Không gian văn hóa Hồ Chí Minh
0 0 0 2 3 3 1 2 9 3
Đang online:
8
Hôm nay :
506
Hôm qua :
1,975
Tuần này :
5,138
Tuần trước :
6,389
Tháng này :
8,562
Tháng trước:
33,492
21/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Ngày 23-9-1945, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Xứ ủy, Ủy ban nhân dân và Ủy ban kháng chiến Nam Bộ đã kịp thời phát động quân và dân Nam Bộ mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Chuyên mục Ngày này năm xưa số ra ngày 23-9-2022 cũng được Báo Quân đội nhân dân Điện tử thực hiện dưới hình thức các tác phẩm phát thanh podcast và video clip trên Chuyên trang Media Báo Quân đội nhân dân Điện tử, trân trọng mời bạn đọc xem thêm.
Một số sự kiện trong nước và quốc tế ngày 23-9
Sự kiện trong nước
- Ngày 23-9-1945: Ngày Nam Bộ kháng chiến - mở đầu cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược.
Chỉ sau 21 ngày nước nhà được độc lập, thực dân Pháp dã tâm xâm chiếm nước ta một lần nữa. Ngày 23-9-1945, chúng nổ súng tấn công Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, quân và dân Nam Bộ đã nhất tề đứng lên, quyết chiến với thực dân xâm lược.
Sự kiện Ngày Nam Bộ kháng chiến là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, ý chí bảo vệ độc lập, tự do; là dấu son lịch sử thể hiện tinh thần quật cường, hào khí của quân và dân Nam bộ; xứng đáng với danh hiệu vẻ vang “Thành đồng Tổ quốc” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao tặng.
- Ngày 23-9-1945: Ngày truyền thống Lực lượng vũ trang tỉnh Đắk Lắk.
- Ngày 23-9-1955: Ngày truyền thống Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội.
- Ngày 23-9-1975: Việt Nam và Cộng hòa Liên bang Đức chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao.
- Ngày 23-9-1958: Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn của Trung ương Đảng, Chính phủ đi xe lửa từ Thủ đô Hà Nội lên thăm tỉnh Lào Cai. Người đến thăm công trường cầu Làng Giàng, mỏ Apatit, công trường Nhà máy điện Lào Cai và gặp gỡ thân mật, nói chuyện với cán bộ chủ chốt tỉnh, đại biểu nhân dân các dân tộc và chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân địa phương.
- Ngày 23-9-2009: Việt Nam được bầu vào Ủy ban điều phối của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO).
- Ngày 23-9-2019: Bộ Chính trị ban hành Quy định số 205-QĐ/TW về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền.
- Ngày 23-9-2021: Hội nghị lần thứ 8 của Ủy ban Đối ngoại Quốc hội ba nước Campuchia-Lào-Việt Nam về Khu vực Tam giác phát triển với chủ đề: "Tăng cường quan hệ đối tác nghị viện vì sự phát triển bền vững và ứng phó với khủng hoảng Covid-19 trong Khu vực Tam giác phát triển Campuchia-Lào-Việt Nam" được Quốc hội Campuchia tổ chức theo hình thức trực tuyến. Hội nghị nhằm hiện thực hóa các lợi ích chung cũng như ứng phó với khủng hoảng Covid-19 vì sự thịnh vượng và đoàn kết của nhân dân khu vực Tam giác phát triển để thúc đẩy quan hệ hữu nghị truyền thống và đoàn kết lâu dài giữa ba nước.
Sự kiện quốc tế
- Ngày 23-9-2018: Nhật Bản phóng thành công tàu vũ trụ Kounotori 7 chở hàng tiếp tế cho các nhà du hành đang sống và làm việc trên lên Trạm vũ trụ quốc tế (ISS).
- Ngày 23-9-2018: Ấn Độ công bố chương trình chăm sóc sức khỏe lớn nhất thế giới. Chương trình có tên gọi AB-PMJAY, được xem là "chương trình chăm sóc sức khỏe do Chính phủ cấp vốn lớn nhất thế giới", hướng tới hơn 500 triệu người thụ hưởng. Cụ thể, chương trình này trang trải tới 500.000 rupee (khoảng 6.900 USD) cho mỗi gia đình/năm khi phải nằm viện lần hai và lần ba thông qua một mạng lưới các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe có trong danh sách (EHCP). (Theo TTXVN)
- Ngày 23-9-2019: Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu diễn ra tại thành phố New York, Mỹ. Hội nghị nhằm mục đích tìm giải pháp giảm lượng khí thải nhà kính và hạn chế nhiệt độ trái đất ấm lên ở mức dưới 2 độ C hoặc lý tưởng nhất là 1,5 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp. 21/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Ngày 11/6 vừa qua, ông Tạ Quang Chiến, người cận vệ cuối cùng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên trong nhóm 8 cận vệ “Trường/ Kỳ /Kháng /Chiến /Nhất/ Định /Thắng/ Lợi” qua đời (hưởng thọ 98 tuổi), khép lại một thế hệ cận vệ gồm 8 người từng mang trong mình nhiệm vụ bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Giai thoại về 8 con người được “khai sinh” lại đến nay vẫn được nhắc lại nhiều, phần vì sự đặc biệt từ ý nghĩa của 8 cái tên ghép lại, phần vì sự cao cả và trách nhiệm lớn lao của họ khi được tin tưởng giao nhiệm vụ ở bên cạnh Bác Hồ.
Hồi ức từ những tháng ngày đầy thăng trầm của đất nước
Vào những ngày gần cuối cuộc đời, ông Nguyễn Hữu Văn, người được Bác Hồ đặt tên là Chiến vẫn còn nhớ rất sâu đậm về ký ức một thời đất nước gian nguy. Thời khắc được là một trong số những người đi theo Bác lên Chiến khu Việt Bắc, ông cảm thấy đã mang trong mình trách nhiệm to lớn, dẫu có khó khăn gian khổ, được làm việc cùng Bác Hồ là một trong những điều may mắn và hạnh phúc.
Vào tháng 12/1946, sau khi ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Bác Hồ cùng Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành… đã phải rời Hà Nội để lên Chiến khu Việt Bắc. Những ngày đầu kháng chiến, theo chỉ thị của Trung ương, Tổ Cận vệ bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh hành quân trở lại Chiến khu Việt Bắc. Đi với Bác là bộ phận gọn nhẹ có 8 cận vệ gồm các đồng chí: Võ Chương, Vũ Long Chuẩn, Nguyễn Văn Lý, Văn Lâm, Ngọc Hà, Nguyễn Quang Chí, Trần Đình và Nguyễn Hữu Văn.
Nói là cận vệ của Bác nhưng thực tế Tổ Cận vệ làm tất cả các công việc Bác giao như cảnh vệ, công tác văn phòng, liên lạc, hậu cần… Phương châm đặt ra là một người thạo nhiều việc, song bảo vệ Bác vẫn là nhiệm vụ quan trọng nhất.
Đến khoảng thời gian đầu tháng 3 năm 1947, Bác Hồ và mọi người đến được xã Cổ Tiểt, Tam Nông, Phú Thọ, tạm thời dừng chân tại đây. Sáng ngày 06/3/1947, lúc ấy, Bác gọi tám người anh em đi theo Bác lại bàn bạc. Bác rất hiểu tình hình và hoàn cảnh, dẫu khó khăn nhưng Bác vẫn mong mỏi mọi người phải hết sức cố gắng. Sau khi căn dặn công chuyện, phân công việc làm và nhắc nhở mọi người phải giữ thông tin tuyệt mật, lúc này Bác mới đưa ra ý tưởng đặt tên cho tám anh em.
Bác có nói, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta mới bắt đầu và còn lâu dài, gian khổ, nhưng nhất định sẽ thắng lợi. Từ hôm nay trở đi, để tỏ lòng quyết tâm kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và cũng là để giữ bí mật, Bác đặt tên cho các chú là Trường - Kỳ - Kháng - Chiến - Nhất - Định - Thắng - Lợi. Bác chỉ vào từng người đang quây quần bên Bác, đặt tên cho từng đồng chí theo thứ tự vòng tròn lúc đó.
“Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” - như một lời khẳng định, quyết tâm hết sức vì thời cuộc từ Bác, cũng là một cách trấn an tinh thần, gây dựng một lòng vững chãi từ tám người chiến sĩ tin tưởng đi theo phục vụ Bác mà không hề nao núng. Sau này, bất kỳ vị trí của người nào thay đổi người tiếp theo vẫn tiếp tục kế thừa cái tên mà Bác đã đặt cho. Mọi người dường như được khai sinh lần nữa, và lần này mang trong mình một lòng tự hào vì được giao phó nhiệm vụ góp sức cùng người cha của dân tốc, đồng hành trên quãng đường tiến tới giải phóng non sông.
Những người đi bên Bác đến thắng lợi dân tộc
Mỗi khi có một trong tám người chuyển công tác, đều có người khác thay, vì vậy có 3 người kế tiếp nhau tên là Trường, 2 người tên là Nhất và 2 người tên là Thắng.
Ba người kế tiếp nhau tên Trường: Người đầu tiên (Võ Trường) tên thật là Võ Chương, gốc Huế. Trước Cách mạng tháng Tám dạy học tại Thanh Hóa, sau chuyển về Hà Nội vừa dạy học vừa hoạt động cách mạng. Sau đó, được tuyển vào Đội Thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu. Tháng 10.1945 được đồng chí Nguyễn Lương Bằng bổ sung vào đội cận vệ của Bác. Khi lên tới Chiến khu Việt Bắc, ông chuyển sang làm công tác khác và lâm bệnh mất năm 1949.
Người thứ hai mang tên Trường là ông Hoàng Văn Phức, tức Văn Lâm. Là người dân tộc Tày, quê ở Cao Bằng. Trước năm 1945, là tự vệ của căn cứ địa cách mạng Cao Bằng, từ tháng 5.1945 được giao nhiệm vụ bảo vệ Bác với tên Nhất. Sau khi ông Võ Chương nhận nhiệm vụ khác, ông Hoàng Văn Phức thay thế ông Trường và được gọi là Hồ Văn Trường. Về sau ông được giao nhiệm vụ coi giữ kho tài sản của Ngân hàng Nhà nước và từng là cán bộ Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, ông mất năm 1994.
Người thứ ba mang tên Trường tên thật là Phạm Văn Nền, quê ở Hà Nội. Về sau làm lái xe cho Bác cho đến khi Bác mất. Ông Nền mất năm 1996.
Người mang tên Kỳ (Vũ Kỳ), tên thật là Vũ Long Chuẩn, tức Nguyễn Cần, quê ở Hà Đông, tham gia Cách mạng từ năm 1941, bị địch bắt giam ở nhà tù Hoả Lò, Hà Nội; năm 1945 vượt ngục, tham gia Tổng khởi nghĩa Tháng 8/1945 tại Hà Nội. Ông làm Thư ký giúp việc Bác Hồ từ 8/1945 đến năm 1949 và từ năm 1957 đến khi Bác mất. Trước khi nghỉ hưu, ông là Đại biểu Quốc hội khóa VIII, Giám đốc Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ông mất năm 2005.
Người mang tên Kháng (Hoàng Hữu Kháng), quê ở Thái Bình, tên thật là Nguyễn Văn Cao, tức Lý. Ông hoạt động Cách mạng trước năm 1945, từng bị địch bắt giam tại nhà tù Sơn La từ năm 1941, sau đó chuyển về nhà tù Chợ Chu, Thái Nguyên. Ông vượt ngục và tham gia xây dựng căn cứ địa ở Chiến khu Việt Bắc, làm Hiệu phó Trường quân chính kháng Nhật. Sau này, ông là Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Cảnh vệ, Bộ Công an. Ông mất năm 1994.
Người thứ tư tên Chiến (Tạ Quang Chiến), tên thật là Nguyễn Hữu Văn, tham gia cách mạng năm 1943, sau Cách mạng Tháng 8/1945 được phục vụ Bác Hồ, đến năm 1957 chuyển công tác khác. Ông từng là Bí thư Trung ương Đoàn, Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục Thể thao, Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Y tế Xã hội của Quốc hội khóa VII, đã qua đời vì tuổi già tháng 6/2022, là người cận vệ cuối cùng của Bác ra đi.
Hai người mang tên Nhất gồm người đầu tiên (Hồ Văn Nhất) dân tộc Tày, quê ở Cao Bằng, tên thật là Hoàng Văn Phúc, bí danh Văn Lâm, bảo vệ Bác từ tháng 5/1945 khi Bác về Tân Trào, Tuyên Quang. Sau khi ông Võ Trường chuyển sang làm công tác khác, ông Hồ Văn Nhất thay thế ông Trường và được gọi là Hồ Văn Trường. Như vậy ông vừa có tên là Nhất vừa có tên là Trường. Sau này ông là cán bộ Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, mất năm 1994.
Người thứ hai mang tên Nhất thay ông Hồ Văn Nhất là ông Long Văn Nhất, bí danh là Tiên Phong, nguyên là cận vệ của đồng chí Võ Nguyên Giáp được điều sang phục vụ Bác Hồ. Ông mất năm 1967.
Người thứ sáu tên Định (Võ Viết Định), tên thật là Chu Phương Vương, tức Ngọc Hà, là chiến sĩ Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, quê ở Cao Bằng, bảo vệ Bác từ tháng 8/1945. Tới tháng 5/1952 chuyển công tác. Sau này, có thời gian ông là Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ nhiệm Công ty Xây lắp cơ khí thuộc Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên. Ông đã mất.
Hai người được mang tên Thắng. Người đầu tiên là ông Nguyễn Quang Chí, tức Nguyễn Văn Huy. Bảy tháng sau ngày được Bác Hồ đặt tên, ông chuyển công tác khác. Người thứ hai mang tên Thắng (Triệu Hồng Thắng) tên thật là Triệu Văn Cắt, tức Triệu Tiến Thọ, dân tộc Dao, quê ở Thái Nguyên. Sau năm 1954, ông Triệu Hồng Thắng là Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Khu tự trị Việt Bắc. Ông mất năm 1975.
Người thứ tám được Bác Hồ đặt tên Lợi (Trần Lợi), tên thật là Trần Đình, dân tộc Nùng, quê ở Cao Bằng, nguyên là chiến sĩ Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, bảo vệ Bác từ năm 1945 đến năm 1950 thì chuyển về địa phương. Ông đã mất trong kháng chiến chống Pháp.
Họ đều là những người đã đi vào lịch sử của dân tộc, ai cũng đã đặt một vết son đỏ vào bản hùng ca chiến thắng của dân tộc. Được Bác tín nhiệm và đặt tên, mỗi người đều rất tự hào vì chính họ như là minh chứng của một khẩu hiệu sống, hiển hiện và nhiệt huyết. Tám người “cận vệ” được Bác Hồ khai sinh nay đều đã rời cõi tạm, nhưng giai thoại về những anh hùng ấy hẳn vẫn còn mãi, vẫn được khắc ghi theo dòng lịch sử non sông./. 20/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh (Ngày 10 tháng 12 năm 1961) !
———————
“Đảng viên, đoàn viên thanh niên lao động phải là những người xung phong gương mẫu trong mọi mặt sản xuất, công tác, học tập, đoàn kết”.
Lời căn dặn trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói chuyện với cán bộ và xã viên hợp tác xã Vĩnh Thành (Nghệ An)”, Người nói ngày 10 tháng 12 năm 1961.
Đây là thời kỳ miền Bắc nước ta thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (1961-1965) nhằm tạo ra cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề đó, Bác đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, công tác. Lời dạy của Bác có ý nghĩa giáo dục sâu sắc, giúp cho mỗi đảng viên, đoàn viên dễ nhớ, dễ hiểu, dễ làm. Thực hiện lời dạy của Bác, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cũng như trong hòa bình xây dựng đất nước, nhiều đảng viên, đoàn viên đã phát huy tốt vai trò tiên phong, gương mẫu trong lao động sản xuất, chiến đấu và công tác; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám xông pha vào việc khó, dám đi đầu đến nơi gian khổ, dám lao vào những nơi hiểm nguy và không bị sa ngã trước mọi cám dỗ vật chất tầm thường… Qua đó, góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và giành được những thành tựu to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, trước bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực và trong nước có nhiều thuận lợi, thời cơ và không ít thách thức, nguy cơ. Lời dạy của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, định hướng nhận thức, tư tưởng và hành động của mỗi đảng viên, đoàn viên thanh niên trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Để thực hiện tốt lời dạy của Bác đòi hỏi mỗi đảng viên, đoàn viên phải phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; khắc phục kịp thời mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với hệ thống chính trị, với toàn thể xã hội, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
___________
Từ ngày 10-12-1942, Hồ Chí Minh bắt đầu những ngày bị giam cầm tại Liễu Châu (Trung Quốc). Trong thời gian này, nhiều bài thơ được sáng tác, trong đó có bài “Tứ cá nguyệt liễu” (Bốn tháng rồi) nhìn lại một chặng đường đầy gian khó, được Nam Trân dịch:
“Một ngày tù, nghìn thu ở ngoài”
Lời nói người xưa đâu có sai;
Sống khác loài người vừa bốn tháng,
Tiều tụy còn hơn mười năm trời.
Bởi vì:
Bốn tháng cơm không no,
Bốn tháng đêm thiếu ngủ,
Bốn tháng áo không thay,
Bốn tháng không giặt giũ.
Cho nên:
Răng rụng mất một chiếc,
Tóc bạc thêm mấy phần,
Gầy đen như quỷ đói,
Ghẻ lở mọc đầy thân.
May mà:
Kiên trì và nhẫn nại,
Không chịu lùi một phân,
Vật chất tuy đau khổ,
Không nao núng tinh thần”.
Ngày 10-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp Hội đồng Chính phủ bàn về Tổng tuyển cử, đưa ra đề nghị tập trung bàn về các nội dung: Làm thế nào để các ủy ban làng tổ chức cuộc bầu cử cho đúng? Làm thế nào để các cử tri biết cách bỏ phiếu? Làm thế nào để cử tri đi bỏ phiếu thật đông?.
Ngày 10-12-1951, đáp lại thư của các chiến sĩ báo công thắng trận, Bác viết “Thư trả lời chiến sỹ” động viên: “Luôn luôn giữ vững tinh thần khắc khổ, tinh thần quyết chiến quyết thắng. Luôn luôn giúp đỡ nhân dân, đi sát với nhân dân. Chớ vì thắng mà kiêu, chớ chủ quan khinh địch. Với lính Pháp và ngụy binh ta bắt được, đối đãi họ tử tế và thuyết phục họ. Mong các cháu cố gắng để thắng nhiều trận nữa”.
Cùng ngày, Bác viết “Thư gửi các họa sĩ nhân dịp Triển lãm hội họa 1951” nêu rõ: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sỹ trên mặt trận ấy. Cũng như các chiến sỹ khác, chiến sỹ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh… Nghệ thuật cũng cần tiến bộ mạnh, muốn tiến bộ mạnh, tiến bộ mãi, thì anh chị em nghệ thuật cần phải dùng phương pháp tự phê bình và phê bình. Chắc có người nghĩ: Cụ Hồ đưa nghệ thuật vào chính trị. Đúng lắm. Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị. Tiền đồ dân tộc ta rất vẻ vang, tiền đồ nghệ thuật ta rất rộng rãi. Chúc anh chị em mạnh khỏe, tiến bộ, thành công”.
Ngày 10-12-1954, dự họp Bộ Chính trị ngay sau ngày Thủ đô giải phóng, bàn về khôi phục kinh tế, Bác phát biểu: “… Mấy năm kháng chiến, ta chỉ có nông thôn, bây giờ mới có thành thị… Nếu muốn công nghiệp hóa gấp thì là chủ quan. Cho nên trong kế hoạch phải tăng tiến nông nghiệp. Làm trái với Liên Xô, đó cũng là mácxít… Ta cho nông nghiệp là quan trọng và ưu tiên, rồi tiến đến thủ công nghiệp, sau mới đến công nghiệp nặng”.
Ngày 10-12-1963, dự họp Bộ Chính trị bàn về tình hình mới sau khi ở miền Nam, Ngô Đình Diệm bị Mỹ lật đổ, Bác nhấn mạnh: “Nói thuận lợi, nhưng đồng thời phải nói rõ khó khăn. Nên thêm về công tác dân vận… Nên nêu khẩu hiệu: “Người Việt không đánh người Việt”. Làm sao động viên tiêu diệt cho được nhiều Mỹ: Mỹ rất sợ chết. Ta vừa tiêu diệt vừa tuyên truyền… Đồng bào miền Nam rất anh hùng, cán bộ, đảng viên rất anh dũng. Phải đoàn kết, quyết tâm, tin tưởng, dù Mỹ có tăng gấp 10 lần ta cũng thắng”. 20/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh (Ngày 22 tháng 12 năm 1964)!
“Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Đây là lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Quân đội nhân dân Việt Nam nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập 22 tháng 12 năm 1964 và đó cũng chính là truyền thống vẻ vang của Quân đội ta, là chuẩn mực của “Bộ đội Cụ Hồ”.
Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, luôn vững vàng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, hy sinh phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xứng đáng với vai trò là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân trở thành phẩm chất hàng đầu của người cách mạng và mỗi quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Phẩm chất đó là cơ sở vững chắc của sức mạnh đoàn kết, thống nhất về tư tưởng và hành động; là động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn nêu cao ý chí quyết tâm, huy động mọi sức lực và trí tuệ, phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất mọi nhiệm vụ được giao.
Trung với Đảng, trung với nước của quân đội ta trước hết thể hiện ở sự tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, là trung thành với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước.
Hiếu với dân là phải gắn bó với nhân dân, gần gũi nhân dân, dựa vào dân, nắm vững dân tình, dân tâm, dân trí, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, để dân tin, dân yêu, dân giúp đỡ, bao bọc chở che.
Trong suốt hơn 77 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, cùng với toàn dân tộc kinh qua các cuộc trường chinh kháng chiến, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn kiên cường, bất khuất dù phải đối mặt với đế quốc, thực dân hung bạo. Với niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, với tinh thần tự tôn dân tộc, quân đội đã luôn giữ vững lời thề “Cảm tử để Tổ quốc quyết sinh”. Tinh thần bất khuất, kiên trung, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân đã được lớp lớp cán bộ, chiến sĩ kế thừa và phát huy làm cho bản chất và truyền thống cách mạng của quân đội ta càng thêm sâu sắc, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng tỏa sáng. Đó là cội nguồn tạo nên sức mạnh thần kỳ; là sức mạnh giúp quân đội ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tiến lên chính quy, hiện đại đủ sức hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần hoàn thành thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
____________
Ngày 22-12-1919, báo cáo theo dõi của mật thám Pháp cho biết Nguyễn Ái Quốc dự cuộc mít tinh do Công đoàn CTG tổ chức và phân phát tại đây một số bản in “Yêu sách của Nhân dân An Nam”.
Ngày 22-12-1924, từ Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc viết thư tới Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản thông báo việc đã tập hợp một số đồng chí từ Đông Dương sang và yêu cầu chỉ thị cho các đồng chí người Nga đang công tác ở Quảng Châu hỗ trợ.
Ngày 22-12-1945, Báo Cứu quốc đăng đoạn thư “Gửi các chiến sỹ miền Nam”, viết: “Chính phủ Dân chủ Cộng hòa rất khen ngợi chiến sỹ ở các mặt trận miền Nam, đặc biệt là các chiến sỹ ở Nha Trang và ở Trà Vinh, đã làm gương anh dũng cho toàn quốc. Tổ quốc biết ơn các bạn, toàn thể đồng bào noi gương các bạn” và ký tên “Hồ Chí Minh”.
Ngày 22-12-1949, gửi thư cho bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, Bác xác định: “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đấu, yêu nước, yêu dân, cho nên hy sinh kham khổ. Quân đội ta luôn luôn giữ gìn và phát triển truyền thống anh dũng của Quân Giải phóng Việt Nam và đạo đức cách mạng gồm trong 10 điều kỷ luật”.
Tháng 12-1953, trong thư gửi “Cán bộ và chiến sỹ Mặt trận Điện Biên Phủ”, Bác căn dặn: “Phải chiến đấu anh dũng hơn, chịu đựng gian khổ hơn, phải giữ vững quyết tâm trong mọi hoàn cảnh: Quyết tâm tiêu diệt địch; quyết tâm giữ vững chính sách; quyết tâm tranh nhiều thắng lợi…”. Với “Thư gửi lớp chỉnh Đảng Liên khu V”, Bác nhấn mạnh: “Mục đích chỉnh Đảng là để dùi mài cán bộ và đảng viên thành những chiến sỹ xứng đáng là người đày tớ của nhân dân… Phải thật sự thi hành dân chủ trong Đảng và trong quần chúng…”.
