Thứ năm, 18/1/2024, 16:03 , Lượt đọc : 73
Roboto
Arial
Open Sans
Times New Roman
Calibri
Tahoma
Trong số những yếu tố làm nên chân dung lãnh tụ lỗi lạc - danh nhân văn hoá thế giới Hồ Chí Minh, không thể không kể đến khả năng sử dụng ngôn từ siêu việt của Người. Từ xưa đến nay, đã có hàng chục cuốn sách, hàng trăm bài báo ca ngợi Hồ Chí Minh như một nghệ sĩ ngôn từ bậc thầy. Thế nhưng, có vẻ như tất cả những công trình đó mới chỉ là sự khởi đầu. Bởi khi tiếp xúc với nhiều văn bản từ lâu đã trở thành quen thuộc đối với hàng triệu công chúng của Bác, chúng ta vẫn thường xuyên cảm thấy ngỡ ngàng trước sự toả sáng của không ít câu chữ mà Người từng nói, từng viết. Bài viết này của chúng tôi xin đề cập một trường hợp như thế.
Năm 1946, trong cuộc nói chuyện với đồng bào trước lúc sang Pháp, Bác có câu: "Đồng bào thương tôi, ... làm theo lời tôi nói".
Ở đây, chúng tôi đã cố ý lược đi một từ ở chỗ dấu ba chấm để làm một cuộc thử. Với câu hỏi "Theo anh (chị), Bác đã dùng từ gì ở đó?" được đặt ra cho nhiều đối tượng khác nhau (tất cả đều có trình độ đại học trở lên), chúng tôi đã nhận được các phương án trả lời với các từ: Hãy, phải, thì, cần, nên, xin, cứ nhớ, mong, cùng, cố gắng, sẽ, vậy, ắt.
Có một điều thú vị là tất cả các phương án nói trên đều chuẩn xác về mặt ngôn ngữ, song lại không trùng với phương án của Bác. Chắc chắn Bác đã cân nhắc rất kỹ và đã có sự lựa chọn tối ưu tới mức ngỡ ngàng.
Vậy tại sao Bác lại không sử dụng các phương án trên? Chúng ta hãy thử cùng nhau tìm câu trả lời.
- Hãy: "Đồng bào thương tôi, hãy làm theo lời tôi nói". "Hãy" ở đây biểu thị tính chất mệnh lệnh của phát ngôn. Do vậy, câu nói của Bác "hãy làm theo lời tôi nói" trở thành câu ra lệnh. Điều này sẽ khẳng định quyền uy của Bác, qua đó làm gia tăng khoảng cách giữa một vị lãnh tụ tối cao và quảng đại quần chúng nhân dân. Vì lẽ đó, Bác, với tư cách là một vị cha già kính yêu và gần gũi của cả dân tộc, không thể sử dụng.
- Phải: "Đồng bào thương tôi, phải làm theo lời tôi nói". "Phải" có ý nghĩa là: "ở trong điều kiện bắt buộc không thể không làm, nhất thiết không thể khác hoặc nhất thiết cần phải có". Như vậy, từ này làm cho câu nói của Bác mang tính áp đặt, gợi cảm giác nặng nề đối với quần chúng nhân dân.
- Thì: "Đồng bào thương tôi, thì làm theo lời tôi nói". "Thì" là một thành tố trong cặp từ quan hệ "nếu...thì..." dùng để biểu thị giả thiết hay điều kiện. Do đó, câu này sẽ trở thành câu điều kiện, thể hiện sự tính toán, cân nhắc đầy sắc màu lý trí, khiến người đọc, người nghe không cảm nhận được sự gần gũi, thân thiết của Bác đối với mình.
- Cần: "Đồng bào thương tôi, cần làm theo lời tôi nói". "Cần": "Không thể không làm, không thể không có, vì nếu không làm, không có thì sẽ có hại". Câu này nhấn quá mạnh vào tính cấp thiết, vào tầm quan trọng của việc làm theo lời Bác. Cho nên, nó cũng có giọng điệu nặng nề, thể hiện một sắc thái thiếu khiêm nhường nào đó về mặt ý nghĩa.
- Nên: "Đồng bào thương tôi, nên làm theo lời tôi nói". "Nên" là dấu hiệu của lời khuyên. Mà đối với lời khuyên thì người ta có quyền lựa chọn: làm hoặc không làm. Câu này chưa thể hiện được đầy đủ tình cảm cũng như niềm tin của Bác đối với quần chúng nhân dân.
