nhà bếp, nhà ăn, nhà vệ sinh. Sau đó Bác ra sân, đứng lên bậc của một chiếc xe con nói chuyện với anh chị em chúng tôi. Sau khi nói về tình hình nhiệm vụ, Bác dặn anh em thương binh, bệnh binh phải yên tâm tin tưởng vào thầy thuốc thì chữa bệnh mới chóng khỏi, phải đoàn kết với cán bộ, nhân viên của bệnh viện. Đối với cán bộ, nhân viên, Bác dặn phải đoàn kết chặt chẽ giữa cán bộ chính trị với cán bộ chuyên môn, phải hết lòng hết sức chữa cho bệnh nhân, phải coi người bệnh như những người ruột thịt, thân thiết nhất của mình.
Bác nói xong, từng tràng vỗ tay nổi lên vang dậy. Xe đã nổ máy nhưng không ai muốn rời Bác. Bác khoa tay và hỏi:
- Bác vừa nói như vậy, các cháu có thực hiện được không?
- Có ạ!
- Các cháu có nghe lời Bác không?
- Có ạ!
- Nghe lời Bác thì đứng tránh xa cho xe Bác đi.
Chúng tôi lại vỗ tay ran lên…
Giữa tiếng vỗ tay, chiếc xe ô tô con sơn màu sữa từ từ chuyển bánh. Ánh nắng rực rỡ của một buổi sáng tháng 5 đan vào chùm phượng vĩ nở đỏ rực đung đưa theo gió. Bác tiếp tục đi thăm thành phố mới được giải phóng.
10. Tấm lòng Bác Hồ với chiến sĩ phòng không
Mùa hè năm 1967, trời Hà Nội rất nóng, Bác nói với đồng chí thư ký riêng Vũ Kỳ: “Nắng nóng thế này, các chú bộ đội trực phòng không trên nóc hội trường Ba Đình thì chịu sao được? Các chú ấy có đủ nước uống không? Chú thử tìm hiểu xem thế nào, về cho Bác biết”. Đồng chí Vũ Kỳ lên, được biết trên đó có một tổ súng máy 14 ly 5, ụ cát sơ sài, nếu địch bắn vào thì rất nguy hiểm. Trời nắng chói, đứng một lúc mà hoa hết cả mắt. Đồng chí Vũ Kỳ hỏi: “Các đồng chí có nước ngọt uống không?”. “Nước chè thường còn chưa có, lấy đâu ra nước ngọt!”. “Dưới hội trường thấy có nước ngọt cơ mà!”. “Đấy là dành cho các “ông bà” đến họp mới được uống, còn bọn tôi lấy đâu ra!”. Đồng chí Vũ Kỳ về nói lại với Bác, Bác gọi điện ngay cho đồng chí Tổng Tham mưu trưởng: “Sao các chú không lo đủ nước uống cho các chiến sĩ trực phòng không? Nghe nói ụ súng trên nóc hội trường Ba Đình rất sơ sài, chú phải lo sửa ngay để bảo đảm an toàn cho chiến sĩ trong chiến đấu!”. Sau đó, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đi lấy sổ tiết kiệm của Bác, xem tiền tiết kiệm của Bác còn bao nhiêu. Lương của Bác cao nhất nước, nhưng hàng tháng cũng chỉ đủ chi tiêu. Mọi chi phí cho sinh hoạt của Bác, từ cái chổi lông gà đều ghi vào lương cả. Tiền tiết kiệm của Bác do các báo trả nhuận bút cho Bác. Bác viết bài nhiều, có năm hàng trăm bài. Các báo gửi đến bao nhiêu, Văn phòng đều gửi vào sổ tiết kiệm của Bác. Đồng chí Vũ Kỳ xem sổ và báo cáo: “Thưa Bác, còn lại tất cả hơn 25.000 đồng (lúc đó là một món tiền lớn, tương đương với 60 lạng vàng)”. Bác bảo: “Chú chuyển ngay số tiền đó cho Bộ Tổng Tham mưu và nói đó là quà của Bác tặng để mua nước ngọt cho anh em chiến sĩ trực phòng không uống, không phải chỉ cho những chiến sĩ ở Ba Đình, mà cho tất cả các chiến sĩ đang trực chiến trên mâm pháo ở khắp miền Bắc. Nếu số tiền đó không đủ thì yêu cầu địa phương nào có bộ đội phòng không trực chiến góp sức vào cùng lo!”.