Ngày 22-12-1954, trong bài viết “Mừng ngày sinh nhật Quân đội nhân dân” đăng trên Báo Nhân Dân, với bút danh “C.B”, bài báo ôn lại: “10 năm trước đây, quân đội Nhật Pháp tung hoành, nhân dân Việt Nam khốn khổ. Trong lúc đó ở Lạng Sơn, Cao Bằng, vài nhóm du kích bắt đầu tổ chức. Tuy cái gì cũng thiếu nhưng dũng cảm có thừa. Hồi đó có người nói với một giọng thương hại: “Châu chấu sao đấu nổi ông voi!”. Bác trả lời một cách đanh thép: “Bây giờ chúng ta mới có vài chục người du kích, chắc chắn sau này chúng ta sẽ có hàng chục vạn hùng binh”. Rất tin tưởng, đồng bào Cao – Lạng trả lời bằng cách khuyên con em tham gia các đội du kích và hết lòng ủng hộ các chiến sỹ như cha mẹ săn sóc đàn con cưng…”, và bài báo kết luận bằng câu thơ:
“Quân ta công trạng lớn lao,
Mười năm lịch sử biết bao nhiêu tình!”.
Ngày 22-12-1958, tại lễ phong quân hàm lần thứ hai trong lịch sử Quân đội nhân dân, Bác căn dặn: “Dù ở cương vị nào, các đồng chí đều phải luôn luôn gương mẫu, luôn luôn xứng đáng là người đày tớ trung thành tận tụy của nhân dân”.
Ngày 22-12-1959, tại lễ chiêu đãi nhân Ngày thành lập Quân đội, Bác biểu dương: “Quân đội chúng ta anh hùng trong kháng chiến mà cũng anh hùng trong hòa bình”.
Ngày 22-12-1968, lần cuối cùng Bác đến Nghĩa trang Liệt sỹ Hà Nội thắp hương tưởng niệm nhân Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam lần thứ 24.
———— 20/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Năm 1947, giữa lúc phải tập trung chuẩn bị Chiến dịch Thu Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc. Cuốn sách có 6 phần: Phê bình và sửa chữa; Mấy điều kinh nghiệm; Tư cách và đạo đức cách mạng; Vấn đề cán bộ; Cách lãnh đạo; Chống thói ba hoa. Cuốn sách đã chỉ dẫn, động viên sức mạnh của Đảng, của dân tộc, của quân, dân ta góp phần đưa cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện giành thắng lợi vẻ vang. Ngày nay, thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuốn “Sửa đổi lối làm việc” càng trở nên cần thiết.
Có thể nói, đây là cuốn sách giáo khoa có nội dung sâu sắc, toàn diện về giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ cách mạng của Đảng, của Nhà nước ta. Ban Biên tập Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh xin giới thiệu nội dung của tác phẩm.
I. PHÊ BÌNH VÀ SỬA CHỮA
1. Cán bộ và đảng viên ta, vì bận việc hành chính hoặc quân sự, mà xao nhãng việc học tập. Đó là một khuyết điểm rất to. Khác nào người thầy thuốc chỉ đi chữa người khác, mà bệnh nặng trong mình thì quên chữa. Từ nay, chúng ta cần phải thiết thực học tập, sửa chữa các khuyết điểm. Vì có tẩy sạch khuyết điểm, công việc mới có thể tiến bộ.
2. Trong bức thư trước, Hồ Chủ tịch đã vạch rõ khuyết điểm của chúng ta. Những cán bộ và đảng viên các nơi, hoặc chỉ nghiên cứu qua loa, hoặc nhận thấy khuyết điểm rồi nhưng không cố gắng sửa chữa. Đó là vì nghiên cứu một cách không thiết thực, không có tổ chức.
Từ nay, chúng ta phải làm như sau này:
A- TỔ CHỨC: Mỗi cơ quan, bộ đội, đoàn thể phải tổ chức một uỷ ban học tập, do cán bộ cao cấp lãnh đạo, do các cấp cử đại biểu tham gia. Số uỷ viên nhiều hay ít, tuỳ hoàn cảnh mà định. Uỷ ban này định ra kế hoạch; nghiên cứu, thảo luận, kiểm tra và thực hành.
B- THỜI GIAN HỌC TẬP: Từ 2 đến 3 tháng. Mỗi nơi tuỳ hoàn cảnh mà định ngày giờ. Dù sao, phải có ngày giờ nhất định.
D- CÁCH THỨC HỌC TẬP:
1. Nghiên cứu – Mỗi người phải đọc kỹ càng các tài liệu, rồi tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình, có khuyết điểm gì và ưu điểm gì.
2. Thảo luận – Khai hội thảo luận và phê bình. Trong lúc thảo luận, mọi người được hoàn toàn tự do phát biểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng cũng vậy. Song không được nói gàn, nói vòng quanh. Những kết luận trong cuộc thảo luận phải có cấp trên duyệt y mới là chính thức.
Đ- CÁCH PHÊ BÌNH: Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ. Vì vậy, phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người. Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán ghét.
E- KIỂM TRA: Uỷ ban học tập phải có một ban kiểm tra để xem xét việc học tập và sự tiến bộ của mọi người, giúp đỡ người tiến bộ ít, khen ngợi người tiến bộ nhiều.
G- BÁO CÁO: Mỗi tháng phải báo cáo về Trung ương một lần.
H- THỰC HÀNH: Người có ưu điểm thì phải cố gắng thêm, và người khác phải cố gắng bắt chước. Mọi người phải tích cực sửa chữa khuyết điểm của mình và giúp anh em sửa chữa khuyết điểm của họ. Mọi người phải nhớ rằng: cộng nhiều khuyết điểm nhỏ thành một khuyết điểm to, sẽ rất có hại. Cộng nhiều ưu điểm nhỏ thành một ưu điểm lớn, rất lợi cho Đảng và công cuộc kháng chiến.
II. PHẢI SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC CỦA ĐẢNG
Đảng ta hy sinh tranh đấu, đoàn kết, lãnh đạo nhân dân, tranh lại thống nhất và độc lập. Công việc đã có kết quả vẻ vang.
Nhưng, nếu mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm việc đúng hơn, khéo hơn, thì thành tích của Đảng còn to tát hơn nữa.
Cán bộ và đảng viên làm việc không đúng, không khéo, thì còn nhiều khuyết điểm. Khuyết điểm nhiều thì thành tích ít. Khuyết điểm ít thì thành tích nhiều. Đó là lẽ tất nhiên.
Vì vậy, ngay từ bây giờ, các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa. Phải như thế, Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công. Nếu không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của ta, thì cũng như giấu giếm tật bệnh trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh.
Khuyết điểm có nhiều thứ. Chúng ta có thể chia tất cả các khuyết điểm vào ba hạng:
– Khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan.
– Khuyết điểm về sự quan hệ trong Đảng với ngoài Đảng, tức là bệnh hẹp hòi.
– Khuyết điểm về cách nói và cách viết, tức là ba hoa.
Đó là ba chứng bệnh rất nguy hiểm. Nếu không chữa ngay, để nó lây ra, thì có hại vô cùng.
A- BỆNH CHỦ QUAN
Mỗi chứng bệnh sinh ra do nhiều nguyên nhân. Nhưng kết quả nó đều làm cho người ta ốm yếu. Nguyên nhân của bệnh chủ quan là: Kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông.
Trước hết, ta phải hiểu lý luận là gì?
Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính.
Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế.
Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi.
Hiện nay, phong trào cách mạng rất cao. Nhưng thử hỏi cán bộ và đảng viên ta đã mấy người biết rõ lý luận và biết áp dụng vào chính trị, quân sự, kinh tế, và văn hoá? Đã mấy người hiểu “biện chứng” là cái gì?
Vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại.
Đó là chứng kém lý luận trong bệnh chủ quan.
Có những cán bộ, những đảng viên cũ, làm được việc, có kinh nghiệm. Cố nhiên, những anh em đó rất quý báu cho Đảng. Nhưng họ lại mắc phải cái bệnh khinh lý luận. Họ quên rằng: Nếu họ đã có kinh nghiệm mà lại biết thêm lý luận thì công việc tốt hơn nhiều. Họ quên rằng: Kinh nghiệm của họ tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi.
Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ.
Những anh em đó, cần phải nghiên cứu thêm lý luận, mới thành người cán bộ hoàn toàn.
Có những người xem được sách, xem nhiều sách. Siêng xem sách và xem nhiều sách là một việc đáng quý. Nhưng thế không phải đã là biết lý luận.
Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách.
Xem nhiều sách để mà loè, để làm ra ta đây, thế không phải là biết lý luận.
Những anh em đó cần phải ra sức thực hành mới thành người biết lý luận.
Nói tóm lại, mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế. Phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông.
Có những người xem được sách, xem nhiều sách. Siêng xem sách và xem nhiều sách là một việc đáng quý. Nhưng thế không phải đã là biết lý luận.
Đây phải nói rõ vấn đề trí thức.
Những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến rất quý báu cho Đảng. Không có những người đó thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều.
Nhưng có đôi người trí thức vì thế mà kiêu ngạo, lên mặt. Chứng kiêu ngạo lên mặt rất có hại cho họ. Nó ngăn trở họ tiến bộ.
Trí thức là gì?
Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra. Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra. Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác.
Một người học xong đại học, có thể gọi là có trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: Công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế.
Vì vậy, những người trí thức đó cần phải biết rõ cái khuyết điểm của mình. Phải khiêm tốn. Chớ kiêu ngạo. Phải ra sức làm các việc thực tế.
Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận.
Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên.
Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để đem loè thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích.
Vì vậy, chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành.
B- BỆNH HẸP HÒI
Bệnh này rất nguy hiểm, mà nhiều cán bộ và đảng viên còn mắc phải.
Trong, thì bệnh này ngăn trở Đảng thống nhất và đoàn kết.
Ngoài, thì nó phá hoại sự đoàn kết toàn dân.
Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hoá,v.v., đều do bệnh hẹp hòi mà ra!
Có những cán bộ chỉ thấy lợi ích bộ phận của mình, không thấy lợi ích của toàn thể, muốn đem lợi ích của toàn thể phục tùng lợi ích của bộ phận mình. Họ quên hẳn cái chế độ dân chủ tập trung. Họ quên rằng thiểu số phải phục tùng đa số, hạ cấp phải phục tùng thượng cấp, bộ phận phải phục tùng toàn thể.
Chúng ta phải kiên quyết chữa ngay bệnh ấy, mỗi một đảng viên, mỗi một bộ phận, mỗi một lời nói, việc làm, tuyệt đối phải nhằm vào lợi ích của toàn cuộc, lợi ích của toàn Đảng.
Vì ham danh vọng và địa vị, cho nên khi phụ trách một bộ phận nào, thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì tìm cách tẩy ra. Thế là chỉ biết có mình, chỉ biết có bộ phận mình mà quên cả Đảng. Đó là một thứ bệnh hẹp hòi, trái hẳn với nguyên tắc tập trung và thống nhất của Đảng.
Cũng vì bệnh hẹp hòi đó mà cán bộ cấp trên phái đến và cán bộ địa phương không đoàn kết chặt chẽ.
Phải biết rằng: Chỉ có hai hạng cán bộ đó đoàn kết chặt chẽ và chỉ có cán bộ địa phương ngày càng thêm nhiều, thì nền tảng của Đảng mới phát triển và vững vàng. Cán bộ phái đến, trình độ thường cao hơn, kinh nghiệm nhiều hơn. Nhưng cán bộ địa phương lại biết rõ nhân dân, quen thuộc công việc hơn. Hai hạng cán bộ phải giúp đỡ nhau, bồi đắp nhau, thì công việc mới chạy.
Vì bệnh hẹp hòi mà cán bộ phái đến thường kiêu ngạo, khinh rẻ cán bộ địa phương, cho họ là dốt kém. Thành thử không thân mật hợp tác.
Từ nay, hễ có việc lôi thôi như thế nữa, thì cán bộ phái đến phải chịu lỗi nặng hơn, nhất là những cán bộ lãnh đạo.
Hai hạng cán bộ phải kết thành một khối, không phân biệt, không kèn cựa. Phải cùng nhau chữa cho tiệt cái nọc bệnh hẹp hòi.
Cán bộ quân sự với cán bộ địa phương cũng vậy, phải đoàn kết nhất trí, giúp đỡ lẫn nhau.
Cán bộ quân sự trong một địa phương thường giữ địa vị lãnh đạo và có quyền lực trong tay. Vì vậy, nếu từ nay còn có sự không hoà thuận giữa hai bên, thì cán bộ quân sự phải chịu lỗi lớn hơn.
Bộ đội này với bộ đội khác, địa phương này với địa phương khác, cơ quan này với cơ quan khác, đều phải phản đối bệnh ích kỷ, bệnh địa phương. Thí dụ: không muốn cấp trên điều động cán bộ, hoặc khi điều động thì chỉ đùn những cán bộ kém ra. Có vật liệu gì dù mình có thừa, hoặc không cần đến, cũng thu giấu đi, không cho cấp trên biết, không muốn chia sẻ cho nơi khác.
Bệnh địa phương đó, phải tẩy cho sạch.
Lại còn vấn đề cán bộ cũ và cán bộ mới.
Đảng càng phát triển thì cần đến cán bộ mới càng nhiều.
Vả chăng, số cán bộ cũ có ít, không đủ cho Đảng dùng. Đồng thời, theo luật tự nhiên, già thì phải yếu, yếu thì phải chết. Nếu không có cán bộ mới thế vào, thì ai gánh vác công việc của Đảng.
Vì vậy, cán bộ cũ phải hoan nghênh, dạy bảo, dìu dắt, yêu mến cán bộ mới. Cố nhiên cán bộ mới, vì công tác chưa lâu, kinh nghiệm còn ít, có nhiều khuyết điểm. Nhưng họ lại có những ưu điểm hơn cán bộ cũ: Họ nhanh nhẹn hơn, thường giàu sáng kiến hơn.
Vì vậy, hai bên phải tôn trọng nhau, giúp đỡ nhau, học lẫn nhau, đoàn kết chặt chẽ với nhau.
Cán bộ cũ thường giữ địa vị lãnh đạo. Vì vậy, nếu từ nay, quan hệ giữa hai hạng cán bộ ấy không ổn thoả, thì cán bộ cũ phải chịu trách nhiệm nhiều hơn. Như thế mới chữa khỏi bệnh hẹp hòi.
Từ trước đến nay, vì bệnh hẹp hòi mà có những sự lủng củng giữa bộ phận và toàn cuộc, đảng viên với Đảng, cán bộ địa phương và cán bộ phái đến, cán bộ quân sự và cán bộ “mặt trận”, cán bộ mới và cán bộ cũ, cơ quan này và cơ quan khác, bộ đội này và bộ đội khác, địa phương này và địa phương khác.
Vậy từ nay, chúng ta phải tẩy cho sạch cái bệnh nguy hiểm đó, khiến cho Đảng hoàn toàn nhất trí, hoàn toàn đoàn kết.
Bệnh hẹp hòi đối ngoại.
Có nhiều đồng chí có bệnh tự tôn, tự đại, khinh rẻ người ta, không muốn biết, muốn học những ưu điểm của người khác. Biết được vài câu lý luận đã cho mình là giỏi, không xem ai ra gì, tưởng mình là hơn hết. Đó là bệnh hẹp hòi hạng nặng.
Họ quên rằng: Chỉ đoàn kết trong Đảng, cách mạng cũng không thành công được, còn phải đoàn kết nhân dân cả nước. Họ quên rằng: So với số nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức, thì Đảng không làm được việc gì hết.
Vì vậy ta cần phải hợp tác với những người ngoài Đảng. Ta không được khinh rẻ họ, chê bai họ. Ta phải liên lạc mật thiết với dân chúng. Không được rời xa dân chúng. Rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại.
Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết dùng nhân tài, việc gì cũng ôm lấy hết. Ôm lấy hết thì cố nhiên làm không nổi.
Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết cách xử trí khôn khéo với các hạng đồng bào (như tôn giáo, quốc dân thiểu số, anh em trí thức, các quan lại cũ, v.v.).
Từ nay, mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, phải kiên quyết chữa cái bệnh hẹp hòi đó để thực hành chính sách đại đoàn kết. Chính sách thành công thì kháng chiến mới dễ thắng lợi.
Bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, bệnh hẹp hòi, v.v., mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó.
Gặp mỗi vấn đề, ta phải đặt câu hỏi:
Vì sao có vấn đề này?
Xử trí như thế này, kết quả sẽ ra sao?
Phải suy tính kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm vậy.
Để chữa khỏi những bệnh kia, ta phải tự phê bình ráo riết, và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật, mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau.
Trong lúc phê bình, khuyết điểm phải vạch ra rõ ràng, mà ưu điểm cũng phải nhắc đến. Một mặt là để sửa chữa cho nhau. Một mặt là để khuyến khích nhau, bắt chước nhau.
Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khoẻ vô cùng.
III. MẤY ĐIỀU KINH NGHIỆM
1. Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong
Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định. Sau đây là những kinh nghiệm rõ ràng:
Chính phủ muốn giúp đồng bào làng X. ở thượng du mở mang văn hoá, đã lập ra trường và phái giáo viên đến mấy lần, nhưng không ai đến học. Các giáo viên đều lắc đầu trở về.
Đồng chí A ở Vệ quốc quân, đánh giặc bị thương, gẫy tay, không cầm súng được nữa, xin đi làm giáo viên.
Được phái đến làng X, A liền đi thăm các nhà, nói chuyện với các bậc cha mẹ và trẻ em. Kết quả những cuộc nói chuyện đó là: vì nhà nghèo, thiếu người, trẻ em phải ở nhà giúp việc không đi học được.
A liền tìm cách giải quyết: Vừa học vừa làm. Khuyên các trẻ em họp thành tiểu tổ, như tổ chăn trâu, tổ cắt cỏ, tổ đan nón, v.v.. Các trẻ em vừa làm vừa học. Nhờ cách hợp tác, làm lại được nhiều hơn làm riêng ở nhà. Đồng bào trong làng thấy vậy, chẳng những cho các con đã lớn đi học, mà gửi cả con còn bé cho thầy, “học được chữ nào hay chữ ấy”. Rồi người lớn thấy vui cũng đi học.
Nhà trường dột, đồng chí A tự mình lợp lại. Đồng bào thấy vậy, kéo nhau đến giúp.
Đối với các em làm biếng hoặc nghịch ngợm, A không đánh phạt, chỉ dùng cách khuyên dỗ, và bày cho các em khác phê bình. Thành thử dần dần em nào cũng trở nên ngoan ngoãn.
Khi dân làng có việc gì, A cũng ra tay giúp. Khi có ai cãi cọ nhau, thì A lấy tư cách thầy học trong làng đến dàn xếp.
Thành thử dân làng, nhất là những cha mẹ học trò, ai cũng kính trọng và yêu mến đồng chí A. Những nhà gần làng thấy vậy, cũng gửi con đến học.
Đồng chí A chỉ có bằng tiểu học mà đã làm được công việc những ông giáo khác không làm nổi.
Trong các ngành hoạt động của chúng ta, nào chính trị, kinh tế, nào quân sự, văn hoá, chắc không thiếu những người có năng lực, có sáng kiến như A. Nhưng vì cách lãnh đạo của ta còn kém, thói quan liêu còn nồng cho nên có những người như thế cũng bị dìm xuống, không được cất nhắc.
Muốn tránh khỏi sự hao phí nhân tài, chúng ta cần phải sửa chữa cách lãnh đạo. Thí dụ: bắt buộc cán bộ trong mỗi ngành phải thiết thực báo cáo và cất nhắc nhân tài.
2. Chính sách thì đúng, cách làm thì sai
Chúng ta thường kêu gọi làm làng kiểu mẫu, trại kiểu mẫu, bộ đội kiểu mẫu, nhà máy kiểu mẫu, v.v., khẩu hiệu đó rất đúng. Nhưng đến nay, hoặc chưa làm được, hoặc làm được nửa chừng rồi lại nguội. Vì lẽ gì?
Vì chúng ta quên một lẽ rất giản đơn dễ hiểu: Tức là vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả.
Muốn lập làng kiểu mẫu, đội kiểu mẫu, v.v., thì trước phải đào tạo ra những người kiểu mẫu, để làm cán bộ cho làng đó, đội đó. Làm được một làng, một đội rồi lấy đó làm kiểu mẫu, để khuyến khích và cổ động nơi khác.
Từ trước đến nay, chúng ta làm trái ngược lại. Chúng ta nghĩ ra một làng, một đội kiểu mẫu trong tư tưởng, mà không bắt đầu từ một làng, một đội sẵn có, cho nên kế hoạch không ăn khớp với những hoàn cảnh thiết thực (khách quan).
Đó cũng là vì bệnh chủ quan của chúng ta. Cho nên khẩu hiệu tuy đúng, nhưng thực hành không có kết quả mỹ mãn.
Một lẽ nữa, cũng vì cách lãnh đạo và cách làm không đúng. Khi chúng ta muốn lập một làng hoặc một đội kiểu mẫu, chúng ta đem cán bộ ngoài đến, để xung phong, mà không đào tạo cán bộ ngay ở đó. Khi cán bộ xung phong phải điều động đi nơi khác, thì làng kia hoặc đội kia lại xếp. Như cái bong bóng, thổi hơi vào, thì phùng lên, hơi ra hết, thì xẹp xuống.
Vả lại, chúng ta tham lam làm nhiều trong một lúc. Thí dụ: Muốn lập một tỉnh kiểu mẫu thì thường hay dàn lực lượng ra làm cả tỉnh, không biết định cho mỗi huyện chọn một tổng làm kiểu mẫu, mỗi tổng chọn một làng làm kiểu mẫu. Thành thử, “ăn nhiều, nuốt không xuống”. Chúng ta không biết tập trung lực lượng, làm xong một nơi, lấy đủ kinh nghiệm, rồi làm nơi khác.
Vì vậy, từ nay bất kỳ việc gì, chúng ta phải bắt đầu từ gốc, dần dần đến ngọn, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, chớ nên tham mau, tham nhiều trong một lúc.
3. Không biết nghiên cứu kinh nghiệm đến gốc
Trong các cuộc vận động, như tăng gia sản xuất, bình dân học vụ, mùa đông binh sĩ, v.v., chúng ta đã được nhiều thành tích rất khá. Nhưng chúng ta không biết nghiên cứu đến nơi đến chốn, vì sao mà có thành tích khá? Nơi nào thành tích tốt nhất? Ai là những người làm được thành tích đó? v.v., để mà học kinh nghiệm, để mà đặt ra khuôn phép cho công việc khác. Thành thử những cái tốt, cái hay đều không phát triển được. Và công việc xong rồi là thôi, cán bộ không học được kinh nghiệm gì, mà cũng không tiến bộ được mấy.
Đồng thời, chúng ta không ra sức nghiên cứu những sự khó khăn, những chỗ sai lầm, để giải quyết và sửa chữa cho kịp thời.
Thí dụ: Nhiều cán bộ lo làm công việc của Đảng, nên phải xao nhãng công việc gia đình của họ, thành thử cha mẹ vợ con họ không vui lòng, mà cũng ảnh hưởng đến quần chúng. (Tuy có đôi nơi có sáng kiến, đề xướng khẩu hiệu: “cách mạng hoá gia đình”, “cả nhà tham gia công việc kháng chiến”, v.v.. Song toàn bộ vấn đề vẫn chưa giải quyết). Vấn đề này không giải quyết một cách hợp lý, rất có ảnh hưởng xấu cho sự tiến tới của cán bộ. Dùng cán bộ không đúng tài năng của họ, cũng là một cớ thất bại. Thí dụ: Người viết giỏi nhưng nói kém lại dùng vào những việc cần phải nói. Người nói khéo nhưng viết xoàng lại dùng vào công việc viết lách. Thành thử hai người đều không có thành tích.
Từ nay, công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khoá phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới. Có như thế thì người mới có tài, tài mới có dụng.
4. Phải nâng cao sáng kiến và lòng hăng hái
Chúng ta thường nêu vấn đề đó. Nhưng đến nay, cán bộ và đảng viên vẫn ít sáng kiến, ít hăng hái. Đó là vì lẽ gì?
Vì nhiều lẽ. Mà trước hết là vì: Cách lãnh đạo của ta không được dân chủ, cách công tác của ta không được tích cực.
Nếu ai nói chúng ta không dân chủ, thì chúng ta khó chịu. Nhưng nếu chúng ta tự xét cho kỹ, thì thật có như thế.