- Xin: "Đồng bào thương tôi, xin làm theo lời tôi nói". Từ "xin" ở đây có thể hiểu theo hai cách: 1,"biểu thị thái độ khiêm tốn, lịch sự"; 2, "cầu xin". Với cách hiểu thứ nhất của từ "xin", câu nói của Bác sẽ trở nên trang trọng tới mức khách sáo, không phù hợp với đối tượng mà nó hướng tới là quần chúng nhân dân. Còn với cách hiểu thứ hai, câu nói này thể hiện sự hạ thấp vị thế của chủ thể phát ngôn. Cả hai trường hợp đều không thể được Bác sử dụng.
- Cứ: "Đồng bào thương tôi, cứ làm theo lời tôi nói". "Cứ": "Từ biểu thị ý nhấn mạnh thêm về sắc thái khẳng định, không kể khách quan như thế nào". Câu này thể hiện lòng tin tới mức tuyệt đối hoá của chủ thể phát ngôn vào sự đúng đắn trong tư tưởng của mình. Điều này cũng có nghĩa: người nói đã phần nào chủ quan.
- Nhớ: "Đồng bào thương tôi, nhớ làm theo lời tôi nói". Từ "nhớ" mang sắc thái dặn dò, nhắc nhở. Nghe câu nói này, công chúng khó tránh khỏi có ý nghĩ: người nói lo rằng người nghe có thể quên vì chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của vấn đề mà anh ta vừa nêu. Và như vậy, nó không phù hợp với quan hệ đầy tin tưởng giữa Bác và quần chúng nhân dân.
- Mong: "Đồng bào thương tôi, mong làm theo lời tôi nói". "Mong" trong trường hợp này biểu thị ý nghĩa: "có nguyện vọng rằng, ước muốn rằng". Do vậy, câu nói trên không thể hiện tính chủ động của chủ thể phát ngôn cũng như niềm tin của người đó vào đối tượng tiếp nhận là "đồng bào".
- Cùng: "Đồng bào thương tôi, cùng làm theo lời tôi nói". Câu nói này có thể hiểu là lời khuyên nhủ mà cũng có thể hiểu là lời kêu gọi nhân dân thống nhất hành động. Trong cả hai trường hợp nó đều chưa thể hiện được niềm tin của chủ thể phát ngôn; mặt khác, còn hàm ý: đồng bào hình như vẫn chưa sẵn sàng hành động hoặc thiếu sự đoàn kết, nhất trí.
- Cố gắng: "Đồng bào thương tôi, cố gắng làm theo lời tôi nói". Từ "cố gắng" làm cho câu văn mang giọng điệu của một lời động viên, an ủi. Trong trường hợp này, chủ thể phát ngôn có vẻ chưa đánh giá đúng mức khả năng của quần chúng nhân dân và cũng chưa bộc lộ được niềm tin của mình vào họ.
- Sẽ: "Đồng bào thương tôi, sẽ làm theo lời tôi nói". Từ "sẽ" dùng để biểu thị thời tương lai, cho nên nó đã giới hạn phạm vi thời gian của hành động "làm theo lời tôi nói" (đồng bào từ trước tới nay luôn làm theo lời Bác, chứ đâu chỉ có ở một thời điểm nào đó). Mặt khác, nó còn thể hiện tính chắc chắn thái quá của sự việc, mà Bác Hồ hiểu rất rõ nên không dùng "sẽ".
- Vậy: "Đồng bào thương tôi, vậy làm theo lời tôi nói". "Vậy" trong bối cảnh này "dùng để chỉ điều vừa được nói đến là xuất phát điểm cho điều sắp được nêu ra". Như thế, hai vế trong câu nói của Bác thể hiện quan hệ nhân quả ("Đồng bào thương tôi" là nguyên nhân, "vậy làm theo lời tôi nói" là kết quả). Song, vế thứ hai "vậy làm theo lời tôi nói" là cấu trúc cầu khiến, nói cụ thể hơn, nó có dạng thức: "vậy, đồng bào hãy làm theo lời tôi nói". Điều này làm cho phát ngôn của Bác mang sắc thái cứng rắn của một mệnh lệnh.