Về sau Bộ Tư lệnh Phòng không không quân báo cáo lại cho Văn phòng Phủ Chủ tịch biết: số tiền của Bác đủ mua nước uống cho bộ đội Phòng không không quân được một tuần.
Theo 117 câu chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 17/1/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 1. Hò hét mà không làm
Cuối năm 1952, đoàn cán bộ, chiến sĩ miền Nam ra Việt Bắc, được gặp Bác Hồ.
Bác ân cần hỏi thăm sức khỏe từng đồng chí, đi đường có ai ốm đau gì không, đã có đủ áo ấm chưa, đã được cấp phát những gì…
Thay mặt cho hơn 50 anh em, một đồng chí báo cáo:
- Thưa Bác, từ khi đến đất Khu Bốn rồi lên Việt Bắc đến nay, chưa được cấp phát gì cả ạ.
Bác quay sang đồng chí Võ Nguyên Giáp nói:
- Chú Văn phải lo việc này cho các chú ấy. Chú Văn phải chiêu đãi các chú ấy nhân dịp ta vừa chiến thắng Nghĩa Lộ…
Sau đó, Bác mời cả đoàn đi ăn cơm. Bác nhìn hết đồng chí này đến đồng chí kia, gắp thức ăn cho từng người, quên cả ăn.
Tan tiệc, Bác tặng mỗi đại biểu một cái kẹo, một điếu thuốc lá “Đại Tiền Môn” của Trung Quốc – quà của cố vấn nước bạn tặng Bác, Bác nói:
- Kẹo và thuốc lá của các cố vấn Trung Quốc biếu Bác. Bác biếu lại các chú.
Đếm người, thấy thiếu một đồng chí, Bác hỏi:
- Ai không có mặt?
Anh em thưa:
- Thưa Bác, có đồng chí Hoàng mệt, không đến được ạ.
Bác bèn chia phần kẹo, thuốc lá cho đồng chí Hoàng và nói:
- Bác gửi quà cho chú Hoàng.
Bác còn dặn thêm phải giữ ấm ngực, năng tập thể dục, ngủ trưa…
Mỗi buổi sáng, như thường lệ, Bác vẫn dậy sớm, tập thể dục…
Bác đến từng lán của các đại biểu chính trị, quân sự, miền Trung, miền Nam giục xuống sân. Đến một lán khuất, Bác nghe hô “một hai, một hai…” nhưng không nghe tiếng chân giậm. Đến nơi, thì chẳng thấy một ai cả.
Bác trèo lên sàn, lật chăn, kéo chăn “chư vị đại biểu” trách nhẹ.
Này, các chú nằm trên giường tập thể dục bằng mồm à…
2. Bác không hỏi chú, Bác hỏi nhân dân
Lần Bác về thăm xã Vĩnh Thành (Nghệ Tĩnh), Bác có nói chuyện với đồng bào, xã viên hợp tác xã và cán bộ trong xã. Bác khen hợp tác xã về mọi mặt đều có tiến bộ, Bác nhắc nhở bà con chú ý đẩy mạnh thủy lợi, làm nhiều phân, làm cho kịp thời vụ, giữ gìn vệ sinh sạch sẽ trong nhà ngoài ngõ, phải cải tiến nông cụ, chọn cây trồng cho lợi ích nhiều, tổ chức lao động cho hợp lý…
Bác khen các cô Nguyễn Thị Túy, Nguyễn Thị Nhụy, Nguyễn Thị Đường và các anh Phan Trọng Kinh, Nguyễn Tá, đã làm được nhiều công, nhiều phân, nhiều đất thủy lợi. Bác nói:
- Tuy có con dại mà cô Đường vẫn phấn đấu trở thành lao động tiên tiến. Vậy thì chớ có thấy cái gì cũng đổ tội cho các cháu bé… Dễ đổ lắm. Vì chúng không cãi.