Đối với cơ quan lãnh đạo, đối với những người lãnh đạo, các đảng viên và các cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình.
Thành thử cấp trên với cấp dưới cách biệt nhau. Quần chúng với Đảng rời xa nhau. Trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp. Dưới thì có gì không dám nói ra.
Họ không nói, không phải vì họ không có ý kiến, nhưng vì họ nghĩ nói ra cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị “trù” là khác.
Họ không dám nói ra thì họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản. Rồi sinh ra thói “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”, “trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm”, sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” và những thói xấu khác.
Kinh nghiệm là: Cơ quan nào mà trong lúc khai hội, cấp trên để cho mọi người có gì nói hết, cái đúng thì nghe, cái không đúng thì giải thích, sửa chữa, ở những cơ quan đó mọi người đều hoạt bát mà bệnh “thì thầm thì thào” cũng hết.
Một người mà trong óc đã có uất ức, bất mãn, thì lời hay lẽ phải khó lọt vào bộ óc đó. Để cho họ tháo cái uất ức, bất mãn đó ra, thì lời hay lẽ phải dễ lọt vào óc họ. Đó là một lẽ rất giản đơn. Cấp trên cũng nên thỉnh thoảng trưng cầu ý kiến phê bình của cấp dưới. Có như thế thì cũng khác nào như một người có vết nhọ trên mặt, được người ta đem gương cho soi, mình tự thấy vết nhọ. Lúc đó không cần ai khuyên bảo, cũng tự vội vàng đi rửa mặt.
Ta phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa.
Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm lặt vặt, cũng tự sửa chữa được nhiều.
Một vấn đề nữa: Chúng ta thường nói đến hai chữ sáng kiến một cách mênh mông, không thiết thực. Như là phải có tài giỏi đặc biệt mới có sáng kiến. Nếu ta thử hỏi: sáng kiến là gì? thì chắc nhiều người trả lời không xuôi. Như thế mà mong cán bộ và đảng viên có sáng kiến thì sao mà có được!
Chúng ta phải nhận rõ: Bất kỳ việc to việc nhỏ, hễ thêm điều lợi, trừ điều hại cho quần chúng, giúp quần chúng giải quyết vấn đề khó khăn, tăng kết quả của việc làm, tăng sức sản xuất của xã hội, đánh đổ sức áp bức của quân thù, đó đều là sáng kiến.
Cách dạy học của đồng chí A nói trên cũng là sáng kiến.
Sáng kiến không phải cái gì kỳ lạ. Nó chỉ là kết quả của sự nghiên cứu, suy nghĩ trong những hoàn cảnh, trong những điều kiện rất tầm thường, rất phổ thông, rất thiết thực.
Bất kỳ ai, nếu có quyết tâm làm ích lợi cho quần chúng, lại chịu học, chịu hỏi quần chúng, óc chịu khó nghĩ, tay chịu khó làm, thì nhất định có sáng kiến, nhất định làm được những việc có ích cho loài người.
Chúng ta cần phải nâng cao mở rộng dân chủ ra, khuyên gắng cán bộ và đảng viên, bày cho họ suy nghĩ, bày cho họ học hỏi quần chúng, cổ động họ tìm tòi, đề nghị, làm những việc ích lợi cho quần chúng. Khi họ đã có ít nhiều sáng kiến, thì giúp đỡ cho họ phát triển, khen ngợi cho họ thêm hăng hái. Như thế, thì những tính lười, tính “gặp chăng hay chớ” ngày càng bớt, mà sáng kiến và tính hăng hái ngày càng nhiều thêm.
5. Vì ai mà làm? Đối ai phụ trách?
Nếu chúng ta hỏi cán bộ: “Việc đó, làm cho ai? Đối với ai phụ trách?”, chắc số đông cán bộ sẽ trả lời: “Làm cho Chính phủ hoặc Đảng, phụ trách trước cấp trên”.
Câu trả lời đó chỉ đúng một nửa. Nếu chúng ta lại hỏi: “Chính phủ và Đảng vì ai mà làm việc đó? Và phụ trách với ai?” thì e nhiều cán bộ không trả lời được.
Chính phủ và Đảng chỉ mưu giải phóng cho nhân dân, vì thế, bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
Đó là một lẽ rất giản đơn, rõ ràng. Nhưng nhiều cán bộ chưa hiểu, cho nên trong lúc làm việc, thường sai lầm; đến nỗi chia cán bộ Chính phủ và Đảng ra làm một phía, quần chúng ra một phía.
Chính phủ và Đảng chẳng những làm những việc trực tiếp lợi cho dân, mà cũng có khi làm những việc mới xem qua như là hại đến dân. Thí dụ: Quyên tiền, thu thuế, công tác phá hoại, v.v..
Vì cán bộ và đảng viên không hiểu rõ hai lẽ: Vì ai mà làm, đối ai phụ trách, khi gặp mỗi công việc không biết tìm đủ cách giải thích cho dân hiểu. Cho nên những việc trực tiếp lợi cho dân, như đắp đê, hộ đê, tăng gia sản xuất, bình dân học vụ, v.v., cán bộ chỉ làm theo cách hạ lệnh, cách cưỡng bức. Kết quả dân không hiểu, dân oán. Thì có gì lạ đâu? Một thí dụ rất tầm thường, dễ hiểu: Bánh ngọt là một thứ ngon lành, nhưng đem bánh ngọt bắt người ta ăn, nhét vào miệng người ta, thì ai cũng chán!
Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ. Nhưng trước hết cần phải chịu khó tìm đủ cách giải thích cho họ hiểu rằng: Những việc đó là vì ích lợi của họ mà phải làm.
Có khi vì cán bộ không hiểu lẽ đó, vì muốn làm cho được việc, rồi dùng cách hạ mệnh lệnh, cách áp bức, phạm vào thói quan liêu, quân phiệt, đến nỗi Chính phủ hoặc Đảng phải trừng phạt. Đối với những bọn vu vơ, đầu cơ, thì phạt rất đáng. Nhưng với những cán bộ trung thành mà bị phạt, thì Chính phủ và Đảng cũng khổ tâm, mà người bị phạt cũng khổ tâm!
Chẳng những lúc thi hành các mệnh lệnh, cán bộ ta có cái thái độ xa quần chúng như thế, mà đối với cách làm việc, cách tổ chức, cũng có thái độ sai lầm đó.
Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc, đều vì lợi ích của quần chúng, vì cần cho quần chúng. Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại. Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị lên cấp trên mà đặt ra. Nếu cần làm thì cứ đặt ra, rồi báo cáo sau, miễn là được việc.
Đằng này cán bộ ta chỉ biết khư khư giữ nếp cũ. Cái không hợp cũng không dám sửa bỏ, cái cần thiết cũng không dám đặt mới. Đó là vì thói không phụ trách “quá hữu”, gặp sao hay vậy.
Song lại có thái độ xa quần chúng, thói không phụ trách “quá tả” là không suy nghĩ chín chắn, so sánh kỹ càng, hôm nay đặt ra cái này, hôm sau sửa lại cái khác, làm cho quần chúng hoang mang. Như tỉnh nọ, bắt đầu kháng chiến, thì bỏ hết Việt Minh các huyện, các xã. Thật là một hành động khờ dại.
6. Sát quần chúng, hợp quần chúng
Cán bộ ta có hai chứng bệnh nữa là:
a) Bệnh khai hội
Khai hội không có kế hoạch, không sắp sửa kỹ lưỡng, không thiết thực. Khai hội lâu, khai hội nhiều quá.
Cán bộ khu về tỉnh, cán bộ tỉnh về huyện, cán bộ huyện về làng, thì khệnh khạng như “ông quan”. Lúc khai hội thì trăm ngàn lần như một: “Tình hình thế giới, tình hình Đông Dương, thảo luận, phê bình, giải tán”.”Ông cán” làm cho một “tua” hai, ba giờ đồng hồ. Nói gì đâu đâu. Còn công việc thiết thực trong khu, trong tỉnh, trong huyện, trong xã đó, thì không động đến. Lúc “ông cán” nói, người ngáp, kẻ ngủ gục, mọi người mong ông thôi đi, để về nhà cho mau. Có ai hiểu gì đâu mà thảo luận!
Vì vậy, mà quần chúng sợ khai hội. Mỗi lần họ đi khai hội, chẳng khác gì “đi phu”. Đó cũng vì bệnh xa quần chúng, bệnh hình thức, khai hội lấy lệ, khai hội để mà khai hội, chớ nào phải vì lợi ích của quần chúng mà khai hội!
Về việc đặt khẩu hiệu, đặt chương trình làm việc, chương trình tranh đấu, tuyên truyền, làm báo tường, viết báo, cũng như thế. Không chịu khó hỏi quần chúng cần cái gì, muốn nghe muốn biết cái gì, ham chuộng cái gì. Chỉ mấy cán bộ đóng cửa lại mà làm, ngồi ỳ trong phòng giấy mà viết, cứ tưởng những cái mình làm là đúng, mình viết là hay. Nào có biết, cách làm chủ quan đó, kết quả là “đem râu ông nọ, chắp cằm bà kia”, không ăn thua, không thấm thía, không ích lợi gì cả.
Một việc nữa cần nhắc đến là các ban huấn luyện. Huấn luyện là một việc rất cần. Tục ngữ có câu: “Không thầy đố mày làm nên”, và câu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”.
Những việc rất dễ dàng còn phải học. Huống chi công việc cách mạng, công việc kháng chiến, không có huấn luyện, thì làm sao xuôi?
Song những tài liệu huấn luyện phải nhằm vào sự cần dùng, cần thiết của quần chúng. Phải hỏi: Người đến chịu huấn luyện rồi, có áp dụng được ngay không? Có thực hành được ngay không?
Nếu không thiết thực như thế, thì huấn luyện mấy năm cũng vô ích.
Tiếc thay, nhiều cán bộ huấn luyện của ta chưa hiểu cái lẽ giản đơn đó. Vì vậy mà có cán bộ đem “kinh tế học” huấn luyện cho chị em phụ nữ thôn quê ở thượng du!
Nói tóm lại, cách làm việc, cách tổ chức, nói chuyện, tuyên truyền, khẩu hiệu, viết báo, v.v. của chúng ta, đều phải lấy câu này làm khuôn phép:
“Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng”.
Bất cứ việc to việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ và làm cho hợp trình độ văn hoá, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng. Do đó mà định cách làm việc, cách tổ chức. Có như thế, mới có thể kéo được quần chúng.
Nếu không vậy, nếu cứ làm theo ý muốn, theo tư tưởng, theo chủ quan của mình, rồi đem cột vào cho quần chúng, thì khác nào “khoét chân cho vừa giầy”. Chân là quần chúng. Giầy là cách tổ chức và làm việc của ta. Ai cũng đóng giầy theo chân. Không ai đóng chân theo giầy.
b) Bệnh nể nang
Vì họ hàng quen biết, bầu bạn, thân thích, anh em, cho nên lúc họ có sai lầm cũng cứ nể nang không thiết thực phê bình, thiết thực sửa đổi, sợ mất lòng. 19/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh IV. TƯ CÁCH VÀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
A. TƯ CÁCH CỦA ĐẢNG CHÂN CHÍNH CÁCH MẠNG
1. Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.
2. Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng, và lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau.
3. Khi đặt ra khẩu hiệu và chỉ thị, luôn luôn phải dựa vào điều kiện thiết thực và kinh nghiệm cách mạng ở các nước, ở trong nước và ở địa phương.
4. Phải luôn luôn do nơi quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị đó có đúng hay không.
5. Phải luôn luôn xem xét lại tất cả công tác của Đảng. Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng. Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân.
6. Mỗi công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng. Chẳng những không nâng cao được dân chúng, mà cũng không biết ý kiến của dân chúng.
7. Mỗi công việc của Đảng phải giữ vững tính cách mạng của nó, lại phải khéo dùng những cách thức thi hành cho hoạt bát.Nếu không vậy thì không biết nắm vững các cách thức tranh đấu và các cách thức tổ chức, không biết liên hợp lợi ích ngày thường và lợi ích lâu dài của dân chúng.
8. Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên.
9. Đảng phải chọn lựa những người rất trung thành và rất hăng hái, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo.
10. Đảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hoá ra ngoài.
11. Đảng phải giữ kỷ luật rất nghiêm từ trên xuống dưới. Kỷ luật này là tư tưởng phải nhất trí, hành động phải nhất trí. Kỷ luật này là do lòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Đảng.
12. Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hoá ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng.
Muốn cho Đảng được vững bền Mười hai điều đó chớ quên điều nào.
B. PHẬN SỰ CỦA ĐẢNG VIÊN VÀ CÁN BỘ
1. Trọng lợi ích của Đảng hơn hết
Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác. Cho nên Đảng phải ra sức tổ chức nhân dân, lãnh đạo nhân dân để giải phóng nhân dân và để nâng cao sinh hoạt, văn hoá, chính trị của nhân dân. Vì toàn dân được giải phóng, tức là Đảng được giải phóng.
Vì vậy, mỗi người trong Đảng phải hiểu rằng: Lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài. Nghĩa là phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết.
Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc. Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng”. Nếu gặp khi lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng.
Khi cần đến tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng. Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ phải hiểu rõ, phải thực hành như thế. Vì hiểu rõ và thực hành như thế, cho nên trong Đảng ta đã có những liệt sĩ oanh liệt hy sinh cho Đảng, cho dân tộc, cho Tổ quốc, mà tiếng thơm để muôn đời. Các liệt sĩ đó đã nêu gương anh dũng cho tất cả đảng viên và cán bộ ta bắt chước.
Nhiều khi lợi ích của cá nhân hợp với lợi ích của Đảng. Thí dụ đảng viên và cán bộ cẩn thận giữ gìn sức khoẻ của mình để làm việc. Ham học tập để nâng cao trình độ của mình. Làm đúng cần, kiệm, liêm, chính để cho dân tin, dân phục, dân yêu.
Những lợi ích cá nhân đó rất chính đáng. Đảng mong cho đảng viên và cán bộ như thế. Song ngoài ra, như ham muốn địa vị, tìm cách phát tài, ra mặt anh hùng, tự cao tự đại, v.v.. Đó đều là trái với lợi ích của Đảng.
2. Đạo đức cách mạng
Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng thêm.
Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có năm điều: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm.
a) NHÂN là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền. Những người đã không ham, không e, không sợ gì thì việc gì là việc phải họ đều làm được.
b) NGHĨA là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì bất kỳ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn.
c) TRÍ vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người. Biết xét việc. Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian.
d) DŨNG là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.
đ) LIÊM là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá.
Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.
Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người. Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.
Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?
3. Phải giữ kỷ luật
Lợi ích của dân tộc, gồm có lợi ích của Đảng. Lợi ích của Đảng, gồm có lợi ích của đảng viên. Vì vậy, sự phát triển và thành công của Đảng, một mặt tức là thành công của dân tộc, một mặt tức là thành công của đảng viên. Vì vậy, chỉ có khi Đảng thành công và thắng lợi, thì đảng viên mới có thể thành công và thắng lợi. Chính vì vậy mà đảng viên cần phải hy sinh lợi ích của mình cho lợi ích chung của Đảng.
Không ai bắt buộc ai vào Đảng làm chiến sĩ xung phong. Đó là do sự “tự giác”, lòng hăng hái của mỗi người mà tình nguyện làm đảng viên, làm chiến sĩ xung phong. Đã vậy, thì mỗi người đảng viên phải cố gắng cho xứng đáng là một người trong những người đại biểu của dân tộc.
Nhất là những người cán bộ và lãnh tụ, càng phải làm cho xứng đáng lòng tin cậy của Đảng, của dân tộc. Càng phải làm gương cho tất cả đảng viên, tất cả quần chúng noi theo.
Cũng vì lợi ích của dân tộc, mà Đảng cần phải khuyến khích và khen thưởng những ưu điểm và tài năng của đảng viên. Cần phải giúp cho họ học hành, giúp cho họ làm việc và tuỳ theo hoàn cảnh mà giúp họ về mặt sinh hoạt, trong lúc ốm đau. Khiến cho họ ham làm việc, vui làm việc. Nói tóm lại: Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải hoàn toàn phục tùng lợi ích của Đảng. Không nên có mục đích cá nhân. Không nên vì cá nhân mà yêu cầu Đảng cái này cái khác, hoặc trách móc Đảng không giúp đỡ mình, không khen thưởng mình.
Đồng thời, bất kỳ ở hoàn cảnh nào, đảng viên và cán bộ cần phải luôn luôn ra sức phấn đấu, ra sức làm việc, cố gắng học tập để nâng cao trình độ văn hoá, trí thức và chính trị của mình. Luôn luôn giữ gìn kỷ luật. Luôn luôn xứng đáng một người cán bộ, một người đảng viên.
4. Đối với các hạng đảng viên
Đảng ta là một đảng cách mạng, một đảng vì dân, vì nước. Song Đảng có rất đông đảng viên. Phần đông cố nhiên đã hiểu biết vì dân, vì nước mà vào Đảng. Nhưng cũng có phần vì lẽ khác mà theo vào Đảng. Thí dụ: Có người tưởng vào Đảng thì dễ tìm công ăn việc làm. Có người vào Đảng mong làm chức này, tước nọ. Có người vì anh em bạn hữu kéo vào, v.v.. Những người này không biết rằng: cách mạng là một sự nghiệp gian nan cực khổ, phải có lòng kiên quyết, có chí hy sinh.
Vì vậy khi gặp sự khó khăn, họ không khỏi dao động, hoang mang.
Dù sao, họ tin Đảng ta, họ kính trọng Đảng ta, họ tìm vào Đảng ta, đó cũng là một điều tốt. Trừ những bọn vào Đảng để mong phá hoại, còn những hạng kia chúng ta đều hoan nghênh. Một khi họ đã theo Đảng thì Đảng phải cảm hoá họ, dạy dỗ họ, nâng cao sự hiểu biết và lòng phụ trách của họ lên dần dần. Trong sự huấn luyện và tranh đấu lâu dài, họ rất có thể thành những người chiến sĩ khá.
Đối với những người không chịu nổi khó nhọc, không chịu nổi kỷ luật nghiêm khắc mà xin ra khỏi Đảng, thì Đảng vẫn bằng lòng để họ ra. Đảng chỉ yêu cầu một điều là: Họ thề không lộ bí mật của Đảng, không phản Đảng, không phá hoại Đảng. Như thế thì Đảng vẫn giữ cảm tình thân thiện với họ.
Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu. Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân.
5. Những khuyết điểm sai lầm
Trong Đảng ta còn có những người chưa học được, chưa làm được bốn chữ “chí công vô tư”, cho nên mắc phải chứng chủ nghĩa cá nhân.
Chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm, thí dụ những bệnh sau đây:
a) Bệnh tham lam – Những người mắc phải bệnh này thì đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc, do đó mà chỉ “tự tư tự lợi”. Dùng của công làm việc tư. Dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình. Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Thậm chí làm chợ đen buôn lậu. Không sợ mất thanh danh của Đảng, không sợ mất danh giá của mình.
b) Bệnh lười biếng – Tự cho mình là cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết. Làm biếng học hỏi, làm biếng suy nghĩ. Việc dễ thì tranh lấy cho mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách để trốn tránh.
c) Bệnh kiêu ngạo – Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình. Việc gì cũng muốn làm thầy người khác.
d) Bệnh hiếu danh – Tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại. Có khi vì cái tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Đến khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay. Những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, uỷ viên nọ, chớ không ham công tác thiết thực.
đ) Thiếu kỷ luật – Đã mắc bệnh cá nhân thì tư tưởng và hành động cũng đặt cá nhân lên trên. Vì thế mà việc gì cũng không lấy Đảng làm nền tảng. Mình muốn thế nào thì làm thế ấy. Quên cả kỷ luật của Đảng. Phê bình thì cốt công kích những đồng chí mình không ưa. Cất nhắc thì cốt làm ơn với những người mình quen thuộc.
e) Óc hẹp hòi – Ở trong Đảng thì không biết cất nhắc những người tốt, sợ người ta hơn mình. ở ngoài Đảng thì khinh người, cho ai cũng không cách mạng, không khôn khéo bằng mình. Vì thế mà không biết liên lạc hợp tác với những người có đạo đức tài năng ở ngoài Đảng. Vì thế mà người ta uất ức và mình thành ra cô độc.
g) Óc địa phương – Bệnh này tuy không xấu bằng các bệnh kia nhưng kết quả cũng rất tai hại. Miễn là cơ quan mình, bộ phận mình, địa phương mình được việc. Còn các cơ quan, bộ phận, địa phương khác ra sao cũng mặc kệ. Đó là vì cận thị, không xem xét toàn thể. Không hiểu rằng lợi ích nhỏ phải phục tùng ích lợi to, ích lợi bộ phận phải phục tùng ích lợi toàn thể.
h) Óc lãnh tụ – Đánh được vài trận, hoặc làm được vài việc gì ở địa phương đã cho mình là tài giỏi lắm rồi, anh hùng lắm rồi, đáng làm lãnh tụ rồi.
Nào có biết so với công cuộc giải phóng cả dân tộc thì những thành công đó chỉ là một chút cỏn con, đã thấm vào đâu! Mà so với những sự nghiệp to tát trong thế giới, càng không thấm vào đâu.
Cố nhiên, Đảng ta mong cho có nhiều anh hùng, nhiều lãnh tụ, được dân tin, dân phục, dân yêu. Những anh hùng và lãnh tụ như thế là của quý của Đảng, của dân tộc. Song, những anh hùng và lãnh tụ như thế đều do tranh đấu và kinh nghiệm rèn luyện ra, đều do dân chúng và đảng viên tin cậy mà cử ra, chứ không phải tự mình muốn làm lãnh tụ, làm anh hùng mà được.
Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại, những kẻ có óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng, lãnh tụ.
Đem so với công việc của cả loài người trong thế giới, thì những người đại anh hùng xưa nay cũng chẳng qua làm tròn một bộ phận mà thôi. Mỗi người chúng ta cố làm đầy đủ những công việc Đảng giao phó cho, thế là ta làm tròn nhiệm vụ, và lòng tự hào đó giúp cho ta tiến bộ mãi.
6. Những bệnh khác
a) Bệnh “hữu danh, vô thực” – Làm việc không thiết thực, không tự chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên. Làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch.
Thí dụ việc tổ chức – Trong báo cáo thì làng nào, huyện nào, tỉnh nào cũng có. Hạng người nào cũng có. Có hàng vạn hàng ức người. Nhưng khi soạn lại cặn kẽ, hỏi lại rõ ràng, nhưng nơi đó có bao nhiêu người, những tổ chức đó đã làm việc gì, cán bộ đã đến đó mấy lần, đã làm gì cho những tổ chức đó, thì chưa có gì thiết thực hết.
Thế là không làm tròn nhiệm vụ của mình. Thế là dối trá với Đảng, có tội với Đảng. Làm việc không thiết thực, báo cáo không thật thà, cũng là một bệnh rất nguy hiểm.
b) Kéo bè kéo cánh lại là một bệnh rất nguy hiểm nữa.
Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống.
Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Nó làm hại đến sự thống nhất. Nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình. Nó làm mất sự thân ái, đoàn kết giữa đồng chí. Nó gây ra những mối nghi ngờ.
c) Bệnh cận thị – Không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ. Thí dụ: việc tăng gia sản xuất, việc tiếp tế bộ đội thì không lo đến, mà chỉ lo thế nào để lợi dụng cơm cháy và nước gạo trong các bộ đội.
Những người như vậy, chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy sự lợi hại to lớn.
d) Bệnh “cá nhân”
1. Việc gì không phê bình trước mặt để nói sau lưng. Khi khai hội thì không nói, lúc khai hội rồi mới nói. Không bao giờ đề nghị gì với Đảng. Không theo nguyên tắc sinh hoạt của Đảng. Muốn sao làm vậy.
2. Muốn làm xong việc, ai có ưu điểm cũng không chịu học theo, ai có khuyết điểm cũng không dám phê bình.
3. Không phục tùng mệnh lệnh, không tuân theo kỷ luật. Cứ làm theo ý mình.
4. Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc, mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù, tiểu khí.
5. Nghe những lời bình luận không đúng, cũng làm thinh, không biện bác. Thậm chí nghe những lời phản cách mạng cũng không báo cáo cho cấp trên biết. Ai nói sao, ai làm gì cũng mặc kệ.
6. Gặp dân chúng thì không điều tra, không hỏi han, không tuyên truyền, không giải thích. Xem như dân chúng không có quan hệ gì với mình.