- Ắt: "Đồng bào thương tôi, ắt làm theo lời tôi nói". "Ắt": "Từ biểu thị ý khẳng định điều cho là chắc chắn sẽ xảy ra với điều kiện đã nói đến". Do vậy, phát ngôn của Bác trở thành câu điều kiện. Thêm vào đó, từ "ắt" còn biểu thị tính tất yếu của hành động "làm theo lời tôi nói", tức là thể hiện sự tự tin tuyệt đích của người nói. Những sắc thái này, như chúng tôi đã luận giải trong trường hợp dùng "thì" và "cứ", Bác hoàn toàn không muốn đồng bào phải cảm nhận khi nghe câu nói của Người.
Vậy, ở chỗ dấu ba chấm nói trên, Bác Hồ đã dùng từ gì?
Câu trả lời thật bất ngờ: từ "chắc". "Đồng bào thương tôi, chắc làm theo lời tôi nói". Một câu nói tưởng chừng hết sức đơn giản nhưng là kết quả của cả một sự chắt lọc kỹ lưỡng.
Quan hệ giữa Bác và quần chúng nhân dân là quan hệ giữa những người ruột thịt (từ "đồng bào" khẳng định điều này). Bác luôn tin tưởng vào sức mạnh vô tận của nhân dân: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân". Thêm vào đó, Bác là người khiêm nhường nên không bao giờ tuyệt đối hoá lòng tin của mình tới mức chủ quan.
Tất cả những yếu tố trên thúc đẩy Bác lựa chọn từ "chắc". "Chắc" mới chỉ là "có nhiều khả năng, rất có thể". Như vậy, về mặt ý nghĩa, "chắc" thể hiện niềm tin lớn nhưng vẫn lường trước những tình huống không mong đợi, dù với xác suất rất nhỏ, có thể xảy ra. Mặt khác, từ "chắc" còn làm cho cấu trúc câu nói của Bác không mang sắc thái điều kiện, cũng không biểu thị chức năng cầu khiến. Những lý do trên đã giúp câu nói của Bác thật mềm mại, nhẹ nhàng, ân cần, gần gũi, phù hợp với phong thái vốn có của Bác mà vẫn đầy hiệu lực: Ai có thể không nghe và làm theo ý nguyện chân tình, tràn ngập niềm tin nhưng vẫn đầy khiêm tốn của một người vẫn đối xử với ta với tư cách của "người cha, người bác, người anh"?
Thế mới hay, Bác là người cẩn trọng trong sử dụng câu chữ tới mức nào.
Từ ví dụ cụ thể này, ta có thể rút ra 3 bài học sau:
Thứ nhất, trước khi nói và viết, cần xác định rõ các nhân tố tham gia hoạt động giao tiếp (những người tham gia giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp, cách thức giao tiếp, v.v.).
Thứ hai, với mỗi ý tưởng, hãy cố gắng tìm ra nhiều cách diễn đạt khác nhau. Sau đó, cân nhắc để lựa chọn cách diễn đạt phù hợp và hiệu quả nhất.
Thứ ba, những người càng có vị trí quan trọng trong xã hội (nhất là các nhà quản lý, các nhà truyền thông), càng phải nắm chắc và thường xuyên trau dồi các kiến thức về sử dụng ngôn ngữ.
Tin cùng chuyên mục
21/5/2025 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Chúc mừng liên Đội trường THCS Tô Ký đã xuất sắc đạt giải Khuyến khích trong hội thi "Chúng em kể chuyện Bác Hồ" năm học 2024 - 2025. 14/5/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước giáo dục, bồi dưỡng làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin ngày càng thấm sâu vào đời sống tinh thần của quân đội. Đồng thời, Người rất quan tâm đến việc chọn lựa, bồi dưỡng những “phần tử tiên tiến” trong các tầng lớp nhân dân lao động có tinh thần yêu nước, có giác ngộ dân tộc và giác ngộ giai cấp sâu sắc để tiếp tục bồi dưỡng, rèn luyện họ trở thành những quân nhân cách mạng, những cán bộ vừa “hồng”, vừa “chuyên”, những đảng viên trung kiên của Đảng.
Cuốn sách “Quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về đức - tài trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội” được chia thành bốn phần:
Phần thứ nhất: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức, tài của người cán bộ cách mạng.
Phần thứ hai: Nâng cao đạo đức, phát triển tài năng của đội ngũ cán bộ quân đội trong tình hình hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phần thứ ba: Trích văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức cách mạng.