Rồi Bác hỏi: “Thành tích của các cô, các chú trên có đúng sự thật không?”
Đồng chí Bí thư đứng cạnh Bác, nhanh miệng thưa:
- Dạ, đúng ạ.
Bác quay lại, giơ ngón tay:
- Bác không hỏi chú, Bác hỏi nhân dân kia.
Đồng bào đồng thanh trả lời để “cứu” Bí thư:
- Thưa Bác, đúng đấy ạ!
Câu chuyện nhỏ từ một ngày đầu tháng 12 năm 1961, mà đến nay số đông cán bộ vùng Nghệ Tĩnh vẫn truyền lại cho nhau. Họ nói: “Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ. Đúng, sai – như Bác dạy, cứ là hỏi nhân dân”.
3. Bác dạy một người làm tướng
Bộ đội khu 3 trong kháng chiến chống pháp thường kể chuyện, phàn nàn nhưng vẫn thích thú về một Trung đoàn trưởng hay quát mắng, có khi “ục”cả lính. Tuy vậy, anh em vẫn quý mếm cán bộ này vì lòng dũng cảm, ngay thẳng, “xong việc là thôi” chẳng để bụng lâu.
Đó là “chú Nghĩa, đảng viên, mọi điều tôi đã dặn kỹ, xin tiên sinh an tâm”. Đây là lời đồng chí Vũ Anh giới thiệu người giao thông kiêm bảo vệ đồng chí Vương, tức Bác Hồ - tại Côn Minh năm 1940.
Chú Nghĩa đã được đi theo Bác trong nhiều lần công tác, nhất là đã hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Bác từ Côn Minh về nước an toàn cuối năm 1940.
Chú Nghĩa tâm sự với đồng chí Vũ Anh:
“Em biết được phục vụ Bác là một vinh dự lớn. Nhưng anh biết em rồi, em chỉ thích trực diện đánh nhau với địch, còn bảo vệ Bác, anh giao cho người khác…”
Đồng chí Vũ Anh thưa lại với Bác. Ban đầu Bác chưa đồng ý. Sau, nhờ có đồng chí Hoàng Hữu Nam nói thêm vào, Bác mới cho gọi chú Nghĩa:
- Chú đòi được ra chiến đấu, Bác cũng không ngăn. Nhưng Bác chỉ phân vân hai điều: một là, tính chú nóng quá. Bây giờ chú là lính. Cách mạng phát triển, quân đội phát triển mai sau chú cố gắng, sẽ là “quan”, là “tướng”. Tướng mà tính nóng là hỏng việc; hai là, tính chú liều quá. Có Bác bên cạnh mà chú còn dám bắt gà, bắt ngựa của dân sau này ra “hùng cứ một phương chú sẽ còn làm nhiều điều sai trái, ai ngăn được chú? Hoặc như việc chú tự ý tiêm ký ninh vào “ven” cho Bác cũng là việc liều. Bác chưa thấy ai tiêm ký ninh vào “ven” như chú cả.
Nhưng thôi, Bác còn sống là may rồi. Lần này ra chiến đấu chú nhớ phải phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm.
Chừng như chưa chắc chắn, trước khi để chú Nghĩa ra về, Bác hỏi gặng:
- Chú có hứa với Bác là sẽ khắc phục khuyết điểm để mau chóng tiến bộ không?
- Thưa Bác, cháu xin hứa.
Bác bắt tay chú Nghĩa.