7. Thấy những việc có hại đến dân chúng cũng mặc kệ, không khuyên răn, không ngăn cản, không giải thích.
8. Làm việc không có kế hoạch, gặp sao làm vậy, làm lấy lệ, làm không có ngăn nắp, làm không đến nơi đến chốn.
9. Tự cho mình là “cách mạng già”, “cách mạng cũ”; việc to làm không nổi, việc nhỏ không chịu làm. Làm việc thì lờ mờ, học hành thì biếng nhác.
10. Biết mình có khuyết điểm, nhưng không chịu cố gắng sửa đổi.
Những tật bệnh đó khiến cho Đảng xệch xoạc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ. Chính sách không thi hành được triệt để, Đảng xa rời dân chúng.
Mắc phải bệnh đó thì dễ đi đến chỗ để lợi ích cá nhân lên trên, để lợi ích Đảng và dân tộc xuống dưới.
Một người cách mạng bao giờ cũng phải trung thành, hăng hái, xem lợi ích của Đảng và dân tộc quý hơn tính mệnh của mình. Bao giờ cũng quang minh chính trực, ham cách sinh hoạt tập thể, luôn luôn săn sóc dân chúng, giữ gìn kỷ luật, kiên quyết chống lại “bệnh cá nhân”.
đ) Bệnh lười biếng – Khi tiếp được mệnh lệnh hoặc nghị quyết, không chịu nghiên cứu rõ ràng. Không lập tức đưa ngay mệnh lệnh và nghị quyết đó cho cấp dưới, cho đảng viên, cho binh sĩ. Cứ xếp lại đó. Khi thi hành, kềnh kềnh càng càng, không hoạt bát nhanh chóng.
Hoặc thi hành một cách miễn cưỡng, không sốt sắng, không đến nơi đến chốn. Kết quả nhỏ là: Nghị quyết đầy túi áo, thông cáo đầy túi quần. Kết quả nặng là: phá hoại tổ chức của Đảng, giảm bớt kỷ luật của Đảng, bỏ mất thời cơ tốt, lúc nên làm thì không làm, khi làm thì trễ rồi. Đó là vì tính lười biếng, chậm chạp. Vì không hiểu rằng: Đảng cũng như thân thể một con người. Mệnh lệnh và nghị quyết cũng như mạch máu. Mạch máu chạy đều khắp thân thể thì người mạnh khoẻ. Mạch máu dừng lại đâu, không chạy thì chỗ đó sẽ tê liệt, sinh bệnh. Mệnh lệnh và nghị quyết đi mau, đi suốt từ trên đến dưới, công tác mau chóng, việc gì cũng xong xuôi. Nó ngừng lại cấp nào, từ cấp đó trở xuống là tê liệt, không biết đường nào mà công tác.
Cách chữa:
– Các cơ quan chỉ đạo phải có cách lãnh đạo cho đúng. Mỗi việc gì đều phải chỉ bảo cách làm.
– Cấp trên phải hiểu rõ tình hình cấp dưới và tình hình quần chúng, để chỉ đạo cho đúng.
– Khi nghị quyết việc gì, phải cẩn thận, rõ ràng. Khi đã nghị quyết thì phải kiên quyết thi hành.
Mỗi nghị quyết phải mau chóng truyền đến các cấp dưới, đến đảng viên, đến dân chúng. Cách tiện nhất là khai hội với các đảng viên, khai hội với dân chúng (hoặc binh sĩ), phái người đến báo cáo, giải thích.
– Các cấp dưới, đảng viên và dân chúng (hoặc binh sĩ) phải thảo luận những mệnh lệnh và nghị quyết đó cho rõ ràng, hiểu thấu ý nghĩa của nó và định cách thi hành cho đúng.
– Cấp dưới cần phải báo cáo. Cấp trên cần phải kiểm soát.
e) Bệnh tị nạnh – Cái gì cũng muốn “bình đẳng”.
Thí dụ: Cấp trên vì công việc phải cưỡi ngựa, đi xe. Cấp dưới cũng muốn cưỡi ngựa, đi xe.
Người phụ trách nhiều việc, cần có nhà rộng. Người không phụ trách nhiều việc, cũng đòi nhà rộng.
Phụ cấp cho thương binh cũng muốn nhất luật, không kể thương nặng hay nhẹ.
Làm việc gì, thì muốn già, trẻ, mạnh, yếu đều làm bằng nhau.
Có việc, một người làm cũng được, nhưng cũng chờ có đủ mọi người mới chịu làm.
Bệnh này sinh ra vì hiểu lầm hai chữ bình đẳng. Không hiểu rằng: người khoẻ gánh nặng, người yếu gánh nhẹ. Người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc dễ thì ăn ít. Thế là bình đẳng.
Cách chữa – Giải thích cho họ hiểu: đồng cam cộng khổ là một điều rất hay, rất tốt. Nhất là trong lúc cái gì cũng còn túng thiếu, và mỗi đảng viên, mỗi cán bộ cần phải làm kiểu mẫu trong sự cần lao, tiết kiệm. Nhưng cũng phải tuỳ theo hoàn cảnh. Cái gì thái quá cũng không tốt. Bình đẳng thái quá cũng không tốt. Thí dụ: Nếu một chiến sĩ bị thương được đi xe, ăn ngon, các chiến sĩ khác đều đòi đi xe, đòi ăn ngon . Hoặc vì bình đẳng mà bắt buộc một trẻ em cũng ăn nhiều, cũng gánh nặng, như một người lớn. Nếu như thế là bình đẳng, thì bình đẳng đó rất vô lý, rất xấu, chúng ta phải kiên quyết chống lại thứ bình đẳng đó.
Sợ mất oai tín và thể diện mình, không dám tự phê bình.
Lại nói: Nếu phê bình khuyết điểm của mình, của đồng chí mình, của Đảng và Chính phủ, thì địch sẽ lợi dụng mà công kích ta.
Nói vậy là lầm to. Khuyết điểm cũng như chứng bệnh. Phê bình cũng như uống thuốc. Sợ phê bình, cũng như có bệnh mà giấu bệnh. Không dám uống thuốc. Để đến nỗi bệnh ngày càng nặng, không chết “cũng la lết quả dưa”.
Nói về từng người, nể nang không phê bình, để cho đồng chí mình cứ sa vào lầm lỗi, đến nỗi hỏng việc. Thế thì khác nào thấy đồng chí mình ốm, mà không chữa cho họ. Nể nang mình, không dám tự phê bình, để cho khuyết điểm của mình chứa chất lại. Thế thì khác nào mình tự bỏ thuốc độc cho mình!
Nói về Đảng, một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính.
Đảng cần phải biết những ưu điểm và khuyết điểm của mình để dạy dỗ đảng viên, dạy dỗ quần chúng. Sợ phê bình, tức là “quan liêu hoá”, tức là tự mãn tự túc, tức là “mèo khen mèo dài đuôi”.
Phê bình không phải để công kích, để nói xấu, để chửi rủa.
g) Bệnh xu nịnh, a dua – Lại có những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm, không có khí khái.
Còn bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, bệnh nóng tính, bệnh lụp chụp, v.v., đã nói qua, đây không nhắc nữa.
7. Những khuyết điểm sai lầm vì sao mà có và tự đâu mà đến?
Khuyết điểm đâu mà nhiều thế?
Đảng ta là một đảng rất to lớn, bao gồm đủ các tầng lớp trong xã hội. Vì vậy có nhiều tính cách rất trung thành, rất kiên quyết, rất vĩ đại. Song cũng không tránh khỏi những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên ngoài, nó lây, ngấm vào trong Đảng.
Nhưng không vì thế mà kinh sợ. Ta đã thấy rõ những bệnh ấy thì ta tìm được cách chữa.
Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, cần phải thật thà tự xét và xét đồng chí mình, ai có khuyết điểm nào, thì phải thật thà cố gắng tự sửa chữa và giúp sửa chữa lẫn nhau. Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình.
Đá đi lâu cũng mòn. Sắt mài lâu cũng sắc. Ta cố gắng sửa chữa thì khuyết điểm ngày càng bớt, ưu điểm ngày càng thêm. Đảng viên và cán bộ ngày càng trở nên người chân chính cách mạng. Đảng ngày càng phát triển.
Mong ai nấy đều phải thiết thực sửa đổi. Đảng ta là một tổ chức rất tiến bộ, đã có những thành tích rất vẻ vang.
Trong Đảng ta, gồm có những người có tài, có đức. Phần đông những người hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất, kiên quyết, dũng cảm nhất đều ở trong Đảng ta. Chúng ta chắc chắn đi đến thắng lợi và thành công.
Tuy vậy, không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay. Trong Đảng ta chưa hoàn toàn tránh khỏi một vài kẻ vu vơ, những việc không chính đáng, như vừa kể trên.
Cũng như một nhà có rể khờ, dâu dại, không thể cấm họ gặp gỡ bà con. Đảng ta dù muốn giấu những người và những việc không tốt kia, cũng không thể giấu. Quần chúng luôn luôn liên lạc với Đảng ta. Những người hăng hái đồng tình với Đảng ta, hoặc tham gia Đảng ta. Họ chẳng những trông thấy những người tốt, việc tốt, mà họ cũng trông thấy những người xấu, việc xấu trong Đảng. Họ sẽ ngơ ngác mà hỏi ” Đảng này là Đảng tốt, đảng viên đều là người tốt, vì sao lại có những người vu vơ, những việc mờ tối như thế nhỉ?”.
Câu hỏi đó làm cho chúng ta càng thêm chú ý, làm cho đảng viên và cán bộ phải cẩn thận giữ mình, và cẩn thận săn sóc, dắt dìu những người cảm tình, những đảng viên mới, chớ để họ bị ảnh hưởng xấu. Đồng thời, chúng ta phải trả lời cho câu hỏi đó cho đúng. Nếu không thì người ta sẽ thất vọng và bi quan.
Trả lời thế nào?
Rất là giản đơn, dễ hiểu:
Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu tự tư tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa, v.v.. Những thói xấu đó có đã lâu, nhất là trong 80 năm nô lệ. Những thói xấu đó, họ mang từ xã hội vào Đảng.
Cũng như những người hàng ngày lội bùn, mà trên mình họ có hơi bùn, có vết bùn. Như thế thì có gì là kỳ quái? Vì lội bùn thì nhất định có hơi bùn. Cần phải tắm rửa lâu mới sạch. Trái lại, nếu lội bùn mà không có hơi bùn, mới thật là kỳ quái. Nếu trong Đảng ta, một đảng mới từ trong xã hội cũ bước ra, nếu nó hoàn toàn không có những người xấu, việc xấu như thế mới là kỳ quái chứ! Cố nhiên nói thế không phải là để tự bào chữa.
Đảng một mặt phải làm công việc giải phóng dân tộc, một mặt phải giáo dục đảng viên và cán bộ, kiên quyết cảm hoá những phần tử xấu, sửa chữa những thói xấu còn lại. Phải cố sửa chữa cho tiệt nọc các chứng bệnh, khiến cho Đảng càng mạnh khoẻ, bình an.
8. Cách đối với các khuyết điểm
Vì Đảng rất to, người rất đông; mỗi hạng người lại có thói quen, tính nết, trình độ, tư tưởng, nhận xét khác nhau. Nhất là khi phong trào cách mạng càng sôi nổi, hoàn cảnh càng khó khăn, thì sự khác nhau đó càng rõ rệt, càng trở nên gay go.
Nên giải quyết những mối mâu thuẫn đó thế nào?
Có người thì cho rằng: trong Đảng việc gì cũng tốt, không có khuyết điểm gì đáng lo. Có người lại cho rằng: Trong Đảng cái gì cũng kém, đầy những khuyết điểm, vì vậy mà họ bi quan, thất vọng. Hai cách nhận xét đó đều không đúng.
Sự thật là: Đảng ta rất tiền tiến, rất vẻ vang. Nhưng nội bộ vẫn còn những sự sai lầm và khuyết điểm. Đồng thời, chúng ta thấy cái nguồn gốc của những sai lầm khuyết điểm đó, và chắc tìm được cách sửa chữa. Chúng ta quyết tâm công tác thêm, để làm cho Đảng tiến bộ thêm mãi.
Thái độ mỗi người đối với những khuyết điểm của Đảng ta cũng khác nhau.
Bọn phản động thì lợi dụng những khuyết điểm đó và tô vẽ thêm để phá hoại Đảng ta.
Lợi dụng những sai lầm và khuyết điểm đó, để đạt mục đích tự tư tự lợi của họ. Đó là thái độ của đảng viên và cán bộ đầu cơ.
Bọn thứ ba thì sao cũng mặc kệ, sao xong chuyện thì thôi. Không phê bình, không tự phê bình. Đó là thái độ của những đảng viên và cán bộ ươn hèn yếu ớt.
Bọn thứ tư thì đối với những người có khuyết điểm và sai lầm đó, như đối với hổ mang, thuồng luồng. Họ đòi phải đuổi bọn kia ra khỏi Đảng ngay. Nếu Đảng không làm như thế thì họ cho rằng: Thôi, hỏng hết rồi! Do đó, họ đâm ra chán nản, thất vọng. Hoặc họ không làm gì nữa hết. Thậm chí họ bỏ Đảng. Đó là thái độ những người máy móc quá. Đó cũng là bệnh “chủ quan”.
Thái độ thứ năm, là thái độ đúng. Tức là:
a) Phân tách rõ ràng, cái gì đúng, cái gì là sai.
b) Không chịu nổi ảnh hưởng của những chủ trương sai lầm, những phần tử không tốt. Ra sức học tập và nâng cao những kiểu mẫu tốt.
c) Không để mặc kệ. Mà ra sức tranh đấu sửa chữa những khuyết điểm, không để nó phát triển ra, không để nó có hại cho Đảng.
d) Không làm cách máy móc. Nhưng khéo dùng cách phê bình và tự phê bình để giúp đồng chí khác sửa đổi những sai lầm và khuyết điểm, giúp họ tiến bộ.
đ) Đoàn kết Đảng bằng sự tranh đấu nội bộ. Nâng cao kỷ luật và uy tín của Đảng.
Bọn phản động và bọn đầu cơ là địch nhân lọt vào trong Đảng để phá hoại. Vì vậy chúng ta phải ra sức đề phòng. Mỗi khi trong Đảng có khuyết điểm thì chúng ta phải tìm cách chớ để cho ai lợi dụng. Đó là phận sự của mỗi một đảng viên chân chính.
Thái độ thứ ba, ai mặc kệ ai, cố nhiên cũng không đúng. Tuy vậy, trong Đảng, còn có nhiều người giữ thái độ đó, nhất là khi cấp dưới đối với cấp trên. Thái độ đó thường sinh ra thói “không nói trước mặt, hục hặc sau lưng”. Nó gây nên sự uất ức và không đoàn kết trong Đảng. Nó để cho bọn vu vơ có thể chui vào hoạt động trong Đảng. Nó để cho khuyết điểm ngày càng chồng chất lại và phát triển ra.
Nếu theo thái độ thứ tư thì Đảng chỉ còn một nhóm cỏn con, vì số đông sẽ bị khai trừ hết. Mà chính những người có thái độ đó cũng bị khai trừ, vì họ đã phạm cái khuyết điểm hẹp hòi.
Kết luận – Trong công tác, trong tranh đấu, trong huấn luyện, các đảng viên, các cán bộ, cần phải luôn luôn tự hỏi mình, tự kiểm điểm mình và đồng chí mình. Luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình, thì khuyết điểm nhất định hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi.
C. TƯ CÁCH VÀ BỔN PHẬN ĐẢNG VIÊN
1. Tư cách
a) Thừa nhận chính sách của Đảng. Thực hành các nghị quyết của Đảng. Ra sức làm công việc Đảng. Nộp đảng phí.
b) Những người trí thức, công nhân, nông dân, phụ nữ, quân nhân, hăng hái yêu nước, từ 18 tuổi trở lên đều được vào Đảng.
c) Mỗi người muốn vào Đảng phải có hai đảng viên cũ giới thiệu.
– Những người bỏ đảng phái khác mà vào Đảng, phải có ba người giới thiệu, và phải được cấp trên của Đảng chuẩn y.
– Những người rời Đảng đã lâu, mà có người làm chứng rằng, trong thời gian đó không hề làm việc gì có hại cho Đảng, thì được trở lại làm đảng viên.
d) Những người mới vào Đảng phải qua một thời kỳ dự bị. Nông dân và công nhân hai tháng. Quân nhân ba tháng. Trí thức bốn tháng.
đ) Trong thời kỳ dự bị, Đảng phải dạy dỗ cho họ, và trao việc cho họ làm. Đồng thời, Đảng phải xem xét tính nết, công tác và lịch sử của họ.
– Những người giới thiệu phải giúp đỡ họ học tập và công tác.
e) Những người dự bị phải công tác cho Đảng và nộp đảng phí.
Họ có quyền tham gia huấn luyện, đề ra ý kiến, bàn bạc các vấn đề, nhưng không có quyền biểu quyết.
Họ cũng chưa có quyền giữ các trách nhiệm chỉ đạo như làm tổ trưởng, thư ký, v.v.. (Trong những hoàn cảnh đặc biệt, như nơi đó mới bắt đầu có Đảng, hoặc đại đa số đều đảng viên mới, thì không phải theo lệ này).
2. Bổn phận
a) Suốt đời tranh đấu cho dân tộc, cho Tổ quốc.
b) Đặt lợi ích của cách mạng lên trên hết, lên trước hết.
c) Hết sức giữ kỷ luật và giữ bí mật của Đảng.
d) Kiên quyết thi hành những nghị quyết của Đảng.
đ) Cố gắng làm kiểu mẫu cho quần chúng trong mọi việc.
e) Cố gắng học tập chính trị, quân sự, văn hoá. Phải gần gũi quần chúng, học hỏi quần chúng, cũng như phải lãnh đạo quần chúng. 19/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh VII. CHỐNG THÓI BA HOA
1. Thói ba hoa là gì?
Chúng ta chống bệnh chủ quan, chống bệnh hẹp hòi, đồng thời cũng phải chống thói ba hoa. Vì thói này cũng hại như hai bệnh kia. Vì ba thứ đó thường đi với nhau. Vì thói ba hoa còn, tức là bệnh chủ quan và bệnh hẹp hòi cũng chưa khỏi hẳn.
Thói ba hoa từ đâu ra?
Vì chúng ta trước kia học chữ Hán, sau này học chữ Pháp, cho nên khi nói khi viết, hay dùng chữ Hán và theo cách Pháp. Thành thử dài dòng mà khó hiểu, khó nghe. Lại cũng vì chủ quan và hẹp hòi.
Thói ba hoa tỏ ra nhiều vẻ.
a) Dài dòng, rỗng tuếch – Nhiều anh em hay viết dài. Viết dòng này qua dòng khác, trang này qua trang khác. Nhưng không có ích cho người xem. Chỉ làm tốn giấy tốn mực, mất công người xem. Khác nào vải băng bó mụn lở, đã thối lại dài.
Viết làm gì dài dòng và rỗng tuếch như thế? Chỉ có một cách trả lời: Là quyết không muốn cho quần chúng xem. Vì đã dài lại rỗng, quần chúng trông thấy đã lắc đầu, ai còn dám xem nữa? Kết quả chỉ để cho những ai vô công rồi nghề xem, và người xem cũng mắc phải thói xấu như người viết.
Trong lúc kháng chiến này, chiến sĩ trước mặt trận phải đánh giặc, đồng bào ở hậu phương phải tăng gia sản xuất. Ai có thời giờ đâu mà xem những bài dài quá.
Viết dài mà rỗng, thì không tốt. Viết ngắn mà rỗng, cũng không hay. Chúng ta phải chống tất cả những thói rỗng tuếch. Nhưng trước hết phải chống thói đã rỗng lại dài.
Thế những sách lý luận, hoặc cuốn sách này chẳng hạn, không phải dài sao?
Phải. Nó dài, nhưng mỗi câu, mỗi chữ có một ý nghĩa, có một mục đích, không phải rỗng tuếch.
Tục ngữ nói: “Đo bò làm chuồng, đo người may áo”. Bất kỳ làm việc gì cũng phải có chừng mực. Viết và nói cũng vậy. Chúng ta chống là chống nói dài, viết rỗng. Chứ không phải nhất thiết cái gì cũng phải ngắn mới tốt.
Viết và nói cố nhiên phải vắn tắt. Song trước hết phải có nội dung. Phải chữa cho hết bệnh nói dài, viết rỗng.
b) Có thói “cầu kỳ” – Trên các báo, sách, bức tường, thường có những bức vẽ, những khẩu hiệu, nhiều người xem không ra, đọc không được.
Họ cho thế là “mỹ thuật”. Kỳ thực, họ viết, họ vẽ, để họ xem thôi.
Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nếu không vậy, thì cũng như cố ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem.
Nhiều người tưởng: Mình viết gì, nói gì, người khác cũng đều hiểu được cả. Thật ra, hoàn toàn không như thế. Dùng cả đoạn chữ Hán, dùng từng đống danh từ lạ, nói hoặc viết theo cách Tây, mỗi câu dài dằng dặc, thì quần chúng hiểu sao được?
Tục ngữ nói “gẩy đờn tai trâu” là có ý chế người nghe không hiểu. Song những người tuyên truyền mà viết và nói khó hiểu, thì chính người đó là “trâu”.
Muốn làm bạn, phải hiểu nhau. Nếu không hiểu nhau, không thành bạn. Người tuyên truyền không điều tra, không phân tách, không nghiên cứu, không hiểu biết quần chúng, chỉ gặp sao nói vậy, bạ gì viết nấy, nhất định thất bại.
c) Khô khan, lúng túng – Nói đi nói lại, cũng chẳng qua kéo ra những chữ “tích cực, tiêu cực, khách quan, chủ quan”, và một xốc danh từ học thuộc lòng. Thậm chí những danh từ đó dùng cũng không đúng. Chỉ làm cho quần chúng chán và ngủ gật.
Chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng, phải học cách nói của quần chúng, mới nói lọt tai quần chúng.
Tục ngữ có câu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Nói cũng phải học, mà phải chịu khó học mới được. Vì cách nói của dân chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực, mà lại rất giản đơn. Anh em đi tuyên truyền chưa học được cách nói đó, cho nên khi viết, khi nói, khô khan, cứng nhắc, không hoạt bát, không thiết thực.
Tiếng ta còn thiếu, nên nhiều lúc phải mượn tiếng nước khác, nhất là tiếng Trung Quốc. Nhưng phải có chừng có mực. Tiếng nào ta sẵn có thì dùng tiếng ta.
Có nhiều người có bệnh “dùng chữ Hán”, những tiếng ta sẵn có không dùng mà dùng chữ Hán cho bằng được. Thí dụ: Ba tháng không nói ba tháng mà nói “tam cá nguyệt”. Xem xét, không nói xem xét mà nói “quan sát”, v.v..
Nhưng sẽ “tả” quá nếu những chữ Hán đã hoá thành tiếng ta, ai cũng hiểu, mà cố ý không dùng. Thí dụ: Độc lập mà nói “đứng một”, du kích thì nói “đánh chơi”. Thế cũng là tếu.
Chúng ta không chống mượn tiếng ngoại quốc để làm cho tiếng ta đầy đủ thêm. Nhưng chúng ta phải chống cách mượn không phải lối, mượn đến nỗi bỏ cả tiếng ta, đến nỗi quần chúng không hiểu.
Chẳng những các người phụ trách tuyên truyền, những người viết báo, viết sách, những người nghệ sĩ là người tuyên truyền, mà tất cả cán bộ, tất cả đảng viên, hễ những người có tiếp xúc với dân chúng đều là người tuyên truyền của Đảng. Vì vậy, ai cũng phải học nói nhất là học nói cho quần chúng hiểu.
Nhiều người, trước khi nói không sắp sửa kỹ càng. Lúc ra nói hoặc lắp lại những cái người trước đã nói. Hoặc lắp đi lắp lại cái mình đã nói rồi. Lúng túng như gà mắc tóc. Thôi đi thì trẽn. Nói nữa thì chán tai.
d) Báo cáo lông bông – Một là báo cáo giả dối. Thành công ít, thì suýt ra nhiều. Còn khuyết điểm thì giấu đi, không nói đến. Thành thử cấp trên không hiểu rõ tình hình mà đặt chính sách cho đúng. Hoặc báo cáo chậm trễ. Thành thử khi cấp trên nhận được báo cáo, thì việc đã trễ rồi, không đối phó kịp.