Phần thứ tư: Hồ Chí Minh bàn về đạo đức và rèn luyện đạo đức cách mạng.
Sách hiện đang được lưu trữ và phục vụ tại Tổng kho, Thư viện Quốc gia Việt Nam, 31 Tràng Thi, Hà Nội.
Thông tin về sách tại CSDL của TVQG: http://opac.nlv.gov.vn/pages/opac/wpid-detailbib-id-318640.html 14/5/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Cuốn sách “Nguyễn Ái Quốc - sự sáng tạo trong thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, giá trị lịch sử và hiện thực” được xuất bản để làm sáng tỏ thêm công lao to lớn của Người đối với cách mạng Việt Nam và góp phần làm rõ hơn những căn cứ khoa học và thực tiễn, phê phán những luận điệu sai trái, phản động, cố tình xuyên tạc lịch sử, phủ nhận con đường cách mạng mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn; Trên cơ sở đó củng cố thêm niềm tin, khẳng định chắc chắn hơn ý nghĩa thực tiễn về vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; Góp phần thể hiện việc tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong mọi tầng lớp nhân dân theo quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng.
Tác phẩm được chia thành hai chương:
Chương 1: Nguyễn Ái Quốc sáng tạo trong chuẩn bị các tiền đề cho Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
Chương 2: Nguyễn Ái Quốc sáng tạo trong hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam - giá trị lịch sử và hiện thực.
Sách hiện đang được lưu trữ và phục vụ tại Tổng kho, Thư viện Quốc gia Việt Nam, 31 Tràng Thi, Hà Nội.
Thông tin về sách tại CSDL của TVQG: http://opac.nlv.gov.vn/pages/opac/wpid-detailbib-id-317568.html 14/5/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Cuốn sách “Đường Bác Hồ chúng ta đi: Hồi ký” phản ánh sinh động về hoạt động cách mạng của Bác Hồ và những người nguyện lòng đi theo sự nghiệp của Bác nhằm giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ, giành lại độc lập, tự do cho tổ quốc, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Là một tập hồi ký ghi những hoạt động cách mạng, những gắn bó tình cảm của đồng chí Hoàng Quốc Việt với Bác Hồ
Tác phẩm được chia thành 5 chương:
Chương I: Nguyễn Ái Quốc tim tôi
Chương II: Gặp Bác tại núi non Cao Bằng
Chương III: Gặp Bác ở Bách Sắc
Chương IV: Chuyến đi vào Nam theo chỉ thị của Bác
Chương V: Theo Bác trên những nẻo đường kháng chiến.
Sách hiện đang được lưu trữ và phục vụ tại Tổng kho, Thư viện Quốc gia Việt Nam, 31 Tràng Thi, Hà Nội.
Thông tin về sách tại CSDL của TVQG: http://opac.nlv.gov.vn/pages/opac/wpid-detailbib-id-357362.html 14/5/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Tác phẩm “Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam: Sách chuyên khảo” được tác giả sưu tầm, hệ thống hóa sử liệu liên quan đến quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc. Phân tích vai trò quyết định, sự chủ động của Nguyễn Ái Quốc trong sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; Phân tích một cách toàn diện quá trình Nguyễn Ái Quốc xác lập con đường giải phóng dân tộc, xây dựng lý luận cách mạng, chuẩn bị về tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đồng thời cuốn sách cũng phân tích sáng tỏ hơn nhận định: Chính lý luận giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc trong những năm 20 của thế kỷ XX là yếu tố quyết định nhất hình thành nên Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930, làm rõ những nhân tố cơ bản góp phần để Nguyễn Ái Quốc xác định con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam; Tính đúng đắn của con đường đó; Góp phần bác bỏ quan điểm sai trái về vai trò của Người trong quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; Những cống hiến sáng tạo của Người trong quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cuốn sách được chia thành 4 chương:
Chương 1: Nguyễn Ái Quốc chủ động tìm đường giải phóng dân tộc Việt Nam
Chương 2: Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam
Chương 3: Nguyễn Ái Quốc thống nhất các tổ chức Cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam
Chương 4: Nhận xét về quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc.
Sách hiện đang được lưu trữ và phục vụ tại Tổng kho, Thư viện Quốc gia Việt Nam, 31 Tràng Thi, Hà Nội.
Thông tin về sách tại CSDL của TVQG: http://opac.nlv.gov.vn/pages/opac/wpid-detailbib-id-647623.html