Ít lâu sau, Pháp bị Nhật đảo chính. Có hai vợ chồng chánh mật thám Bắc Cạn và năm tên Pháp chạy sang Trung Quốc. Không may gặp đơn vị của chú Nghĩa, chú Nghĩa giải quyết xong bọn mật thám, cho phép anh em lính khố đỏ ai muốn về, được về. Chú Nghĩa thu được 6 súng ngắn, 6 đồng hồ, mấy vạn đồng Đông Dương.
Chú Nghĩa kéo quân về báo cáo với đồng chí Vũ Anh, ngỡ mình sẽ được khen, nhưng nghe xong, mặt đồng chí Vũ Anh tái mét đi.
- Lẽ nào, chú không biết một tí gì về chính sách đoàn kết của Mặt trận Việt Minh trong giai đoạn hiện nay ra sao? Việc này tôi báo cáo với Bác ra sao?
Vô cùng ân hận, lại nhớ đến lời Bác dặn, lời hứa của mình, chú Nghĩa bàn cách với đồng chí Vũ Anh, lấy cớ phong trào đang phát triển nên đã cử chú Nghĩa lên đường ngay, tránh một cuộc “gặp mặt” chắc chắn chẳng nhẹ nhàng gì với Bác, điều mà Bác đã lường trước, điều mà chú Nghĩa vừa mới hứa xong!
Việc “tày đình” như vậy làm sao giấu được Bác. Nhưng rồi Bác cũng thông cảm cho “chú Nghĩa” đã biết ân hận, đã thấy được khuyết điểm của mình.
Như đã nói ở trên trong kháng chiến chống Pháp, “chú Nghĩa” đã là Trung đoàn trưởng mà vẫn còn đôi chút nóng tính, quát mắng chiến sĩ.
Hơn 20 năm sau, khi giao chức vụ Tư lệnh Phòng không cho “chú Nghĩa”, Bác dạy:
- Chức chú càng cao thì chú càng phải thương yêu chiến sĩ nhiều hơn.
“Chú Nghĩa” của chúng ta chính là Thượng tướng Phùng Thế Tài hôm nay.
4. Lộc bất tận hưởng
Đó là câu tục ngữ, câu răn dạy, khuyên bảo con người, có nghĩa là “có lộc không nên hưởng hết một mình” mà nên chia sẻ cho người khác.
Tháng 8 năm 1945, trên đường từ chiến khu về Hà Nội, dừng chân ở một căn nhà làng Gạ, ngoại thành Hà Nội. khi gia đình dọn cơm, Bác đã sẻ phần thịt gà ngon, mềm vào bát cụ chủ nhà.
Trong những tháng năm kháng chiến chống Pháp, trên Việt Bắc, ăn cơm cùng với các chiến sĩ bảo vệ, anh nuôi, bao giờ Bác cũng chia đều thức ăn cho cả mâm. Chị Minh Phương giúp việc chăm sóc sức khỏe Bác bày ra cái mẹo ninh gà nhừ, ít nước đặc để riêng cho Bác. Bác biết ý, nói vui: “thề là khôn ăn cái, dại ăn nước”. Rồi Bác cũng lấy thìa san cho đủ người trong bữa ăn.
Một lần, Văn phòng Chủ tịch nước nhận được một miếng cao đặc mật ong của các vị lãnh đạo Đảng Trung Quốc tặng. Anh em đưa lên Bác để “Bác dùng cho khỏe”.
Bác cho gọi đồng chí cấp dưỡng lên, nói:
- Chú đem miếng cao này xuống bếp, bỏ vào nồi, đong đủ 24 bát nước, có ít gạo tẻ, gạo nếp càng tốt, đun lên, chia đều cho 24 người của Văn phòng.
Bác cũng chỉ là một trong 24 suất ấy. Đồng chí cấp dưỡng tần ngần chưa chịu đi. Bác cười nói:
- Làm đi chứ. “Lộc bất tận hưởng” mà chú!