Hai là trong báo cáo chỉ thấy 1, 2, 3, 4 hoặc a, b, c, v.v.. Không nêu rõ vấn đề ra. Không phân tách, không đề nghị cách giải quyết các vấn đề. Không nói rõ tán thành hoặc phản đối.
Sao gọi là vấn đề ? Khi việc gì có mâu thuẫn, khi phải tìm cách giải quyết, tức là có vấn đề. Khi đã có vấn đề, ta phải nghiên cứu cho rõ cái gốc mâu thuẫn trong vấn đề đó là gì. Phải điều tra, phải nghiên cứu cái mâu thuẫn đó. Phải phân tách rõ ràng và có hệ thống, phải biết rõ cái nào là mâu thuẫn chính, cái nào là mâu thuẫn phụ. Phải đề ra cách giải quyết.
Gặp mỗi vấn đề, đều phải kinh qua ba bước: Đề nó ra, phân tách nó (điều tra, nghiên cứu, sắp đặt), giải quyết nó.
Khi viết một bài hoặc khi diễn thuyết cho khỏi rỗng tuếch, cũng phải như thế.
đ) Lụp chụp cẩu thả – Những tệ kể trên, một phần vì thiếu kinh nghiệm, mà một phần vì tính lụp chụp, cẩu thả.
Một thí dụ rất rõ ràng: Mỗi ngày, chúng ta ai cũng rửa mặt. Rửa mặt rồi, thì chải đầu. Nhiều người chải đầu rồi, còn soi gương xem đã sạch, đã mượt chưa. Nếu viết bài và diễn thuyết cũng cẩn thận như thế thì chắc không đến nỗi có nhiều khuyết điểm.
Không biết rõ, hiểu rõ, chớ nói, chớ viết. Khi không có gì cần nói, không có gì cần viết, chớ nói, chớ viết càn. Khi viết xong một bài báo, một bản báo cáo, hoặc thảo một bài diễn văn, nhất định phải đọc lại vài lần. Mình tự phê bình bài của mình, hỏi ý kiến đồng chí khác. Những câu những chữ thừa, vô ích bỏ đi.
Rửa mặt phải kỳ xát vài ba lần mới sạch. Viết văn, diễn thuyết cũng phải như vậy.
e) Bệnh theo “sáo cũ” – Chẳng những viết, nói, có thói ba hoa, mà huấn luyện, khai hội cũng mắc chứng đó.
Mở lớp huấn luyện là một việc rất tốt, rất cần. Nhưng phải hiểu rằng: Học cốt để mà làm. Học mà không làm được, học mấy cũng vô ích.
Vì vậy huấn luyện phải thiết thực, sao cho những người đến học, học rồi, về địa phương họ có thể thực hành ngay. Nhiều đồng chí ta không hiểu cái lẽ rất giản đơn đó. Cho nên họ đã đưa “thặng dư giá trị” nhồi sọ cho thanh niên và phụ nữ nông dân. Họ đã đưa “tân dân chủ chủ nghĩa” nhồi sọ các em nhi đồng. Họ đã đưa “biện chứng pháp” nhồi sọ công nhân đang học quốc ngữ.
Chỉ trong một cuộc khai hội ở địa phương, chúng ta đã có thể thấy rất nhiều khuyết điểm.
1. Kém chuẩn bị – Đảng viên đến chỗ khai hội rồi, mà cũng chưa biết vì việc gì mà khai hội. Đến khi chủ tịch mời mọi người phát biểu ý kiến thì quần chúng ai có sẵn ý kiến mà phát biểu ?
2. Nói mênh mông – Thường thường đại biểu cấp trên đến khai hội với cấp dưới, trong lúc khai hội, chỉ một mình “ông” đại biểu, hay “bà” đại biểu nói, nói hàng hai, ba giờ đồng hồ. Nói mênh mông trời đất. Nói gì cũng có. Nhưng chỉ chừa một điều không nói đến là những việc thiết thực cho địa phương đó, những việc mà dân chúng ở đó cần biết, cần hiểu, cần làm, thì không nói đến!
3. Không đúng giờ – Hẹn khai hội tám giờ thì chín, mười giờ mới đến. Làm mất thời giờ của những người khác. Họ không hiểu rằng: Giữ đúng thời giờ là một tính tốt của người cách mạng, nhất là trong lúc kháng chiến này.
4. Giữ nếp cũ – Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, cũng khư khư giữ theo nếp cũ:
1. Tình hình thế giới.
2. Tình hình Đông Dương.
3. Báo cáo công tác.
4. Thảo luận.
5. Phê bình.
6. Giải tán.
Hiểu biết tình hình thế giới và trong nước, cố nhiên là việc hay, việc cần. Nhưng khổ thay! Nếu có đại biểu cấp cao đến, thì ông ấy kéo hàng giờ nào kế hoạch Mácsan, nào xứ Paragoay, nào gì gì, mà bà con không hiểu chi hết ! Nếu chỉ cán bộ cấp xã, thì biết đâu tình hình thế giới mà nói. Thế mà điểm thứ nhất cứ phải là “tình hình thế giới”.
Kết quả là việc thiết thực, việc đáng làm thì không bàn đến.
g) Nói không ai hiểu – Đảng thường kêu gọi khoa học hoá, dân tộc hoá, đại chúng hoá. Khẩu hiệu đó rất đúng. Tiếc vì nhiều cán bộ và đảng viên, có “hoá” gì đâu! Vẫn cứ chứng cũ, nếp cũ đó. Thậm chí, miệng càng hô “đại chúng hoá”, mà trong lúc thực hành thì lại “tiểu chúng hoá”. Vì những lời các ông ấy nói, những bài các ông ấy viết, đại chúng không xem được, không hiểu được. Vì họ không học quần chúng, không hiểu quần chúng.
Nhiều tờ truyền đơn, nhiều bản nghị quyết, nhiều khẩu hiệu của Đảng, mục đích và ý nghĩa rất đúng. Nhưng viết một cách cao xa, mầu mè, đến nỗi chẳng những quần chúng không hiểu, mà cả cán bộ cũng không hiểu.
Thí dụ: Vừa rồi đây, đi đến đâu cũng thấy dán những khẩu hiệu:
“Chống cô độc”
“Chống chủ quan”
“Chống địa phương”.
Nhưng khi hỏi kỹ, thì hơn chín phần mười cán bộ cấp dưới không hiểu gì hết. Họ nói: Cấp trên bảo dán cứ phải dán, chứ thật ra chúng tôi không hiểu. Thậm chí có người luôn miệng đọc là “chống quan địa phương”.
Than ôi! Khẩu hiệu cách mạng của Đảng mà hoá ra lá bùa của thầy cúng. Lỗi đó tự ai ? Thế mà bảo “đại chúng hoá”, “dân tộc hoá” thì hoá cái gì?
Mỗi khẩu hiệu của Đảng phải là cái ý nguyện và mục đích của hàng ức đảng viên và của hàng triệu dân chúng. Mà muốn như thế, phải làm cho dân chúng đều hiểu, phải học cách nói của dân chúng. Nếu không hàng vạn khẩu hiệu cũng vô ích.
h) Bệnh hay nói chữ – Tiếng ta có thì không dùng, mà cứ ham dùng chữ Hán. Dùng đúng, đã là một cái hại, vì quần chúng không hiểu. Nhiều người biết không rõ, dùng không đúng, mà cũng ham dùng, cái hại lại càng to.
Thí dụ: Pháp và Việt gian bắt buộc đồng bào đi biểu tình, mà một tờ báo nọ của đoàn thể viết là những “cuộc biểu tình tự động”. Dùng quân đội quét một vùng, tiếng Trung Quốc gọi là tảo đãng, mà một tờ báo của đoàn thể viết là “tảo đảm”. Lại có tờ viết là “tảo đảng”!
Tục ngữ nói: “xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”. Cái bệnh nói chữ đó đã lây ra, đã làm hại đến quần chúng. Vì vậy, có người đã nói:
“Chúng tôi xin thông phong” (xung phong).
“Các đồng chí phải luyến ái nhau” (thân ái nhau), v.v.. Trong một cuộc khai hội phụ nữ, có chị cán bộ nọ lên nói: “Thưa chị em, tôi xin bá cáo kinh nguyệt của tôi trong tháng này”.
Không, đó không phải là những chuyện cười, đó là những chuyện thật. Những chuyện thật đáng đau lòng, do bệnh hay nói chữ sinh ra hoặc do bệnh dốt sinh ra.
2. Cách chữa thói ba hoa.
Trên đây đã kể qua những chứng ba hoa. Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ đều phải ra sức sửa chữa bệnh đó. Nếu không, sẽ có hại to cho công việc của Đảng.
Sau đây là liều thuốc chữa thói ba hoa. Mọi người phải hiểu, phải nhớ, phải thực hành:
1. Phải học cách nói của quần chúng. Chớ nói như cách giảng sách.
Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng.
2. Phải luôn luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ giản đơn, thiết thực và dễ hiểu.
3. Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng hiểu được. Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm theo lời kêu gọi của mình. Bao giờ cũng phải tự hỏi: “Ta viết cho ai xem? Nói cho ai nghe”?
4. Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết.
5. Trước khi nói, phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận. Phải nhớ câu tục ngữ: “Chó ba quanh mới nằm. Người ba năm mới nói”.
Sau khi viết rồi, phải xem đi xem lại ba, bốn lần. Nếu là một tài liệu quan trọng, phải xem đi xem lại chín, mười lần.
Làm được như thế – đảng viên và cán bộ ta quyết phải làm như thế – thì thói ba hoa sẽ bớt dần dần cho đến khi hoàn toàn hết sạch mà công việc của Đảng, tư cách của cán bộ và đảng viên sẽ do đó mà tăng thêm./.
Tháng 10 năm 1947
—————————-
Nxb. Sự thật xuất bản lần đầu tiên năm 1948
Xuất bản lần thứ 7, năm 1959.
Theo sách xuất bản lần thứ 7, năm 1959. 19/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh D- PHẢI RÈN LUYỆN TINH ĐẢNG
Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, cần phải có tính đảng mới làm được việc. Kém tính đảng, thì việc gì cũng không làm nên.
Tính đảng là gì?
Một là: Phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết.
Hai là: Việc gì cũng phải điều tra rõ ràng, cẩn thận và phải làm đến nơi đến chốn.
Phải hiểu rằng: Đảng có hiểu rõ tình hình thì đặt chính sách mới đúng. Mà muốn Đảng hiểu rõ thì đảng viên và cán bộ phải điều tra và báo cáo rõ ràng tình hình từng xã, từng huyện, từng tỉnh, từng khu.
Nếu không biết rõ tình hình mà đặt chính sách thì kết quả là “nồi vuông úp vung tròn”, không ăn khớp gì hết.
Ba là: Lý luận và thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau.
Vì kém tính đảng mà có những bệnh sau này:
Bệnh ba hoa, Bệnh chủ quan, Bệnh địa phương, Bệnh hình thức, Bệnh ham danh vị, Bệnh ích kỷ, Bệnh thiếu kỷ luật, Bệnh hủ hoá, Bệnh cẩu thả (gặp sao hay vậy), Bệnh thiếu ngăn nắp, Bệnh xa quần chúng, Bệnh lười biếng.
Mắc phải một bệnh trong mười hai bệnh đó tức là hỏng việc. Vì vậy, chúng ta phải ráo riết dùng phê bình và tự phê bình để giúp nhau chữa cho hết những bệnh ấy. Có như thế Đảng mới chóng phát triển.
Phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình.
Tự phê bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của mình.
Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau. Mục đích là cho mọi người học lẫn ưu điểm của nhau và giúp nhau chữa những khuyết điểm.
Về mặt Đảng thì phải thực hành những điều sau này:
1. Phải nghiêm ngặt kiểm tra, các địa phương phải kiên quyết thực hành những nghị quyết của Đảng. Kiên quyết chống lại cái thói nghị quyết một đường, thi hành một nẻo.
2. Nơi nào sai lầm, ai sai lầm, thì lập tức sửa chữa. Kiên quyết chống thói nể nang và che giấu, chống thói “trước mặt thì nể, kể lể sau lưng”. Phê bình thì phải rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, thành thật – mục đích là cốt sửa chữa, chứ không phải để công kích, cốt giúp nhau tiến bộ, chứ không phải làm cho đồng chí khó chịu, nản lòng.
3. Phải kiên quyết thực hành kỷ luật, tức là cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương.
4. Phải đòi hỏi mỗi đảng viên, trước hết là mỗi cán bộ, phải thật thà tự phê bình, tự sửa chữa những khuyết điểm của mình. Đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết. Kiên quyết chống bệnh tự mãn tự túc, tự tư tự lợi, kiêu ngạo, ba hoa. Phải thực hành khẩu hiệu: “Chí công vô tư; cần, kiệm, liêm, chính!”
V. VẤN ĐỀ CÁN BỘ
1. Huấn luyện cán bộ
Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng.
Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc.
Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng.
Đảng có mở những lớp huấn luyện cán bộ. Nhưng đại đa số cán bộ, hoặc bận công việc, hoặc xa xôi quá, chưa được huấn luyện. Đối với những cán bộ đó, Đảng cần phải tìm cách huấn luyện họ (hoặc mở lớp ở địa phương, hoặc gửi sách vở cho họ nghiên cứu, v.v.).
Khuyết điểm trong sự huấn luyện – Đã có nơi mở lớp huấn luyện, thế rất tốt. Song những lớp ấy còn nhiều khuyết điểm. Thí dụ: huấn luyện cho cán bộ trong các cơ quan hành chính mà không đụng đến công việc hành chính.
Còn dạy chính trị thì mênh mông mà không thiết thực, học rồi không dùng được.
Phần đông cán bộ là công nhân và nông dân, văn hoá rất kém. Đảng chưa tìm đủ cách để nâng cao trình độ văn hoá của họ.
Huấn luyện lý luận cho những cán bộ cao cấp, đến nay hoặc chưa làm, hoặc làm không đúng, lý luận và thực tế không ăn khớp với nhau, dạy theo cách học thuộc lòng.
Đó là những điều Đảng nên sửa chữa ngay, theo cách sau đây:
a) Huấn luyện nghề nghiệp
Phải thực hành khẩu hiệu: làm việc gì học việc ấy.
Vô luận ở quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, tổ chức, tuyên truyền, công an, v.v., cán bộ ở môn nào phải học cho thạo công việc ở trong môn ấy.
Những cơ quan lãnh đạo và những người phụ trách phải có kế hoạch dạy cho cán bộ trong môn của mình, do các cấp Đảng giúp vào. Cách học tập gồm có 5 môn:
1. Điều tra: Tình hình có quan hệ với công tác của mình. Thí dụ: Môn quân sự, thì điều tra, phân tách, nghiên cứu rõ ràng tình hình của địch, của bạn, của ta, chọn những điểm chính làm tài liệu huấn luyện cho cán bộ.
2. Nghiên cứu: Những chính sách, chỉ thị, nghị quyết. Thí dụ: Cán bộ về môn tài chính, phải hiểu rõ chính sách tài chính và những nghị quyết về tài chính của Chính phủ.
3. Kinh nghiệm: Thí dụ: Ban tuyên truyền thì gom góp tất cả những kinh nghiệm thành công hoặc thất bại trong công việc tuyên truyền, chép thành tài liệu huấn luyện, cho cán bộ tuyên truyền học.
4. Lịch sử: Thí dụ: Môn kinh tế thì đem những sự thay đổi trong nền kinh tế của nước ta trong thời kỳ gần đây làm tài liệu huấn luyện.
5. Khoa học: Thí dụ: Các cán bộ quân sự thì phải nghiên cứu khoa học quân sự, cán bộ y tế phải nghiên cứu y học. Cán bộ môn nào thì nghiên cứu lý luận của môn ấy.
Các cơ quan lãnh đạo của mỗi môn phải gom góp tài liệu, sắp xếp cách dạy và học, kiểm tra kết quả, sao cho cán bộ trong môn mình dần dần đi đến thạo công việc.
b) Huấn luyện chính trị
Có hai thứ: Thời sự và chính sách.
Cách huấn luyện thời sự là khuyên gắng và đốc thúc các cán bộ xem báo, thảo luận và giải thích những vấn đề quan trọng, và định kỳ khai hội cán bộ, báo cáo thời sự.
Huấn luyện chính sách là đốc thúc các cán bộ nghiên cứu và thảo luận những nghị quyết, những chương trình, những tuyên ngôn của Đảng, của Chính phủ.
Huấn luyện chính trị, môn nào cũng phải có. Nhưng phải tuỳ theo mỗi môn mà định nhiều hay ít. Thí dụ: cán bộ chuyên môn về y tế, về văn nghệ, v.v. thì ít hơn. Cán bộ về tuyên truyền, tổ chức, v.v., thì phải nghiên cứu chính trị nhiều hơn.
c) Huấn luyện văn hoá
Với những cán bộ còn kém văn hoá, thì việc huấn luyện này rất trọng yếu. Trước hết phải dạy cho họ những thường thức: lịch sử, địa dư, làm tính, khoa học tự nhiên, xã hội, chính trị, cách viết báo cáo, nghĩa vụ và quyền lợi người công dân.
Các bài học do một ban phụ trách sắp xếp.
Lớp học do một hoặc vài ba cơ quan tổ chức với nhau.
Những lớp đó cần phải có giáo viên luôn luôn phụ trách và giáo viên ngoài giúp việc.
Các cán bộ có thể thay phiên nhau mà đi học.
Cần phải ưu đãi các giáo viên và khen thưởng những lớp tổ chức tốt.
Những cán bộ học trong những lớp này, phải theo trình độ văn hoá cao hay thấp mà đặt lớp, chứ không theo cấp bậc cán bộ cao hay thấp.
d) Huấn luyện lý luận
Những cán bộ cao cấp và trung cấp mà có sức nghiên cứu lý luận (trình độ văn hoá khá, ham nghiên cứu), thì ngoài việc học tập chính trị và nghề nghiệp đều cần học thêm lý luận.
Huấn luyện lý luận có hai cách:
Một cách là chỉ đem lý luận khô khan nhét cho đầy óc họ. Rồi bày cho họ viết những chương trình, những hiệu triệu rất kêu. Nhưng đối với việc thực tế, tuyên truyền, vận động, tổ chức, kinh nghiệm chỉ nói qua loa mà thôi. Thế là lý luận suông, vô ích.
Một cách là trong lúc học lý luận, phải nghiên cứu công việc thực tế, kinh nghiệm thực tế. Lúc học rồi, họ có thể tự mình tìm ra phương hướng chính trị có thể làm những công việc thực tế, có thể trở nên người tổ chức và lãnh đạo. Thế là lý luận thiết thực , có ích.
Lý luận do kinh nghiệm cách mạng ở các nước và trong nước ta, do kinh nghiệm từ trước và kinh nghiệm hiện nay gom góp phân tích và kết luận những kinh nghiệm đó thành ra lý luận.
Nhưng phải biết khéo lợi dụng kinh nghiệm. Nếu thấy người ta làm thế nào mình cũng một mực bắt chước làm theo thế ấy. Thí dụ: Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng.
Trái lại, kinh nghiệm các nước và ở nước ta đều nói: Phải gần gụi dân chúng, vào sâu trong dân chúng. Điều này rất đúng. Ta phải kiên quyết thực hành theo kinh nghiệm đó.
Kinh nghiệm các nước và ở nước ta nói: Phải kiên quyết chống bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi, bệnh ba hoa. Ta cũng phải kiên quyết chống những bệnh đó vì nhận thấy ta thường mắc phải và các bệnh này rất có hại cho công tác, rất hại cho Đảng.
Học tập – Khuôn khổ học tập, chia ra khoa học chính trị, khoa học kinh tế, khoa học lịch sử, v.v., mà học dần dần.
Học tập thì theo nguyên tắc: Kinh nghiệm và thực tế phải đi cùng nhau. Thí dụ: khoa học chính trị dùng sách vở, bài báo bàn về chiến lược, chiến thuật làm tài liệu lý luận; lấy lịch sử và kinh nghiệm tranh đấu của Đảng làm tài liệu thực tế.
Khoa học kinh tế lấy “kinh tế chính trị học” làm tài liệu lý luận, lấy lịch sử kinh tế của nước ta gần 100 năm nay làm tài liệu thực tế.
Các môn khác cũng thế.
Cách học tập: Tổ chức từng ban cao cấp hoặc trung cấp. Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào.
– Sắp xếp thời gian và bài học cho những lớp đó, phải cho khéo, phải có mạch lạc với nhau, mà không xung đột với nhau.
– Vô luận công tác môn nào, lớp huấn luyện nào, đều phải tuyệt đối chống bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi, bệnh ba hoa. Các tài liệu huấn luyện phải do cơ quan lãnh đạo xét kỹ.
– Cách huấn luyện này là huấn luyện lâu dài. Cho nên nguyên tắc là: để phát triển nghề nghiệp mà không trở ngại đến nghề nghiệp và sức khoẻ của cán bộ. ở các cơ quan, mỗi ngày ít nhất phải học tập một tiếng đồng hồ. Những nơi vì hoàn cảnh kháng chiến đặc biệt, thời giờ dài hay ngắn, tuỳ theo điều kiện mà định. Những giờ học tập đều tính như những giờ làm việc. Khi cất nhắc cán bộ, phải xem kết quả học tập cũng như kết quả công tác khác mà định.
– Cách kiểm tra, thi khảo, thưởng phạt những lớp đó, do Trung ương định.
– Các cơ quan cần phải rất chú ý đến việc huấn luyện cán bộ. Phải lựa chọn rất cẩn thận những nhân viên phụ trách việc huấn luyện đó. Những người lãnh đạo cần phải tham gia việc dạy. Không nên bủn xỉn về các khoản chi tiêu trong việc huấn luyện.
2. Dạy cán bộ và dùng cán bộ
Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém.
Vì vậy, Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta.
Đảng ta là một đoàn thể đấu tranh. Trong cuộc tranh đấu thường hao tổn một số cán bộ quý báu. Vì vậy, chúng ta càng phải quý cán bộ, phải bổ sung cán bộ, phải giữ gìn cán bộ cũ và đào tạo cán bộ mới. Mặt trận dân tộc ngày càng rộng, nảy nở ra hàng ngàn hàng vạn người hăng hái, tham gia vào Đảng ta. Họ hăng hái nhưng lý luận còn thiếu, kinh nghiệm còn ít. Trong công tác, họ thường gặp những vấn đề to tát, họ phải tự giải quyết. Vì vậy chúng ta cần phải đặc biệt chú ý săn sóc những cán bộ đó.
Vì vậy, vấn đề cán bộ là một vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp.
Đối với vấn đề đó, Đảng phải làm thế nào?
1. Phải biết rõ cán bộ – Từ trước đến nay, Đảng ta chưa thực hành cách thường xem xét cán bộ. Đó là một khuyết điểm to. Kinh nghiệm cho ta biết: mỗi lần xem xét lại nhân tài, một mặt thì tìm thấy những nhân tài mới, một mặt khác thì những người hủ hoá cũng lòi ra.
2. Phải cất nhắc cán bộ một cách cho đúng. Cất nhắc cán bộ là một công tác cần kíp. Khi cất nhắc một cán bộ, cần phải xét rõ người đó có gần gụi quần chúng, có được quần chúng tin cậy và mến phục không. Lại phải xem người ấy xứng với việc gì. Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc.
Nếu cất nhắc không cẩn thận, không khỏi đem người bô lô ba la, chỉ nói mà không biết làm, vào những địa vị lãnh đạo. Như thế rất có hại.
3. Phải khéo dùng cán bộ – Không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay. Vì vậy, chúng ta phải khéo dùng người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ. Thường chúng ta không biết tuỳ tài mà dùng người. Thí dụ: thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao. Thành thử hai người đều lúng túng. Nếu biết tuỳ tài mà dùng người, thì hai người đều thành công.
4. Phải phân phối cán bộ cho đúng – Thí dụ: Trong một nơi quan trọng ở một thành thị to thì phải phái những cán bộ có quan hệ
khăng khít với quần chúng. Họ là người trong quần chúng mà ra, có sáng kiến, tinh thần, chắc chắn, chí khí vững vàng. Phải dùng người đúng chỗ, đúng việc.
5. Phải giúp cán bộ cho đúng – Phải luôn luôn dùng lòng thân ái mà giúp đỡ, lãnh đạo cán bộ. Giúp họ sửa chữa những chỗ sai lầm. Khen ngợi họ lúc họ làm được việc. Và phải luôn luôn kiểm soát cán bộ.
6. Phải giữ gìn cán bộ – Tại những nơi phải công tác bí mật khi cần thì phải phái cán bộ mới thế cho cán bộ cũ, và phái cán bộ cũ đi nơi khác.