5. Chú làm chủ tịch, để Bác làm thứ trưởng
Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công ở Hà Nội, rồi Huế, Sài Gòn. Nhiều cán bộ từ vùng rừng núi “hạ sơn” vào thành phố, nhận nhà cửa được phân, được giao nhiệm vụ này nọ. Tư tưởng hưởng lạc cầu an ở một số đảng viên đã xuất hiện. Có người “bạo phổi” đến thưa với Hồ Chủ tịch là “bao năm bóng tối, gian khổ, nay cách mạng thành công nên cho cán bộ “thở” một chút. Với thái độ thông cảm, bao dung Bác nhẹ nhàng giải thích, đại ý:
- Cách mạng chưa thành công hoàn toàn chú ạ. Mới chỉ là thắng lợi một bước quan trọng thôi, để chuyển sang giai đoạn mới cao hơn, phức tạp hơn. Giành được chính quyền đã quan trọng, nhưng bảo vệ được chính quyền còn khó khăn hơn, xây dựng đất nước phồn vinh còn quan trọng, khó khăn gấp bội. Ta cần cố gắng hy sinh nhiều hơn.
Khi thành lập Chính phủ, với mục đích “tập hợp nhân tài”, “đại đoàn kết”, “Tổ quốc trên hết” Đảng và Bác Hồ đã chủ trương mời một số nhân sĩ, trí thức tham gia công việc nước. Đồng chí Vũ trước đây đã công tác lâu năm với Bác Hồ, ở bên cạnh Bác, được phân công giữ nhiệm vụ Thứ trưởng một Bộ.
Thấy mình là dân “cách mạng gốc”, bao năm hoạt động, so với mấy anh “tạch tạch xè” (câu nói chỉ tiểu tư sản), trí thức, quan lại cũ thì hẳn là ở trên rồi. Sao lại đi làm phó!
Được cái tốt là thẳng thắn, đồng chí Vũ đến ngay Bác “thuyết phục”, “trình bày” một hồi lâu với Chủ tịch nước. Chủ tịch nước ngồi yên lặng, tôn trọng ý kiến người đối thoại, trầm ngâm. Tưởng “bở” đồng chí Vũ lại quá đà nói dài thêm nên có chỗ sơ hở. Biết ý, đồng chí Vũ dừng lời. Bác lại hỏi:
- Chú còn gì nữa không?
- Thưa còn, nay chỉ xin nói thế thôi ạ.
Chủ tịch nước thong thả trả lời:
- “Thế thôi” mà đã quá dài. Bác chỉ nói ngắn: Chú giỏi lắm, công trạng nhiều quá mà chỉ làm Thứ trưởng. Vậy Bác đổi chỗ cho chú. Chú lên làm Chủ tịch để Bác làm Thứ trưởng cho…
Anh cán bộ họ Vũ vừa mới hăng hái bỗng lặng im. Lát sau đứng dậy anh nói:
- Thưa Bác cháu về.
Bác nói với theo:
- Chú về…
6. Bác dạy trẻ
Anh Việt Phương có kể một câu chuyện về một cháu, con một đồng chí Trung ương. Đồng chí ấy đưa con vào cơ quan, rồi vì công tác, buổi trưa chưa về kịp. Bác “mời” cháu đi ăn cơm với Bác (xin nhớ trong ngôn ngữ của Bác, không có chữ “cho”, mà chỉ có “tặng”, “biếu”, “mời”, “chia”…). Hôm ấy có cả bác Tô (Phạm Văn Đồng) cùng dùng bữa với hai bác cháu.
Ngồi vào mâm cơm “công tử” sợ lắm, không biết “mở đầu” trận “chiến đấu” từ đâu đây? Có một bát canh thì chưa dám lấy. Còn đĩa thịt gà lại để gần phía Bác Tô. Bác Hồ biết ý, gắp bỏ vào bát của cháu miếng thịt gà, suất của Bác. Sau đó, Bác Hồ gắp thêm thức ăn, chan canh… “tiêu diệt” được 2 bát, chú bé đặt bát nói “cháu ăn xong rồi ạ”. Và ù té chạy. Bác mời cháu quay lại:
- Này cháu, chưa xong đâu. Cháu vào đây. Thế này nhé. Hôm nay Bác Tô và Bác Hồ (xin chú ý: Bác Tô trước) mời cháu ăn cơm. Cháu ăn xong, cháu phải cảm ơn rồi mới đi chứ. Không cảm ơn đã đi là không được đâu.
Cháu bé vòng tay, cúi đầu:
- Cháu cảm ơn Bác Hồ, cháu cảm ơn Bác Tô ạ… ạ…
Xong lại co cẳng chạy. Ra đến cửa. Bác Hồ lại gọi:
- Chưa, chưa xong đâu, cháu lại đây. Cháu còn nhỏ, bây giờ về nhà cũng chơi thôi. Cháu ăn xong, cháu phải đi rửa bát của cháu cho sạch, đặt lên bàn. Chứ không được để cô cháu hầu cháu đâu.
Cháu nhỏ mang bát đi rửa, rửa đi rửa lại, sạch sẽ rồi mang vào trả.
- Mời cháu ngồi xuống ăn “tráng miệng” với Bác, Bác Tô có việc về rồi.
Bác Hồ cắt quả táo làm hai phần. Phần trên nhỏ, phần dưới to. Như một cái nồi đồng có cái vung.
- Bây giờ hai Bác cháu mình chia nhau. Mời cháu cái “vung” nhỏ. Bác ăn cái “nồi” to. Cháu có biết tại sao không? Bác thì lao động, buổi sáng làm việc, buổi chiều làm việc. Lao động như vậy là Bác phải ăn nhiều, nên ăn cái “nồi to”. Cháu thì chưa lao động, cháu ăn cái “vung” nhỏ thôi. Cháu nhớ khi về gia đình ăn cơm với bố mẹ, cháu phải biết chia phần. Bố mẹ đi lao động cả ngày, bố mẹ phải ăn phần to. Cháu chia cho bố mẹ phần to, cháu ăn phần nhỏ thôi. Cháu đừng giành ăn phần to của bố mẹ nhé…
Một cựu chiến binh nghe chuyện xong nói:
- Bác dạy cán bộ đấy! Làm tùy sức, hưởng tùy năng… xã hội chủ nghĩa đấy! Còn cái anh làm ít ăn nhiều, ăn vụng, ăn trộm thì còn lâu, còn “Tết”, đất nước mới khá lên được…
7. Nhân dân ăn thế nào Bác cũng ăn như thế
Những ai đã trải qua kháng chiến chống Mỹ, ở Hà Nội đều đã biết “cơm độn”. Độn mì sợi là sang nhất. Độn ngô cám, độn mì bột, độn bo bo. Cái “anh” này quá lắm. Giã, ngậm bột trước rồi nhưng anh ra vẫn khó tiêu.
Biết nhân dân, cán bộ bắt đầu ăn độn, Bác bảo:
- Các chú thổi cơm độn cho Bác. Nhân dân, cán bộ ta ăn độn bao nhiêu phần trăm, độn cho Bác từng ấy, giống như cán bộ với dân.
Năm ấy Bác đã 75 tuổi rồi, anh em nhìn thấy Bác ăn độn mà xót quá, nước mắt cứ chực chảy. Mấy ngày sau, mới thưa với Bác là có quy định cụ già trên 70 tuổi không phải ăn độn xin Bác đừng ăn độn nữa.
Bác lại nói:
- Không! Bác cũng nhiều tuổi, nhưng Bác còn khỏe. Thế thì Bác theo cán bộ. Cán bộ thế nào thì Bác thế ấy. Cứ thổi tiếp đi cho Bác ăn.
Anh em xay ngô cho thật nhỏ, độn “gọi là”. Nhưng Bác biết bảo:
- 50 % kia mà!
Lại nghĩ cách lấy bột mì làm bánh. Bác chỉ ăn một bát cơm còn lại ăn một cái bánh mì, không bảo giờ ăn toàn cơm. Đi công tác cũng nắm cơm độn hoặc mang toàn bánh mì theo. Chỉ có bát canh nóng là cho vào phích mà thôi…
8. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi
Đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố bản “Tự phê bình” trước toàn thể nhân dân. (Bản này được đăng công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng vào ngày 28 tháng 1 năm 1946).