Phải tìm mọi cách để giữ bí mật cho cán bộ.
3. Lựa chọn cán bộ
a) Những người đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, trong lúc đấu tranh.
b) Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng. Luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng. Như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ đó là người lãnh đạo của họ.
c) Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề, trong những hoàn cảnh khó khăn.
Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải người lãnh đạo.
Người lãnh đạo đúng đắn cần phải: Khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo. Khi thi hành các nghị quyết kiên quyết, gan góc không sợ khó khăn.
d) Những người luôn luôn giữ đúng kỷ luật.
Đó là những khuôn khổ để lựa chọn cán bộ, chúng ta phải theo cho đúng.
Trong Đảng ta, có những nơi thường dùng những người văn hay nói khéo, nhưng không làm được việc, không ra tranh đấu. Mà những đồng chí viết không hay nói không thạo nhưng rất trung thành, hăng hái, rất gần gũi quần chúng, thì bị dìm xuống. Chúng ta phải sửa chữa ngay những điểm đó.
Đã lựa chọn đúng cán bộ còn cần phải dạy bảo lý luận cho cán bộ. Chỉ thực hành mà không có lý luận cũng như có một mắt sáng, một mắt mù
4. Cách đối với cán bộ
Phong trào giải phóng sôi nổi, nảy nở ra rất nhiều nhân tài ngoài Đảng. Chúng ta không được bỏ rơi họ, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ. Phải thân thiết với họ, gần gũi họ, đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước.
Chúng ta phải tẩy sạch các bệnh kiêu ngạo, bệnh hẹp hòi, bệnh bao biện.
Tóm lại, đối với cán bộ có năm cách:
a) Chỉ đạo – Thả cho họ làm, thả cho họ phụ trách, dù sai lầm chút ít cũng không sợ. Nhưng phải luôn luôn tuỳ theo hoàn cảnh mà bày vẽ cho họ về phương hướng công tác, cách thức công tác, để cho họ phát triển năng lực và sáng kiến của họ, đúng với đường lối của Đảng.
b) Nâng cao – Luôn luôn tìm cách cho họ học thêm lý luận và cách làm việc, làm cho tư tưởng, năng lực của họ ngày càng tiến bộ.
c) Kiểm tra – Không phải ngày nào cũng kiểm tra. Nhưng thường thường kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Giao công việc mà không kiểm tra, đến lúc thất bại mới chú ý đến. Thế là không biết yêu dấu cán bộ.
d) Cải tạo – Khi họ sai lầm thì dùng cách “thuyết phục” giúp cho họ sửa chữa. Không phải một sai lầm to lớn, mà đã vội cho họ là “cơ hội chủ nghĩa”, đã “cảnh cáo”, đã “tạm khai trừ”. Những cách quá đáng như thế đều không đúng.
đ) Giúp đỡ – Phải cho họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc. Khi họ đau ốm, phải có thuốc thang. Tuỳ theo hoàn cảnh mà giúp họ giải quyết vấn đề gia đình. Những điều đó rất quan hệ với tinh thần của cán bộ, và sự thân ái đoàn kết trong Đảng.
5. Mấy điểm lớn trong chính sách cán bộ
Đảng ta gồm có hàng triệu người, hàng vạn cán bộ. Trong đó, sĩ, công, nông, thương, binh đều có. Từng lớp xã hội khác nhau, trình độ, văn hoá khác nhau; tính tình cá nhân cũng không giống hệt.
Sao cho đối đãi đúng với mọi người? Đó là một vấn đề rất trọng yếu. Vì vậy, chúng ta cần phải chú ý mấy việc dưới đây:
Hiểu biết cán bộ, Khéo dùng cán bộ, Cất nhắc cán bộ, Thương yêu cán bộ, Phê bình cán bộ.
a) Hiểu biết cán bộ – Biết người, cố nhiên là khó. Tự biết mình, cũng không phải là dễ.
Đã không tự biết mình thì khó mà biết người, vì vậy muốn biết đúng sự phải trái ở người ta, thì trước phải biết đúng sự phải trái của mình. Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu. Người ta thường phạm những chứng bệnh sau này:
1. Tự cao tự đại,
2. Ưa người ta nịnh mình,
3. Do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người,
4. Đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau.
Phạm một trong bốn bệnh đó thì cũng như mắt đã mang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông.
Muốn biết rõ cán bộ, muốn đối đãi một cách đúng đắn các hạng người, trước hết phải sửa những khuyết điểm của mình. Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng.
Trong thế giới, cái gì cũng biến hoá. Tư tưởng của người cũng biến hoá. Vì vậy cách xem xét cán bộ, quyết không nên chấp nhất, vì nó cũng phải biến hoá. Thí dụ: Có người khi trước theo cách mạng mà nay lại phản cách mạng. Có người khi trước không cách mạng mà nay lại tham gia cách mạng. Thậm chí có người nay đang theo cách mạng, nhưng sau này có thể phản cách mạng.
Một người cán bộ khi trước có sai lầm, không phải vì thế mà sai lầm mãi. Cũng có cán bộ đến nay chưa bị sai lầm, nhưng chắc gì sau này không phạm sai lầm? Quá khứ, hiện tại và tương lai của mọi người không phải luôn giống nhau.
Xem xét cán bộ, không chỉ xem ngoài mặt mà còn phải xem tính chất của họ. Không chỉ xem một việc, một lúc mà phải xem toàn cả lịch sử, toàn cả công việc của họ. Có người lúc phong trào cách mạng cao, họ vào Đảng, họ làm việc rất hăng. Nhưng lúc phong trào hơi khó khăn thì đâm ra hoang mang. Lúc gặp sự nguy hiểm thậm chí hoá phản cách mạng, làm mật thám. Muốn làm mật thám được việc, thì nó lại công tác hăng hơn ai hết. Nếu ta không xem xét rõ ràng, thì lầm nó là cán bộ tốt.
Vì vậy, nhận xét cán bộ không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc, mà phải xét kỹ cả toàn bộ công việc của cán bộ.
Ai mà hay khoe công việc, hay a dua, tìm việc nhỏ mà làm, trước mặt thì theo mệnh lệnh, sau lưng thì trái mệnh lệnh, hay công kích người khác, hay tự tâng bốc mình, những người như thế, tuy họ làm được việc, cũng không phải cán bộ tốt.
Ai cứ cắm đầu làm việc, không ham khoe khoang, ăn nói ngay thẳng, không che giấu khuyết điểm của mình, không ham việc dễ, tránh việc khó, bao giờ cũng kiên quyết làm theo mệnh lệnh của Đảng, vô luận hoàn cảnh thế nào, lòng họ cũng không thay đổi, những người như thế, dù công tác kém một chút cũng là cán bộ tốt.
Người ở đời, ai cũng có chỗ tốt và chỗ xấu. Ta phải khéo nâng cao chỗ tốt, khéo sửa chữa chỗ xấu cho họ.
b) Khéo dùng cán bộ – Lúc dùng cán bộ, nhiều người phạm vào những chứng bệnh sau đây:
1. Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài.
2. Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực.
3. Ham dùng những người tính tình hợp với mình, mà tránh những người tính tình không hợp với mình.
Vì những bệnh đó, kết quả những người kia đã làm bậy, mình cũng cứ bao dung, che chở, bảo hộ, khiến cho chúng càng ngày càng hư hỏng. Đối với những người chính trực thì bới lông tìm vết để trả thù. Như thế, cố nhiên là hỏng cả công việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo.
Thế nào là dùng cán bộ đúng?
– Mình phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ khỏi bị bỏ rơi.
– Phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gụi những người mình không ưa.
– Phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ.
– Phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt.
– Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần gụi mình.
Mục đích khéo dùng cán bộ, cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và Chính phủ. Nếu cán bộ có ý hoang mang, sợ hãi, buồn rầu, uất ức, hoặc công tác không hợp, chắc không thành công được.
Vì vậy, muốn cán bộ làm được việc, phải khiến cho họ yên tâm làm việc, vui thú làm việc. Muốn như thế, phải thực hành những điểm này:
1. Khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến. Người lãnh đạo muốn biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của mình, muốn biết công tác của mình tốt hay xấu, không gì bằng khuyên cán bộ mình mạnh bạo đề ra ý kiến và phê bình. Như thế, chẳng những không phạm gì đến uy tín của người lãnh đạo mà lại tỏ ra dân chủ thật thà trong Đảng.
Nếu cán bộ không nói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế là một hiện tượng rất xấu. Vì không phải họ không có gì nói, nhưng vì họ không dám nói, họ sợ. Thế là mất hết dân chủ trong Đảng. Thế là nội bộ của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức, không dám nói ra, do uất ức mà hoá ra oán ghét, chán nản.
Như thế mà muốn cán bộ công tác cho giỏi thì sao được?
2. Khiến cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc. Cố nhiên việc hay hay dở, một phần do cán bộ đủ năng lực hay không. Nhưng một phần cũng do cách lãnh đạo đúng hay không. Năng lực của người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có mà một phần lớn do công tác, do tập luyện mà có. Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hoá ra tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hoá ra tài nhỏ.
Khi giao công tác cho cán bộ cần phải chỉ đạo rõ ràng, sắp đặt đầy đủ. Vạch rõ những điểm chính, và những khó khăn có thể xảy ra. Những vấn đề đã quyết định rồi, thả cho họ làm, khuyên gắng họ cứ cả gan mà làm. Cũng như trong quân đội, khi chiến lược chiến thuật và nhiệm vụ đã quyết định rồi, vị Tổng tư lệnh không cần nhúng vào những vấn đề lặt vặt. Phải để cho các cấp chỉ huy có quyền “tuỳ cơ ứng biến”, mới có thể phát triển tài năng của họ. Việc gì cấp trên cũng nhúng vào, cán bộ cũng như một cái máy, việc gì cũng chờ mệnh lệnh, sinh ra ỷ lại, mất hết sáng kiến.
Trước khi trao công tác, cần phải bàn kỹ với cán bộ. Nếu họ gánh không nổi, chớ miễn cưỡng trao việc đó cho họ. Khi đã trao cho họ phải hoàn toàn tin họ. Không nên sớm ra lệnh này, trưa đổi lệnh khác.
Nếu không tin cán bộ, sợ họ làm không được, rồi việc gì mình cũng nhúng vào. Kết quả thành chứng bao biện, công việc vẫn không xong. Cán bộ thì vơ vẩn cả ngày, buồn rầu, nản chí.
Phải đào tạo một mớ cán bộ phụ trách, có gan làm việc, ham làm việc. Có thế Đảng mới thành công.
Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng.
3. Không nên tự tôn, tự đại, mà phải nghe, phải hỏi ý kiến của cấp dưới.
Nếu ý kiến các đồng chí cấp dưới đúng, ta phải nghe theo, khuyên họ thường đề thêm ý kiến, để nâng tinh thần và sáng kiến của họ.
Nếu ý kiến của họ không đúng, ta nên dùng thái độ thân thiết, giải thích cho họ hiểu. Quyết không nên phùng mang trợn mắt, quở trách, giễu cợt họ.
Nếu họ phê bình ta, ta phải vui vẻ thừa nhận. Không nên tỏ vẻ bất bình, để lần sau họ không dám phê bình nữa.
Nếu có cán bộ không yên tâm làm việc, ta phải xét rõ cái chỗ lãnh đạo không đúng của ta, để thuyết phục và khuyên gắng người đó. Nếu vì công tác không hợp với năng lực của họ, phải tìm công việc thích hợp hơn cho họ làm.
c) Phải có gan cất nhắc cán bộ – Cất nhắc cán bộ, phải vì công tác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái. Như thế, công việc nhất định chạy.
Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng. Như thế là có tội với Đảng, có tội với đồng bào.
Trước khi cất nhắc cán bộ, phải nhận xét rõ ràng. Chẳng những xem xét công tác của họ, mà còn phải xét cách sinh hoạt của họ. Chẳng những xem xét cách viết, cách nói của họ, mà còn phải xem xét việc làm của họ có đúng với lời nói, bài viết của họ hay không.
Chẳng những xem xét họ đối với ta thế nào, mà còn phải xem xét họ đối với người khác thế nào. Ta nhận họ tốt, còn phải xét số nhiều đồng chí có nhận họ tốt hay không. Phải biết ưu điểm của họ, mà cũng phải biết khuyết điểm của họ, không nên chỉ xem công việc của họ trong một lúc, mà phải xem cả công việc của họ từ trước đến nay.
Biết rõ ràng cán bộ, mới có thể cất nhắc cán bộ một cách đúng mực.
Cất nhắc cán bộ, không nên làm như “giã gạo”. Nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ. Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ. Khi họ sai lầm thì đẩy xuống, chờ lúc họ làm khá, lại cất nhắc lên. Một cán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời. Đối với cán bộ, chẳng những phải xem xét rõ ràng trước khi cất nhắc. Mà sau khi đã cất nhắc phải giúp đỡ họ, khuyên gắng họ, vun trồng lòng tự tin, tự trọng của họ.
Ai cũng có lòng tự trọng, tự tin. Không có lòng tự trọng, tự tin là người vô dụng.
Nhưng khoe khoang, kiêu ngạo không phải là tự trọng. Đó là một chứng bệnh. Vì vậy, người lãnh đạo cần phải tôn trọng lòng tự tin, tự trọng của các đồng chí mình.
Nếu để sai lầm và khuyết điểm trở nên to tát rồi mới đem ra “chỉnh” một lần, thế là “đập” cán bộ. Cán bộ bị “đập”, mất cả lòng tự tin, người hăng hái cũng hoá thành nản chí, từ nản chí đi đến vô dụng.
Vì vậy hễ thấy cán bộ sai lầm, phải lập tức sửa chữa ngay. Nếu không việc to quá, họ làm không nổi, tốt nhất là đổi việc khác cho thích hợp với họ, mà không cần cho họ biết vì họ không làm nổi việc kia. Đó là để giữ lòng hăng hái của họ, để cho họ khỏi nản lòng.
d) Yêu thương cán bộ – Không phải vài ba tháng, hoặc vài ba năm, mà đào tạo được một người cán bộ tốt. Nhưng cần phải công tác, tranh đấu, huấn luyện lâu năm mới được. Trái lại, trong lúc tranh đấu, rất dễ mất một người cán bộ. Vì vậy, Đảng phải thương yêu cán bộ.
Nhưng thương yêu không phải là vỗ về, nuông chiều, thả mặc.
Thương yêu là giúp họ học tập thêm, tiến bộ thêm. Là giúp họ giải quyết những vấn đề khó khăn sinh hoạt, ngày thường thì điều kiện dễ chịu, khi đau ốm được chăm nom, gia đình họ khỏi khốn quẫn, v.v..
Thương yêu là luôn luôn chú ý đến công tác của họ, kiểm thảo họ. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp cho họ sửa chữa ngay, để vun trồng cái thói có gan phụ trách, cả gan làm việc của họ. Đồng thời, phải nêu rõ những ưu điểm, những thành công của họ. Làm thế không phải là làm cho họ kiêu căng, mà cốt làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức. Phải vun đắp chí khí của họ, để đi đến chỗ “bại cũng không nản, thắng cũng không kiêu”. Lúc phê bình họ, ta chớ có thái độ gay gắt. Lúc khen ngợi họ, ta phải cho họ hiểu rằng: năng lực của mỗi người đều có giới hạn, tuy có thành công cũng chớ kiêu ngạo. Kiêu ngạo là bước đầu của thất bại.
đ) Đối những cán bộ sai lầm– Người đời ai cũng có khuyết điểm. Có làm việc thì có sai lầm.
Chúng ta không sợ có sai lầm và khuyết điểm, chỉ sợ không chịu cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm. Và càng sợ những người lãnh đạo không biết tìm cách đúng để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyết điểm.
Trừ những người cố ý phá hoại, ngoài ra không ai cố ý sai lầm, sai lầm là vì không hiểu, không biết. Vì vậy, đối với cán bộ bị sai lầm, ta quyết không nên nhận rằng họ muốn như thế, mà công kích họ. Trái lại, ta phải dùng thái độ thân thiết, giúp họ tìm ra cái cớ vì sao mà sai lầm? Sai lầm như thế, sẽ có hại đến công việc thế nào? Làm thế nào mà sửa chữa? Tóm lại, phải phê bình cho đúng.
Muốn họ thành tâm sửa chữa, phải giải thích rõ ràng, làm cho họ tự trông thấy, tự nhận rõ sự sai lầm đó, làm cho họ vui lòng sửa đổi, chứ không phải bị cưỡng bức mà sửa đổi.
Sự sửa đổi khuyết điểm, một phần cố nhiên là trách nhiệm của cán bộ đó. Nhưng một phần cũng là trách nhiệm của người lãnh đạo.
Sửa chữa sai lầm, cố nhiên cần dùng cách giải thích thuyết phục, cảm hoá, dạy bảo. Song không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Lầm lỗi có việc to, việc nhỏ. Nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng.
Vì vậy, cần phải phân tách rõ ràng cái cớ sai lầm, phải xét kỹ lưỡng việc nặng hay nhẹ, phải dùng xử phạt cho đúng.
Cách đối với cán bộ là một điều trọng yếu trong sự tổ chức công việc. Cách đối với cán bộ có khéo, có đúng thì mới thực hiện được nguyên tắc: “Vấn đề cán bộ quyết định mọi việc”.
Phê bình cho đúng, chẳng những không làm giảm thể diện và uy tín của cán bộ, của Đảng. Trái lại, còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín và thể diện càng tăng thêm./. 19/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Ngày 01/12/1962…!!
————————
“Để làm tròn nhiệm vụ cao quý của mình, văn nghệ sĩ cần phải rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao tinh thần phục vụ nhân dân, giữ gìn thái độ khiêm tốn; phải thật sự hòa mình với quần chúng, cố gắng học tập chính trị, trau dồi nghề nghiệp; phải hết lòng giúp đỡ thanh niên, làm cho văn nghệ nước nhà ngày càng thêm trẻ thêm xuân”.
Đây là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài nói tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ III, ngày 01 tháng 12 năm 1962, đăng trên Báo Nhân dân, số 3173, ra ngày 02 tháng 12 năm 1962.
Là người đặt nền móng cho nền văn học nghệ thuật cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã có công xây dựng một nền văn nghệ mới, thường xuyên sâu sát và có những lời chỉ bảo tận tình, cần thiết cho đội ngũ những người làm công tác văn hóa văn nghệ, đặc biệt là các anh chị em nghệ sĩ. Lời căn dặn của Bác rõ ràng, dễ hiểu nhưng là bài học sâu sắc, tinh tế có giá trị định hướng cụ thể về nhận thức, tư tưởng và hành động nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác, mài sắc ý chí chiến đấu cho những người cầm bút.
Thực hiện lời Bác dạy, trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hàng chục ngàn văn nghệ sĩ đã “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” đến với tiền tuyến lớn, lăn lộn trên các chiến trường đầy khói lửa và có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp thống nhất nước nhà. Sau ngày đất nước thống nhất, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới đất nước, đội ngũ văn nghệ sĩ nước nhà tiếp tục phát huy tài năng sáng tạo của mình, thật sự hòa mình vào cuộc sống lao động sản xuất, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, phấn đấu có nhiều tác phẩm xuất sắc, xứng đáng với tầm vóc của cách mạng, với dân tộc Việt Nam.
Hiện nay, lời căn dặn của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, có ý nghĩa to lớn nhằm động viên văn nghệ sĩ cả nước bồi dưỡng cái tâm và cái tài, khám phá, sáng tạo nên nhiều tác phẩm hay và tốt phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến đội ngũ văn nghệ sĩ – những người chiến sĩ tiên phong trên mặt tư tưởng, văn hóa của Đảng và đã xác định rõ trách nhiệm của lực lượng này là cần phải nêu cao trách nhiệm trước nhân dân, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng giáo dục, xây dựng con người; tích cực cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, với thiên nhiên, đồng thời phê phán những thói hư tật xấu, lên án cái ác, cái thấp hèn…
———————
Sách Hồ Chí Minh: Toàn tập, 19/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Dân ta phải giữ nước ta,
Dân là con nước, nước là mẹ chung”.
Là câu thơ do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm và đọc chiều ngày 23 tháng 12 năm 1946 trong văn kiện có nhan đề “Hỏi và trả lời” nhằm giải thích và tuyên truyền cho cuộc kháng chiến toàn quốc mới bùng nổ. Với quyết tâm: “…Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”; bởi Tổ quốc là Tổ quốc chung, Tổ quốc độc lập thì ai cũng được tự do. Nếu mất nước thì ai cũng phải làm nô lệ. Mỗi người đều phải có bổn phận với đất nước, khi Tổ quốc lâm nguy thì mọi tầng lớp người Việt Nam đều có chung một kẻ thù, một nhiệm vụ là đứng lên chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện Lời kêu gọi của Người, toàn quân, toàn dân đã đồng lòng, quyết tâm đứng lên với tinh thần: “Ai có súng dùng súng, ai có gương dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân, cứu nước” đã chiến đấu, chiến thắng cuộc chiến tranh dài ngày nhất của thực dân Pháp xâm lược. Thắng lợi đó được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa của thế kỷ XX, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi, đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc.
Trọng dân, gần dân, thân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, vì nhân dân quên mình, chăm lo đến lợi ích của dân, dân chủ với dân, thật sự tôn vinh nhân dân làm chủ xã hội là một tư tưởng lớn, mang tính văn hóa, nhân văn, nhân đạo cao cả và tính cách mạng, tính nhân dân sâu sắc của Hồ Chí Minh được Đảng, Nhà nước quán triệt, thực hiện trong các văn kiện của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Với chủ trương xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân, thực hiện nhất quán phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã trực tiếp tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giữ vững độc lập, toàn vẹn lãnh thổ; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạn, dân chủ, công bằng, văn minh”.
_____________
Ngày 23-12-1923, trên số báo “Ogniok” xuất bản tại nước Nga Xô viết đã đăng bài báo có nhan đề “Thăm một chiến sỹ Quốc tế Cộng sản – Nguyễn Ái Quốc” của nhà thơ Xô viết Êxớp Manđenxtam, thuật lại cuộc gặp gỡ giữa tác giả và Nguyễn Ái Quốc trong đó nhà cách mạng Việt Nam đã bày tỏ: “Thật thú vị là chính quyền Pháp đã dạy cho những người nông dân chúng tôi biết những từ “bônsêvích” và “Lênin”. Chúng lùng bắt những người cộng sản trong dân chúng, trong khi chẳng có người cộng sản nào, hoàn toàn không có ngay cả trong ý niệm, và như vậy chính chúng đã tuyên truyền cho chủ nghĩa bônsêvích và Lênin”. Còn tác giả bài viết thì đưa ra nhận xét: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai… Dân An Nam là một dân tộc giản dị và lịch thiệp. Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”.
Ngày 23-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp với các đảng phái bàn về việc thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời trên tinh thần đại đoàn kết dân tộc, cùng đưa ra “Văn kiện 14 điều thỏa thuận” trong đó nhất trí “Trong Chính phủ liên hiệp chính thức, Hồ Chí Minh tiên sinh làm Chủ tịch, Nguyễn Hải Thần tiên sinh làm Phó Chủ tịch…”.
Chiều 23-12-1946, Bác thảo văn kiện có nhan đề “Hỏi và trả lời” nhằm giải thích và tuyên truyền cho cuộc kháng chiến toàn quốc mới bùng nổ. Văn kiện viết: “Có người hỏi kháng chiến sẽ bao giờ thắng lợi. Tôi trả lời: Giồng khoai 3 tháng mới có củ, giồng lúa 4 tháng mới được ăn… Thử xem Trung Quốc kháng chiến 8 năm mới thắng lợi… Muốn trị lửa phải dùng nước. Địch muốn tốc chiến, tốc thắng. Ta lấy trường kỳ kháng chiến trị nó, thì địch nhất định thua, ta nhất định thắng…”. Trả lời nhiều câu hỏi như: “Toàn dân kháng chiến là thế nào?”, Bác trả lời rồi đưa ra câu thơ:
“Dân ta phải giữ nước ta,
Dân là con nước, nước là Mẹ chung”.
Trả lời câu hỏi: “Đồng bào ở hậu phương nên làm việc gì?”, Bác cũng có mấy vần thơ:
“Tiền phương chiến sỹ hy sinh,
Đem xương máu mình giữ nước non ta.
Hậu phương sản xuất tăng gia,
Cũng là kháng chiến, cũng là vẻ vang”.