Mở đầu, Chủ tịch viết:
“Vì yêu mến và tin cậy tôi, mà đồng bào giao vận mệnh nước nhà, dân tộc cho tôi gánh vác. Phận sự tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bờ bến hạnh phúc của nhân dân”.
Sau khi nêu lên những công việc làm việc trong hoàn cảnh khó khăn, Người tự nhận xét: “Ngoài những việc đó, Chính phủ do tôi đứng đầu, chưa làm việc gì đáng kể cho nhân dân. Tuy nhiên người trong ban hành chính làm việc tốt và thanh liêm, song cái tệ tham ô, nhũng lạm chưa quét sạch… Người đời không phải là thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm. Chúng ta không sợ có khuyết điểm, nhưng chi sợ không biết kiên quyết sửa nó đi…
… Những sự thành công là nhờ đồng bào cố gắng. Những khuyết điểm kể trên là lỗi tại tôi”.
Cuốn bản “tự phê bình”, Bác Hồ thân yêu của chúng ta viết: “Tôi mong đồng bào ra sức giúp tôi sửa chữa những khuyết điểm đó bằng nhiều cách, trước hết là bằng cách thi hành cho đúng và triệt để những mệnh lệnh của Chính phủ”.
Vận mệnh nước ta ở trong tay ta. Chúng ta đồng tâm nhất trí, trên dưới một lòng, thì chúng ta nhất định thắng lợi.
9. Một năm hai lần đến thăm trại giam
Ngày 18 tháng 1 năm 1946, mới 5 tháng sau ngày 19 tháng 8, nhân dân ta giành được chính quyền ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lần đầu đi kiểm tra công tác “giác ngộ” những người lầm lỗi ở nhà giam Hỏa Lò và ở Nha công an.
Tháng 1 năm 1946 là một tháng trong những tháng “ngàn cân treo sợi tóc” của nước cộng hòa non trẻ Việt Nam. Và ngày 16/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ sáng sớm đã gửi thư cho Tổng thống Mỹ H.Truman qua bài diễn văn ngày 28 tháng 10 năm 1945 của Tổng thống. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã viết trong thư lên án sự trở lại của quân đội Pháp và yêu cầu Tổng thống Mỹ “can thiệp ngay lập tức và có giải phóng để nhân dân Việt Nam thoát ra khỏi cuộc chiến tranh đó”.
Thư viết xong, đã thấy một cán bộ của Văn phòng phủ Chủ tịch, trình Chủ tịch nước ký một loạt sắc lệnh, trong đó có sắc lệnh giải tán tổ chức quỹ cứu trợ mang tên Toàn quyền Đông Dương Brêviê và của Hội bảo trợ Phụ nữ và Nhi đồng An Nam do chính quyền cũ tổ chức, để lại.
Sau đó, Hồ Chủ tịch tới nhà giam ở trên phố Hỏa Lò. Người đến đây với tư cách người ông, người cha, xót thương cho những con cháu lỗi lầm, nước đã độc lập tự do mà học còn ngồi trong bốn bức tường nhà tù.
Bác đi một vòng xem nhà bếp, nhà ăn, phòng tắm, phòng giam. Ngôi bên họ, không sợ hôi hám, bẩn thỉu, Bác nghe những đứa con nhẹ dạ, không hiểu biết đầy đủ luật pháp đã phạm sai lầm phân trần. Thông cảm với sự hồi tâm, hối tiếc của những người bị giam giữ, Bác khuyên học mau chóng sửa chữa để xứng đáng là công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, để góp công, góp sức vào công cuộc kiến thiết nước nhà…
Nước mắt lưng tròng, những người đeo số tù ấy không ai vận động ai đều đứng lên hô to: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”
Họ có biết đâu là Hồ Chủ tịch của họ cũng rưng rưng nước mắt. Bác nói: “Nên đổi chữ trại giam thành khu giác ngộ”. Giác ngộ là danh từ nhà Phật. Tự mình răn mình, lánh xa điều ác, chăm giữ điều thiện để trở về với con người chân chính, là giác ngộ. Bác không vui, dù rằng nếu có đổi ra “Khu giác ngộ” cũng là “trại giam” mà thôi… ý xót thương, tấm lòng bao dung của Bác muốn cho cán bộ trại không nên coi đấy là nơi đọa đầy họ và họ cũng chẳng nên phẫn chí, cùng đường ở nơi “đầy đọa” này…
Có lẽ hình ảnh những con người Việt Nam ấy, sau 80 năm nô lệ, chưa được độc lập tự do luôn trở về trong tâm trí Bác.
Mười tháng sau, mới 2 ngày sau khi từ Paris về Hà Nội, Bác lại đến thăm “Khu giác ngộ”, thăm số công an viên đang chuẩn bị đi làm nhiệm vụ.
Nói chuyện với trại viên “Khu giác ngộ”, Bác an ủi họ: “Anh chị em vì hám lợi mà làm sai nên phải vào đây chờ pháp luật xét xử”. Nhưng khi gặp cán bộ khu, Bác căn dặn: “Nên chăm sóc hơn đối với người bị giam. Phải xét ngay và xét kỹ cho họ khỏi bị oan uổng”.
Trong cơn lốc của cuộc cách mạng, trong buổi đầu lập nước, tránh sao khỏi những việc oan uổng trong dân… Bác biết và Bác nói hộ lời của dân “xin đừng giam lâu, xin đừng xét oan…”
Trích trong 120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 17/1/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Ngày 19/12/1946 là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam, là Ngày Toàn quốc kháng chiến, một dịp lễ quan trọng tôn vinh những anh hùng, chiến sĩ, và những đóng góp lớn lao của nhân dân trong cuộc kháng chiến chống lại quân xâm lược người Pháp, mở đầu cho hành trình độc lập và tự do của đất nước.
Ngày 19/12/1946, dưới bóng đèn của lịch sử, Việt Nam đã đứng lên chống lại sự xâm lược và áp bức của quân đội Pháp. Cuộc kháng chiến Toàn quốc bắt đầu, đưa vào lịch sử một trang sử vĩ đại về lòng yêu nước và sự hy sinh cao cả của những con người Việt Nam. Trong bức tranh lịch sử nước nhà, ngày 19/12 trở thành biểu tượng của sự đoàn kết, quyết tâm và lòng kiên trì vô song. Ra đời trong thời khắc lịch sử đặc biệt, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tác động đến sâu thẳm lòng yêu nước và ý chí quật cường của dân tộc, trở thành biểu tượng lớn của sức mạnh đại đoàn kết.
19/12/1946 - Dấu Mốc Kháng Chiến Toàn Quốc
Trước âm mưu, hành động xâm lược của kẻ thù, nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác là cầm súng chiến đấu để bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được. Ngày 18 và 19/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị tại Vạn Phúc (Hà Đông), ra quyết định lịch sử: phát động Toàn quốc kháng chiến. Ngay đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ra lời kêu gọi đồng bào cả nước kháng chiến. Sáng 20/12/1946, "Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát đi khắp cả nước:
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu quốc đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm!
Kháng chiến thắng lợi muôn năm!"
Ngày 19/12 không chỉ là một trang sử lịch sử quan trọng mà còn là nguồn động viên cho tương lai. Tình yêu nước, đoàn kết và lòng kiên trì đã giúp Việt Nam vượt qua mọi thách thức. Ngày nay, chúng ta tiếp tục bước đi trên con đường xây dựng và bảo vệ đất nước, giữ gìn những giá trị văn hóa và tinh thần lịch sử, để tương lai Việt Nam ngày càng phồn thịnh và mạnh mẽ.