Ngày 23-12-1963, trong bài viết có nhan đề “Miền Nam tất thắng”, đăng trên Báo Nhân Dân, bình luận về cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, Bác nhận định “chúng sẽ đảo lẫn nhau và cuối cùng nhân dân sẽ đảo cả lũ chúng”.
Ngày 23-12-1964, Báo Nhân Dân công bố trả lời của Bác với Hãng Thông tấn Côplây (Hồng Kông), trong đó khẳng định: “Nếu Mỹ tiến công Bắc Việt Nam, chúng tôi sẽ kiên quyết đánh lại”. Để giải quyết vấn đề Việt Nam “chỉ có một cách là Mỹ phải tôn trọng Hiệp định Giơnevơ…, phải chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam…, chấm dứt những hành động chiến tranh đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. 19/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Từ khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng, thì Ban Dân vận là ban đầu tiên của Đảng tổ chức cuộc hội thảo như thế này. Nên chăng các ban, các tổ chức khác của Đảng, các bộ của Chính phủ cũng tổ chức những cuộc hội thảo khoa học để quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh vào công việc của mình, ngành mình thì chắc là tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ đi sâu vào cuộc sống hơn nữa.
Bài báo Dân vận của Bác về công tác dân vận hay quá, đến nay vẫn còn có tính thời sự đối với chúng ta.
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh: Tất cả vì dân, tất cả do dân, có dân là có tất cả. "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân"1, không có gì cao cả hơn là phục vụ dân. Quan niệm của Bác Hồ về dân là như thế. Cho nên, bài Dân vận tuy ngắn nhưng nội dung và ý nghĩa của nó lại rất lớn và rất quan trọng.
Trong lịch sử cổ, trung, cận, hiện đại người ta cũng đã bàn tới chữ dân. Thời kỳ trước đây ở Liên Xô nếu nói đến chữ "Dân" sẽ bị quy kết là phái "Dân túy". Nhưng ở Việt Nam, Bác Hồ nói đến "Dân" thì tất cả chúng ta ở trong Đảng cũng như ngoài Đảng đều chấp nhận. Vậy phải chăng Bác xem nhẹ vấn đề giai cấp. Không, hoàn toàn không phải như vậy. Nghiên cứu quan niệm về "Dân" của Hồ Chí Minh cần có quan điểm lịch sử cụ thể xuất phát từ yếu tố đặc thù trong truyền thống của dân tộc ta. Bởi vì, trong xã hội ta, từ xưa đến nay, người ta thường phân biệt "quan và dân”. Thời kỳ Bác ra đi tìm đường cứu nước, hay thời Bác thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trong xã hội ta, sự phân hóa giai cấp cũng chưa sâu sắc như ở các xã hội tư bản phương Tây. Giai cấp công nhân Việt Nam lúc đó số lượng còn nhỏ, tuyệt đại bộ phận là nông dân. Tư bản bản xứ mới hình thành. Năm 1929, tôi viết một bài nghiên cứu về giai cấp tư sản ở nước ta, thống kê các công ty tư bản ở Đông Dương có vốn trên một triệu đồng có 29 công ty, trong đó chỉ có một công ty là của người Việt Nam thôi. Như thế, rõ ràng trong xã hội ta lúc đó phân hóa giai cấp chưa sâu sắc.
Rõ ràng, không phải Bác Hồ khi nói đến "Dân" là không có quan điểm giai cấp, mà trái lại, ta thấy nhiều bài nói và viết khi xác định lực lượng của cách mạng Bác vẫn lấy "dân chúng với công nông là nòng cốt". Người còn nói: "muốn cách mệnh thành công thì phải có đảng cách mệnh". Đảng phải tập hợp những phần tử ưu tú của công nhân, nông dân và trí thức. Như thế là "Dân" ở Việt Nam là một phạm trù rất rộng mà vẫn bao hàm tính giai cấp.
Nhìn lại lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc, "Dân" là tất cả con cháu Lạc Hồng. Bác cho rằng, hễ ai là người Việt Nam thì ít nhiều đều có ý thức dân tộc và lòng yêu Tổ quốc, chỉ trừ một số ít bọn phản quốc, bọn phản bội. Do vậy, theo tư tưởng của Bác, đoàn kết là điểm "Mẹ". Cho nên, phải làm dân vận đối với tất cả mọi người, khơi dậy lòng yêu nước trong mỗi con người và tất cả mọi người, không để sót một ai, người nào cũng là đối tượng tranh thủ. Điều này thể hiện trong chính sách "đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết”, mà bây giờ ta đang thực hiện.
Nếu như hiện nay nói đến công tác dân vận mà không nói đến đại đoàn kết, không nói đến mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất để xây dựng đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội là không thực hiện đúng tư tưởng Hồ Chí Minh. Có lẽ, chỉ Hồ Chí Minh mới nói được câu bất hủ và độc đáo là: Mặt trận dân tộc thống nhất là một lực lượng cách mạng to lớn không những trong cách mạng giải phóng dân tộc mà cả trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đại hội Mặt trận vừa mới thông qua Cương lĩnh mà nội dung chủ yếu là làm sao đoàn kết tất cả mọi người dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Điều đó là cực kỳ quan trọng, là trở lại một trong những tư tưởng chiến lược rất cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
2. Vai trò của người dân qua các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc
Ba lần chống quân Mông - Nguyên vào thế kỷ XIII, dân tộc ta hưởng ứng lời hịch của Trần Hưng Đạo, phần lớn dân ta lúc ấy đều khắc hai chữ "Sát Thát” vào cánh tay để thể hiện ý chí quyết tâm đánh giặc và thắng giặc. Sức mạnh của trăm họ, của mọi người dân thật là to lớn. Lời hịch nổi tiếng đã động viên, vận động trăm họ vùng lên quyết chiến. Đó quả là một hình thức "dân vận" rất giỏi của cha ông lúc bấy giờ.
Vào thế kỷ XIII, xã hội ta là một xã hội phong kiến, kinh tế nông nghiệp lạc hậu; còn kẻ địch Mông - Nguyên tuy nước lớn, quân đông, nhưng về kinh tế - xã hội thì cũng vẫn còn phong kiến, kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Quân Mông - Nguyên xâm chiếm nước ta, dân tộc ta nhất tề đứng lên chống giặc ngoại xâm. Cả hai bên đánh nhau cũng chỉ với vũ khí thô sơ... Kết cục, ta đã chiến thắng, bởi dân tộc ta có sức mạnh vô biên đó là sức dân, lòng dân.
Bước vào thời kỳ lịch sử cận, hiện đại từ giữa thế kỷ XIX trở đi, cục diện thế giới đã đổi thay. Khi thực dân Pháp đến xâm lược nước ta thì Pháp đã là một nước tư bản chủ nghĩa, với nền công nghiệp bước đầu phát triển, quân đội được trang bị tương đối hiện đại. Trong lúc đó thì Việt Nam vẫn là một xã hội phong kiến, kinh tế lạc hậu, quân đội trang bị rất kém cỏi. Do vậy, phong trào kháng Pháp nổ ra ở khắp nơi, nhưng đều thất bại. Vấn đề đặt ra là, trong điều kiện so sánh lực lượng chênh lệch như vậy, làm thế nào để đánh thắng được kẻ địch tư bản đế quốc lớn mạnh. Điều đó không chỉ đặt ra cho nước ta mà còn cho nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới.
Tiếp nối truyền thống từ thời hai Bà Trưng, đến các thời đại sau này, ta đều tìm sức mạnh ở "Dân". Trong cục diện mới, phải làm sao phát động được sức mạnh mới của dân, một sức mạnh to lớn hơn nhiều lần thì mới thắng được kẻ thù. Phải đợi đến khi Đảng ta ra đời mới tìm ra được con đường cứu nước đúng đắn. Đảng ta và Bác Hồ đã đề ra được đường lối kháng chiến toàn dân, vũ trang toàn dân, kế tục và nâng cao truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc, khơi dậy tinh thần yêu nước của mỗi một người dân và của toàn thể nhân dân. Đoàn kết tạo nên một sức mạnh mới, sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thế kỷ XX.
Lời hịch kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ đã nêu rõ: Hỡi đồng bào toàn quốc, bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ... hễ là người Việt Nam thì đều phải đứng lên giết giặc cứu nước. Thử hỏi, trên thế giới đã có nước nào lại kêu gọi cả đàn bà, cả người già, người trẻ ra đánh giặc như Việt Nam. Mỗi một người dân phải là một chiến sĩ, mỗi một làng xóm phải là một pháo đài.
Sau này, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, kẻ thù là một nước đế quốc đầu sỏ, với tiềm lực kinh tế quân sự cực kỳ to lớn, Bác lại kêu gọi: 31 triệu đồng bào phải là 31 triệu dũng sĩ diệt Mỹ. Thực tế đã diễn ra như thế, chứ không phải nói văn chương, và ta đã chiến thắng.
Cho nên, Bác đã nói: cuộc chiến tranh của ta là một cuộc chiến tranh thực sự của nhân dân, nó là một cuộc chiến tranh toàn dân. Tư tưởng toàn dân đã tạo nên sức mạnh vô địch chiến thắng mọi kẻ thù. Nói như vậy, cũng có nghĩa là trong 30 năm chiến tranh, Đảng ta luôn xác định đúng đối tượng của công tác dân vận là mỗi một người dân, là toàn dân. Tổng kết công tác dân vận trong kháng chiến sẽ đưa lại những kinh nghiệm vô cùng quý giá. Toàn dân đoàn kết kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã đưa lại kết quả hào hùng: là một nước nhỏ mà lại là nước đầu tiên trên thế giới đánh thắng hai đế quốc to là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
3. Ai làm công tác dân vận?
Đảng ta có Ban Dân vận, có các tổ chức chính trị, xã hội, văn hóa, văn nghệ, khoa học, công nghệ, các đoàn thể nhân dân, các hiệp hội khoa học và nghệ thuật..., đều có nhiệm vụ vận động nhân dân. Các tổ chức ấy đã làm dân vận và đang làm dân vận. Có tổ chức làm tốt, có tổ chức làm chưa tốt, thậm chí cũng còn có tổ chức chưa làm. Vì vậy, nên tìm hiểu cho rõ nguyên nhân vì sao lại có tình hình đó? Từ khi có Nghị quyết Trung ương lần thứ tám đến nay, công tác dân vận của chúng ta đã có nhiều khởi sắc, tạo ra những phong trào tốt. Nhưng các báo cáo thường mới phản ánh mặt làm được, ít nói đến mặt chưa làm được. Thực tế, có những nơi vẫn còn là "vùng trắng" về công tác dân vận. Vậy ở những nơi đó ai sẽ đảm nhiệm công tác này.
Bác chỉ rõ: "Tất cả các cán bộ chính quyền, tất cả các cán bộ đoàn thể, tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân... đều phải phụ trách dân vận". Bác nói đến cán bộ chính quyền trước, vì Đảng ta là đảng cầm quyền; cán bộ chính quyền có chức năng ra quyết định về chính sách, về nhân sự, và thực hiện chính sách ấy. Tôi đồng ý với ý kiến cho rằng, chính quyền làm công tác dân vận bằng cách đề ra những chính sách đúng đắn hợp với lòng dân. Đương nhiên, không phải là mị dân, theo đuôi dân hay mệnh lệnh quan liêu. Trên cơ sở phát huy dân chủ, phát huy sáng kiến của dân, kết hợp thực tiễn với lý luận, thì chúng ta sẽ xây dựng được chính sách đúng đắn. Chính quyền còn có trách nhiệm tạo điều kiện và phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội để làm tốt công tác dân vận. Đáng chú ý là hiện nay còn không ít trường hợp không chịu lắng nghe dân, hoặc vì thiếu dân chủ nên dân không dám nói; hoặc có nghe dân nói nhưng rồi cứ để đấy, thậm chí có khi làm ngược lại.
Đảng có làm công tác dân vận không? Bác nói: "Tất cả cán bộ Đoàn thể... đều phải phụ trách dân vận". Đoàn thể đây là Đảng, bởi vì lúc bấy giờ Đảng chưa ra công khai. Dân vận là vận động nhân dân làm theo đường lối của Đảng. Khi mới thành lập, Đảng ta đã có đường lối hợp với lòng dân, hợp với xu thế của thời đại. Những năm 40, Đảng đã đề ra Mười chính sách lớn của Việt Minh được mọi tầng lớp nhân dân tin tưởng và hưởng ứng. Do làm tốt công tác dân vận nên đường lối và chính sách của Đảng đã biến thành sức mạnh phi thường; đảng viên lại gương mẫu, đi đầu trong sự nghiệp cứu nước, cho nên tuy số lượng đảng viên hồi đó chỉ mới có mấy ngàn mà đã phát động được cao trào cách mạng, cùng toàn dân đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công. Tiếp đó, trong suốt ba mươi năm kháng chiến, với đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn, phát huy được tiềm lực sáng tạo của nhân dân, Đảng và Nhà nước ta đã động viên, tổ chức toàn dân làm nên thắng lợi vĩ đại.
Đảng ta, Nhà nước ta và các tổ chức xã hội có nhiều kinh nghiệm và cách làm dân vận thật phong phú. Hồi còn hoạt động bí mật thì người này rỉ tai người kia, tranh thủ từng người, từng nhà, từng lúc để vận động; tổ chức các hội cứu quốc; ra lời kêu gọi đồng bào... Chúng ta cũng đã từng chứng kiến tác dụng to lớn của lời hịch - một phương thức làm công tác dân vận của Bác Hồ trong ngày toàn quốc kháng chiến. Phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, của chính quyền cũng là một hình thức làm dân vận. Cách này ta làm đã nhiều và tương đối có nền nếp. Cái tốt là có nhiều trường hợp Đảng, Nhà nước đã tổ chức lấy ý kiến của dân trước khi quyết định chủ trương, chính sách. Tiếc rằng, có nơi, có lúc vẫn còn tình trạng ý kiến của dân, của cơ sở chưa được phản ánh kịp thời, đầy đủ lên đến cấp có thẩm quyền quyết định.
Học tập để quán triệt nghị quyết là cần, nói chung là tốt. Nhưng cũng phải nói rằng, nghị quyết đã nhiều, học tập lại kéo dài ngày, có khi người phổ biến trình độ lại không bằng người nghe, nên thường mất nhiều thời gian mà lại chậm được triển khai vào cuộc sống.
Ngày nay, các phương tiện thông tin đại chúng phát triển cực kỳ nhanh: báo chí, phát thanh, truyền hình... Năm trước, trong dịp đi thăm Trung Quốc, Trưởng ban Tuyên huấn của bạn cho tôi biết lượng thông tin về các mặt đến với người dân có đến 80% là do các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó một phần khá quan trọng là của nước ngoài; 10% là do trong nhân dân truyền miệng với nhau; phần do các cơ quan có thẩm quyền phổ biến chỉ chiếm 10%. Chúng ta cần thấy vai trò hết sức quan trọng của các phương tiện thông tin đại chúng để có chủ trương, kế hoạch phát triển, quản lý và sử dụng phục vụ tốt công tác dân vận.
4. Công tác dân vận trong tình hình hiện nay
Cục diện thế giới đã và đang trải qua những đảo lộn chưa từng thấy. Ở trong nước, Đảng ta đang thực hiện đường lối đổi mới, chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện chính sách mở cửa, thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hoá... Đường lối đổi mới của Đảng đã giành được những thắng lợi to lớn. Vấn đề đặt ra cho công tác dân vận là: trong khi kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phải đổi mới nội dung và hình thức để kịp thời đáp ứng yêu cầu của cách mạng.
Cơ chế thị trường mở cửa, với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã tỏ ra có những mặt tích cực rõ rệt: thu hút nguồn vốn từ nước ngoài, tiếp thu những công nghệ mới, những kiến thức quản lý mới, những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Đồng thời nó cũng bộc lộ nhiều mặt tiêu cực: tệ nạn xã hội phát triển, xu hướng chạy theo lối sống thực dụng của một xã hội tiêu thụ, sự xâm nhập của văn hóa không lành mạnh từ bên ngoài...
Trước những lời ca ngợi với động cơ khác nhau của dư luận thế giới đối với những thành tựu đổi mới của Việt Nam, chúng ta càng thêm phấn khởi tin tưởng, năng động và sáng tạo vững bước tiến lên trong vận hội mới; đồng thời không mảy may chủ quan tự mãn, mà phải thấy hết những khó khăn thử thách để vượt qua. Chúng ta đang hòa bình xây dựng trên đất nước độc lập, thống nhất, vấn đề bảo vệ hòa bình, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ chế độ vẫn là một nhiệm vụ chiến lược hết sức quan trọng. Chúng ta phải luôn cảnh giác đối với những mưu đồ đen tối muốn thực hiện "diễn biến hòa bình", hòng thủ tiêu những thành quả vĩ đại của cách mạng mà nhân dân ta đã giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Công tác dân vận hiện nay cần làm cho mỗi một người dân, nhất là thế hệ trẻ, nhận rõ những thuận lợi và khó khăn nói trên, đoàn kết phấn đấu giữ vững ổn định chính trị - xã hội và bản sắc văn hóa dân tộc, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh với một chiến lược tổng hợp: chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, ngoại giao... Hơn lúc nào hết, con người Việt Nam cần sống, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại, không chỉ vì lợi ích chính đáng của bản thân và gia đình mà còn vì lợi ích cao cả của đất nước, của dân tộc.
Chúng ta đang thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa, nhanh chóng mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế. Chúng ta cần coi trọng hơn nữa mở rộng quan hệ hữu nghị với nhân dân bè bạn, với các lực lượng hòa bình và tiến bộ trên thế giới, đẩy mạnh công tác ngoại giao nhân dân. Đây cũng là một nhiệm vụ rất quan trọng của công tác dân vận trong tình hình mới.
Vừa qua trong dịp đi thăm Italia, các bạn Italia có nói với tôi, họ đã từng có một "thế hệ Việt Nam". Thế hệ ấy đã hết lòng ủng hộ Việt Nam trong kháng chiến. Hiện nay, có những người thuộc thế hệ ấy đang giữ những vị trí quan trọng trong xã hội, nhưng các bạn Việt Nam hình như đã quên họ, trong khi họ vẫn nhớ và sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam. Suy cho cùng, thực chất của công tác dân vận là xây dựng mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân. Từ thực tiễn hoạt động sản xuất và chiến đấu của dân và góp phần xây dựng thành chính sách, đường lối của Đảng. Khi đã có đường lối, chính sách thì công tác dân vận lại có nhiệm vụ quán triệt và vận động nhân dân thực hiện.
Cho đến nay, công tác dân vận đã có những thành tựu lớn, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Nguyên nhân chủ yếu là do Đảng ta có đường lối đúng đắn và sáng tạo, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Bác Hồ nói: "Không có lý luận cách mệnh thì không có cách mệnh vận động".
Chúng ta phấn khởi thấy Trung ương Đảng ta coi công tác lý luận là một vấn đề quan trọng hàng đầu. Chúng ta hiện đang đi vào thực tiễn nước ta và thực tiễn thế giới để sơ kết, tổng kết, đề ra đường lối đổi mới. Chúng ta đang tiếp tục nghiên cứu để phát hiện những bước đi thích hợp, tìm ra và hoàn thiện dần con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Đây là một nhiệm vụ lớn lao, đòi hỏi trí tuệ của đông đảo quần chúng nhân dân, của các nhà khoa học.
Muốn đi đến thành công, một tiền đề và điều kiện không thể thiếu là phải phát huy dân chủ. Bác Hồ dạy: "Nước ta là nước dân chủ...". Dân chủ để khơi dậy sáng kiến của người dân; trong lãnh đạo công tác lý luận lại càng phải dân chủ. Đồng chí Luyxiêng Xevơ, nhà triết học lớn của Đảng Cộng sản Pháp viết: "Cái bi kịch lớn nhất của cuộc đời Xtalin là triệt tiêu dân chủ trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận". Phải thực sự dân chủ, lắng nghe những ý kiến khác nhau, có như vậy mới tìm ra chân lý. Tất nhiên ta phải biết phân biệt dân chủ chân chính, dân chủ có kỷ cương, có lãnh đạo, khác hẳn với dân chủ cực đoan, vô chính phủ.
Rất đáng tiếc là hiện nay có một bộ phận cán bộ và nhân dân không quan tâm đến lý luận, thậm chí không muốn nói đến lý tưởng, đến chính trị. Hiện tượng "phi chính trị" chẳng khác gì một hội chứng mất khả năng miễn dịch về chính trị, chẳng khác gì một thứ bệnh AIDS chính trị cực kỳ nguy hiểm. Công tác dân vận có nhiệm vụ chống lại hiện tượng ấy.
Bác Hồ nói: "Dân vận kém thì việc gì cũng kém; dân vận khéo thì việc gì cũng thành công". Trong tình hình mới, nhiệm vụ của dân vận càng hết sức nặng nề, đòi hỏi ở cán bộ dân vận những phẩm chất và năng lực mới.
Hy vọng rằng, sau cuộc hội thảo này, công tác dân vận của chúng ta sẽ có một bước phát triển mạnh mẽ, thực hiện bằng được lời dạy của Bác Hồ và các nghị quyết của Đảng về công tác dân vận.
VÕ NGUYÊN GIÁP**
___________________
* Bài phát biểu tại Hội thảo Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 12-11-1994.
** Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Quân ủy Trung ương, nguyên Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.276. 19/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Trong kho tàng di sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, di sản tư tưởng của Người về hợp tác quốc tế là một bộ phận hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế là cơ sở nền tảng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước ta trong các giai đoạn cách mạng, nhất là trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay.
Hợp tác quốc tế là xu thế tất yếu của thời đại, phá bỏ sự biệt lập, mở đường cho sự phát triển, liên kết các dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở đầu cho một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Thời đại mới đã chấm dứt sự tồn tại biệt lập giữa các quốc gia, mở ra mối quan hệ ngày càng rộng lớn giữa các dân tộc. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nhanh chóng nắm bắt được đặc điểm của thời đại. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, Người đã tổng kết, khái quát những nhận xét đầu tiên của mình bằng những luận điểm về nhu cầu, khả năng, điều kiện hợp tác giữa các dân tộc. Điểm nổi bật trong tư tưởng của Người lúc bấy giờ là sự hợp tác, đoàn kết giữa các dân tộc nhỏ yếu, lạc hậu, bị áp bức tạo nên sức mạnh chống đế quốc, thực dân, đặc biệt là chống lại chính sách “chia để trị”. Người cho rằng: “Thời đại của chủ nghĩa tư bản lũng đoạn cũng là thời đại một nhóm nước lớn do bọn tư bản tài chính cầm đầu thống trị các nước phụ thuộc và nửa phụ thuộc, bởi vậy công cuộc giải phóng các nước và các dân tộc bị áp bức là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản. Do đó mà trước hết nảy ra khả năng và sự cần thiết phải có liên minh chiến đấu chặt chẽ giữa các dân tộc thuộc địa với giai cấp vô sản của các nước đế quốc để thắng kẻ thù chung”(1).
Sau khi nắm bắt được đặc điểm của thời đại mới, Hồ Chí Minh đã hoạt động tích cực để gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Khi chủ nghĩa thực dân đế quốc đã trở thành hệ thống thế giới, Người đã chỉ ra quyết sách: “Chúng ta cách mệnh thì cũng phải liên lạc tất cả những đảng cách mệnh trong thế giới để chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa”(2). Người còn chỉ thị: “…trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng thời tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp”(3). Tuy nhiên, khi gắn cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa trong đó có Việt Nam với cách mạng vô sản thế giới, Hồ Chí Minh vẫn nhấn mạnh những đặc điểm riêng về lịch sử - xã hội, chính trị, kinh tế của mỗi dân tộc; những đặc điểm riêng giữa phương Đông và phương Tây để vạch ra chiến lược đấu tranh cho phù hợp. Mặt khác, khi chủ trương hợp tác vững bền, lâu dài, Người không chỉ xuất phát từ những mục đích chính trị - xã hội của thời đại - độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội, mà còn vì sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất thế giới. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hợp tác quốc tế là để xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu, tiến kịp các nước trên thế giới và sâu xa là đặt chiến lược phát triển đất nước gắn liền với những chuyển biến mang tính thời đại.
Ngay từ những thập niên đầu của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã nhận rõ một quốc gia, dân tộc muốn có sức mạnh phải thoát ra khỏi tình trạng biệt lập, phải mở cửa, tăng cường hợp tác với bên ngoài; tình trạng bế quan tỏa cảng chỉ làm đất nước suy yếu và đưa đến những hậu quả chính trị nghiêm trọng. Năm 1924, trong thư gửi đồng chí Pê-tơ-rốp, Tổng Thư ký Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, Người viết: “Nguyên nhân đầu tiên đã gây ra sự suy yếu của dân tộc ở phương Đông đó là sự biệt lập. Không giống như các dân tộc phương Tây, các dân tộc phương Đông không có những quan hệ và tiếp xúc giữa các lục địa với nhau. Họ hoàn toàn không biết gì đến những việc xảy ra ở các nước láng giềng gần gũi nhất của họ, do đó họ thiếu sự tin cậy lẫn nhau, sự phối hợp hành động và sự cổ vũ lẫn nhau”(4). Từ quan điểm cơ bản này, Người nêu tư tưởng hợp tác quốc tế về kinh tế gắn với những vấn đề chính trị - xã hội. Người cho rằng, ngoại giao và kinh tế có quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau, đó là một điều kiện quan trọng để bảo đảm thắng lợi của công cuộc kiến thiết đất nước. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mở cửa kinh tế đối với Việt Nam vừa là nhu cầu, vừa là điều kiện quan trọng để phát triển và đưa đất nước đi lên. Người chủ trương “chuộc lại dần dần” những cơ sở người Pháp đã bỏ vốn ra gây dựng ở nước ta từ trước đến giờ, “nếu xét ra cần thiết cho nền kinh tế quốc gia Việt Nam”, “hoan nghênh những người Pháp đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác”, “mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia”(5), nhằm khuyến khích các đối tác nước ngoài hợp tác trên những lĩnh vực mà chúng ta còn yếu, chưa có điều kiện khai thác, góp phần thúc đẩy tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam.
Mở rộng hợp tác quốc tế một cách toàn diện với các quốc gia, dân tộc, đặc biệt với các nước láng giềng và trong khu vực
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, nhiệt huyết của mình, Hồ Chí Minh luôn chăm lo xây dựng, vun đắp cho tình hữu nghị, hợp tác và đoàn kết giữa nhân dân các nước theo tinh thần “bốn phương vô sản đều là anh em”, qua đó tạo nên sức mạnh to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Người đặc biệt coi trọng việc mở rộng hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật với tất cả các nước để tăng thêm sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, trong bối cảnh thù trong giặc ngoài câu kết với nhau chống phá cách mạng, Hồ Chí Minh vẫn trước sau như một tỏ rõ thiện chí Việt Nam sẵn sàng quan hệ ngoại giao và thương mại với tất cả các nước trên thế giới.
Hồ Chí Minh nhiều lần gửi thư cho Tổng thống, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, mong muốn có quan hệ tốt giữa hai nước và cùng nhau góp phần giải quyết hợp lý, công bằng nền độc lập của Việt Nam. Ngày 01-11-1945, nhân danh Hội Văn hóa Việt Nam, Người đã gửi thư cho Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, đề nghị “gửi một phái đoàn khoảng 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ với với ý định, một mặt thiết lập những mối quan hệ văn hóa thân thiết với thanh niên Mỹ, và mặt khác để xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác”(6).
Hồ Chí Minh đã nhiều lần tuyên bố: “Chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có một điều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hòa bình”(7). Người không chỉ coi trọng mở rộng hợp tác quốc tế với các nước dân chủ, các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn chú trọng hợp tác quốc tế với nhiều nước khác. Ngay đối với nước Pháp, mặc dù Chính phủ Pháp đang tiến hành cuộc chiến tranh chống lại độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam, song Hồ Chí Minh vẫn bày tỏ thiện chí và thực lòng muốn hợp tác với nước Pháp, với những người Pháp chân chính, yêu chuộng hòa bình. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy sự cần thiết phải nhanh chóng kết thúc chiến tranh, chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hợp tác cùng có lợi về mọi mặt. Người đã tuyên bố: “Việt Nam sẵn sàng cộng tác thân thiện với nhân dân Pháp. Những người Pháp tư bản hay công nhân, thương gia hay trí thức, nếu họ muốn thật thà cộng tác với Việt Nam thì sẽ được nhân dân Việt Nam hoan nghênh như bầu bạn”(8). Trong lời kêu gọi gửi tới Liên hợp quốc năm 1946, Hồ Chí Minh nêu rõ: “Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình. Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường xá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế. Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc”(9).
Trong mối quan hệ rộng mở với các nước, các lực lượng dân chủ tiến bộ thế giới, Hồ Chí Minh chủ trương gắn cuộc đấu tranh vì độc lập ở Việt Nam với mục tiêu bảo vệ hòa bình, tự do, công lý và bình đẳng. Hồ Chí Minh đã khơi gợi lương tri của loài người tiến bộ, tạo nên những tiếng nói ủng hộ mạnh mẽ từ các tổ chức quần chúng, các nhân sĩ trí thức và từng con người cụ thể.
Đối với Trung Quốc - một nước lớn có quan hệ lâu đời với Việt Nam, phát huy truyền thống hòa hiếu của cha ông, Hồ Chí Minh chủ động xây đắp nên mối quan hệ “vừa là đồng chí vừa là anh em”. Ngay từ những năm 1940, Người đã khẳng định: “Trung - Việt khác nào môi với răng. Môi hở thì răng buốt, cứu Trung Quốc là tự cứu mình”(10) và “Liên Hoa”, “liên hệ mật thiết với Trung Quốc” là một trong những điều kiện quan trọng của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam.
Với các nước Đông Dương, Người chú ý xây dựng tình hữu nghị, hợp tác toàn diện, đoàn kết keo sơn trên cơ sở của những người cùng cảnh ngộ, cùng chung kẻ thù, cùng khát vọng độc lập tự do. Mối quan hệ về chính trị, kinh tế và quân sự giữa Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia trở nên khăng khít từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, nắm sứ mệnh lãnh đạo công cuộc giải phóng trong cả xứ Đông Dương thuộc địa. Ngay sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, Hồ Chí Minh đã tích cực xúc tiến việc hình thành liên minh chiến đấu giữa ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Tình đoàn kết quốc tế cao cả, trong sáng và vô tư đó xuất phát từ nhu cầu khách quan góp sức cùng nhau đánh bại kẻ thù chung để bảo vệ sự tồn tại và phát triển của mỗi dân tộc.
Mở rộng ra các nước khác, Người chăm lo củng cố mối quan hệ đoàn kết hữu nghị, hợp tác nhiều mặt với các dân tộc châu Á và châu Phi đang đấu tranh giành độc lập. Với các nước khu vực Đông Nam Á, Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng tình hữu nghị hợp tác từ những ngày còn dưới ách thống trị của bọn thực dân. Bằng những hoạt động ngoại giao không mệt mỏi, Người đã góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, trong phe xã hội chủ nghĩa cũng như trong các nước thuộc thế giới thứ ba, đồng thời tăng cường hữu nghị, hợp tác giữa các nước, các dân tộc.
Hợp tác quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền, bình đẳng cùng có lợi; phát huy sức mạnh nội lực kết hợp sức mạnh thời đại, đồng thời không quên nghĩa vụ quốc tế
Trong hợp tác quốc tế, Hồ Chí Minh không chủ trương đối thoại, hợp tác với bên ngoài, với các nước bằng mọi giá, mà phải trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền, bình đẳng, các bên cùng có lợi. Theo Người, bất kỳ nước nào muốn hợp tác với Việt Nam, muốn đem tư bản đến kinh doanh ở Việt Nam với mục đích làm lợi cho cả hai bên thì sẽ được Việt Nam hoan nghênh. Ngược lại, bất kỳ nước nào mong muốn đưa tư bản đến để ràng buộc, áp đặt thì Việt Nam sẽ kiên quyết cự tuyệt. Hồ Chí Minh luôn khẳng định độc lập, chủ quyền, bình đẳng là nền tảng trong mọi quan hệ hợp tác quốc tế. Người chỉ rõ: “Trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chúng tôi sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao và thương mại với tất cả các nước”(11). Ngay khi mới giành được chính quyền, Người sẵn sàng mời những nhà chuyên môn Pháp, Mỹ, Nga… đến giúp ta kiến thiết đất nước. Nhưng điều kiện chính vẫn là họ phải thừa nhận quyền độc lập của nước ta. Theo Người, “nếu không vậy, thì không thể nói chuyện gì được cả”(12).
Hồ Chí Minh cũng cho rằng, trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế, độc lập chủ quyền của mỗi quốc gia không tách rời với hợp tác kinh tế quốc tế, không cản trở quan hệ kinh tế quốc tế. Độc lập chủ quyền là tiền đề, là cơ sở khẳng định quyền tự chủ, tự quyết trong hoạch định chiến lược phát triển kinh tế, lựa chọn hình thức và đối tác đầu tư… Hợp tác quốc tế để tranh thủ nguồn vốn, khoa học công nghệ, thị trường nhằm phát triển kinh tế, phát huy sức mạnh nội lực, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, vì lợi ích chung mỗi nước, mỗi dân tộc.
Trong hợp tác quốc tế, Hồ Chí Minh quan tâm phát huy sức mạnh dân tộc, coi đó là nguồn lực nội sinh giữ vai trò quyết định. Trong đấu tranh cách mạng, Người luôn nêu cao khẩu hiệu “tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính”. Cách mạng Việt Nam đi theo đường lối độc lập, tự chủ thì chính sách đối ngoại, hợp tác quốc tế phải lấy sức mạnh bên trong làm điểm tựa. Bởi, “nếu tự mình không có thực lực làm cơ sở thì không thể nói gì đến ngoại giao”(13); “Muốn người ta giúp cho thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”(14). Theo Người, mỗi dân tộc phải xây dựng được lực lượng nội tại cho mình để tạo ra thế và lực. Có thế và lực mới có điều kiện để tiếp thu sự giúp đỡ và tranh thủ sức mạnh từ bên ngoài. Trên cơ sở đó, trong hợp tác quốc tế các dân tộc mới giữ vững độc lập tự chủ; giữ vững định hướng chính trị của sự phát triển đất nước; chủ động, sáng suốt trong hoạt động quốc tế để phân biệt rõ đâu là bạn, đâu là thù.
Cùng với việc đề cao sức mạnh nội lực, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc tranh thủ sức mạnh thời đại. Người luôn chủ trương tăng cường đoàn kết và tranh thủ sự hợp tác quốc tế, coi đây là vấn đề có tầm chiến lược hàng đầu trong đường lối cách mạng Việt Nam. Mục tiêu của đoàn kết và hợp tác quốc tế là tập hợp lực lượng bên ngoài, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ quốc tế, làm tăng thêm khả năng tự lực tự cường, thực hiện mục tiêu cách mạng và bảo vệ quyền lợi quốc gia.
Hợp tác quốc tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những diễn biến phức tạp, khó lường, thời cơ và thách thức đan xen thì việc vận dụng di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng. Thông qua sự vận dụng đó, Đảng ta có nhận thức đúng đắn, đầy đủ về tính chất của thời đại, nhận biết những mâu thuẫn cơ bản, chiều hướng diễn biến của thời cuộc để xác định và xây dựng vị trí phù hợp, có lợi cho đất nước trong mọi mức độ biến hoá, tranh thủ và phát huy được các điều kiện, cơ hội thuận lợi mà tình hình mới đưa lại, đồng thời hạn chế được những tác động tiêu cực.
Hiện nay, thời cơ mới là xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển, diễn ra trong quá trình toàn cầu hoá, đa dạng hoá, đa phương hoá, hội nhập quốc tế. Các thành tựu khoa học - công nghệ của nhân loại nếu tận dụng được có thể giúp Việt Nam phát triển đuổi kịp và “đi tắt, đón đầu”, tạo ra những đột phá trong quan hệ với các đối tác chủ yếu. Đó còn là tham gia thúc đẩy các xu thế tiến bộ, cùng với cộng đồng thế giới, lấy những lợi ích và sự quan tâm chung làm chỗ dựa để hợp tác vì hoà bình, ổn định và phát triển.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh trên tinh thần “muốn làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(15), đến nay, Việt Nam đã có quan hệ hợp tác ở nhiều cấp độ khác nhau với hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành công trong hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ... Những thành công trong hợp tác quốc tế đã và đang đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước, nhanh chóng hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Quán triệt những nguyên tắc trong hợp tác quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trước những biến động của tình hình thế giới, Đảng ta luôn xác định: “Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ quốc tế vào chiều sâu trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc…”(16). Độc lập tự chủ, phát huy nội lực vẫn là nguyên tắc cơ bản, là nền tảng không thể thiếu, liên hệ mật thiết với tranh thủ ngoại lực và hội nhập, hợp tác quốc tế, trên tinh thần “ta được các nước bạn giúp, tức là có thêm điều kiện để tự lực cánh sinh”(17). Độc lập tự chủ bảo đảm cho quá trình hội nhập của đất nước được thực hiện theo đúng lộ trình, chủ động và phù hợp với mục tiêu, khả năng thực tế trong từng thời kỳ cụ thể, duy trì và phát huy được bản sắc dân tộc, hạn chế những mặt tiêu cực của quá trình hội nhập và toàn cầu hoá. Phát huy sức mạnh nội lực kết hợp sức mạnh thời đại sẽ góp phần làm cho thế và lực của Việt Nam không ngừng được củng cố, nâng lên, tạo đà cho sự phát triển mọi mặt của đất nước.
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế và trên nền tảng đường lối chính sách của Đảng, Việt Nam đã chủ động tham gia vào quá trình hội nhập khu vực và thế giới. Tham gia vào quá trình đó cũng là kết quả bài học kinh nghiệm từ những hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong những năm tháng sóng gió đối với vận mệnh dân tộc, với quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Bài học kinh nghiệm quý báu được rút ra là phát huy sức mạnh từ đường lối đối ngoại hòa bình, chính nghĩa, từ những giá trị nhân văn cao cả của tư tưởng hợp tác quốc tế Hồ Chí Minh, vững lòng tin vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, phát huy thế mạnh nội lực của đất nước, nắm bắt, tận dụng, tạo dựng thời cơ, tăng cường hợp tác hữu nghị cùng có lợi giữa các quốc gia trên thế giới, vì hòa bình, ổn định và phát triển./.
----------------------------------------------------------------
(1) Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2011, tập 11, tr 169
(2) Hồ Chí Minh Toàn tâp, sđd, tập 2, tr 305
(3) Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, tập 3, tr 3
(4) Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, tập 1, tr 284
(5) Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, tập 4, tr 86
(6) Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, tập 4, tr 91
(7) Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, tập 5, tr 39
(8) Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, tập 6, tr 56
(9) Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, tập 4, tr 523
(10) Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, tập 3, tr 218
(11) Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, tập 10, tr 317
(12) Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, tập 4, tr 86
(13) Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, tập 3, tr 488
(14) Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, tập 2, tr 320
(15) Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, tập 5, tr 256
(16) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2011
(17) Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, tập 10, tr 144
ThS. Đinh Ngọc Quý 19/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh là lãnh tụ đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng các chuẩn mực đạo đức mới của con người Việt Nam. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có sắc thái riêng biệt. Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có tư tưởng về tiết kiệm. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiết kiệm có giá trị khoa học và nhân văn to lớn. Giá trị đó thể hiện rõ nét ở sự giải thích mới của Người về vai trò, nội dung của tiết kiệm, về đối tượng và giải pháp thực hành tiết kiệm. Trong bối cảnh sự lãng phí tràn lan hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về tiết kiệm càng trở nên giá trị và mang tính thời sự.
1. Đặt vấn đề
Tiết kiệm là phẩm chất đạo đức cơ bản của con người. Từ bao đời nay người ta đã nói về tiết kiệm, nhưng ở Hồ Chí Minh, tư tưởng về tiết kiệm có nội dung sâu sắc, mới mẻ, nhân văn. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tiết kiệm là một phần quan trọng trong tư tưởng đạo đức của Người. Đặc biệt, Hồ Chí Minh không chỉ nói hay về tiết kiệm, mà còn là tấm gương ngời sáng về thực hành tiết kiệm. Những câu chuyện về sự tiết kiệm của Hồ Chí Minh trong chuyện ăn, ở, mặc, đi lại, làm việc đã trở thành huyền thoại của đạo đức cách mạng. Người sống một đời sống vật chất giản dị, đạm bạc và chỉ sử dụng cho mình những vật dụng tối cần thiết. Tư tưởng và sự thực hành tiết kiệm của Hồ Chí Minh đã thể hiện năng lực tư duy khoa học, sáng tạo và lối sống thanh cao của một danh nhân văn hóa kiệt xuất. Hồ Chí Minh nói nhiều đến tiết kiệm như một phẩm chất đạo đức của con người nói chung và của người cách mạng nói riêng. Chữ “kiệm” của Hồ Chí Minh vừa cụ thể, vừa khái quát, vừa truyền thống, vừa hiện đại; bởi lẽ, Người đứng trên mảnh đất thực tiễn của cách mạng Việt Nam để luận giải về một phẩm chất đạo đức chung của nhân loại và bổ sung những nội hàm mới vào một khái niệm cũ. Nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh về tiết kiệm, trước hết là nói đến tư tưởng của Người về vai trò, nội dung của tiết kiệm, về đối tượng và giải pháp thực hành tiết kiệm.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của tiết kiệm
Tiết kiệm (hay kiệm) được Hồ Chí Minh định nghĩa ngắn gọn “là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi” [4, t.6, tr.122]. Theo định nghĩa đó, tiết kiệmlà sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn lực để gia tăng sức mạnh toàn diện của đất nước. Người tiết kiệm phải biết cân đối, tính toán các nguồn lực để chi phí bỏ ra nhỏ nhất mà lại đạt được mục tiêu cao nhất theo phương châm “1 giờ làm xong việc của 2, 3 giờ. 1 người làm bằng 2, 3 người. 1 đồng dùng bằng 2, 3 đồng” [4, t.6, tr.124].
Nếu Nho giáo và văn hóa Việt Nam truyền thống coi vai trò chủ yếu của tiết kiệm là tạo ra sự tích lũy của cải vật chất cho từng cá nhân, thì Hồ Chí Minh đánh giá vai trò của tiết kiệm ở nhiều khía cạnh và phạm vi khác nhau, không chỉ ở phạm vi cá nhân mà còn ở phạm vi quốc gia, dân tộc.Bất kể quốc gia nào muốn phát triển cũng phải có tiềm lực kinh tế, trong đó tiền vốn là yếu tố hàng đầu. Một số nước huy động vốn chủ yếu bằng cách vay mượn nước ngoài, một số nước thậm chí huy động vốn chủ yếu bằng cách cướp bóc thuộc địa và bóc lột nhân dân lao động trong nước. Chúng ta không thể huy động vốn bằng cách cướp bóc thuộc địa và bóc lột nhân dân lao động trong nước. Chúng ta có thể huy động vốn bằng cách vay mượn nước ngoài nhưng không coi đó là cách chủ yếu để huy động vốn. Cách huy động vốn chủ yếu của chúng ta chỉ có thể là tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Đặc biệt, trong giai đoạn vừa kháng chiến vừa kiến quốc, chúng ta càng không được làm lãng phí nguồn lực vốn đã ít ỏi của mình. Ngoài mục tiêu kinh tế, tiết kiệm còn hướng tới mục tiêu chính trị là để giữ vững sự độc lập, tự chủ. Hồ Chí Minh nói: “Mỗi một người dân phải hiểu: có tự lập mới độc lập, có tự cường mới tự do” [4, t.5, tr.553]. Trong quan hệ quốc tế, muốn có độc lập thực sự mỗi quốc gia phải dựa vào nội lực của mình, nội lực đó được tạo dựng bằng cách đẩy mạnh sản xuất và thực hành tiết kiệm.
Hồ Chí Minh hết sức chú trọng vai trò của tiết kiệm trong việc tu dưỡng đạo đức của mỗi cá nhân. Đối với mỗi cá nhân, kiệm là một trong chuỗi phẩm chất “cần, kiệm, liêm, chính”. Có kiệm thì mới có liêm, có liêm thì mới có chính. Kiệm là tiền đề, điều kiện để con người vươn tới liêm và chính. Đối với cả dân tộc, tiết kiệm là sức mạnh mềm - sức mạnh của văn hóa và đạo đức. Bởi vì, “một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh và tiến bộ” [4, t.6, tr.128]. Vị thế, sức hấp dẫn của một dân tộc trên trường quốc tế cũng phụ thuộc vào việc dân tộc đó có thấm nhuần tinh thần tiết kiệm hay không. Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tiết kiệm là nhân tố đảm bảo sự phát triển bền vững, sự thành công, sự giàu mạnh về mọi mặt không chỉ cho từng cá nhân như trong quan niệm truyền thống, mà còn cho cả dân tộc.
3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nội dung của tiết kiệm
Nội hàm chữ “kiệm” trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng, bao gồm tiết kiệm của cải vật chất, tiết kiệm thời gian,tiết kiệm sức dân, tiết kiệm nhân tài, tiết kiệm lời... (chứ không chỉ là tiết kiệm vật chất theo kiểu “ăn dè hà tiện” trong quan niệm truyền thống).
Thứ nhất là tiết kiệm của cải vật chất. Kế thừa tư tưởng của ông cha, Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, tiết kiệm trước hết là tiết kiệm của cải vật chất. Việt Nam là một nước nghèo, ngân khố quốc gia hạn hẹp nên Nhà nước phải có chính sách tài khóa phù hợp để dồn tiền chosản xuất, đặc biệt cho những ngành quan trọng đối với quốc kế, dân sinh. Nước nghèo thì đại bộ phận dân chúng cũng nghèo nên mỗi người và mỗi gia đình vừa phải cần cù vừa phải tiết kiệm. Tiết kiệm trong chi tiêu để vừa đảm bảo sinh hoạt tối thiểu, vừa có tích lũy, để dần dần từ nghèo thành đủ ăn, từ đủ ăn thì thành khá giàu, từ khá giàu thành giàu thêm. Như vậy, tiết kiệm của cải suy cho cùng là chi tiêu hợp lý, chi tiêu phải thấp hơn so với khả năng cho phép để tạo ra sự tích lũy vật chất cho cá nhân cũng như xã hội.
Khi bàn về tiết kiệm của cải, tiền bạc, Hồ Chí Minh nói rõ: “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc lợi ích cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng” [4, t.6, tr.123]. Nếu việc đáng tiêu mà không tiêu, luôn “coi tiền to như cái nống” thì đó là bủn xỉn, chứ không phải là tiết kiệm. Hồ Chí Minh khẳng định rằng dân chỉ thấy giá trị của độc lập tự do khi được ăn no, mặc ấm. Vì thế theo Người, không phải vì tiết kiệm mà ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc đến mức suy kiệt sức lực. Tiết kiệm là quyết không để của cải vật chất bị thất thoát vào những việc lãng phí vô ích. Tiết kiệm nhưng sức dân vẫn phải được nuôi dưỡng, chế độ sinh hoạt của bộ đội chiến sỹ vẫn phải được đảm bảo theo phương châm “ăn no, đánh thắng”. Hồ Chí Minh chỉ ra mục đích nhân văn của kiệm: “Chúng ta phải chặt chẽ hơn nữa trong việc dùng tiền dành dụm của chúng ta, để tiến nhanh tới cuộc sống no ấm, đầy đủ cho mọi người” [4, t.12, tr.467]. Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tiết kiệm của dân để làm lợi cho dân, chứ không phải để cống nộp cho quan. Đây là nét đặc sắc trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về tiết kiệm.
Thứ hai là tiết kiệm thời gian. Đối với Hồ Chí Minh, tiết kiệm còn là tiết kiệm thời gian. Thời gian cũng chính là tiền bạc, thậm chí thời gian còn quý hơn tiền bạc. Thời gian và sự làm việc tích cực sẽ đẻ ra tiền bạc, nhưng tiền bạc vẫn không thể mua được thời gian, không thể kéo thời gian quay trở lại. Người viết: “ai đưa vàng bạc vứt đi là người điên rồ. Ai đưa thời giờ vứt đi là người ngu dại” [4, t.6, tr.123]. Mỗi người cần phải tiết kiệm thời gian của mình cũng như thời gian của người khác. Để tiết kiệm thời gian phải giữ vững kỷ luật lao động trong 8 giờ vàng ngọc, phải sắp xếp công việc một cách khoa học, phải hạn chế việc họp hành kéo dài mà không hiệu quả... Người căn dặn cán bộ, công chức: “Từ Chủ tịch, Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân... Làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ, về sớm. Làm cho chóng, cho chu đáo. Phải nhớ rằng: Dân đã lấy tiền mồ hôi nước mắt để trả lương cho ta trong những thì giờ đó. Ai lười biếng tức là lừa gạt dân” [4, t.5, tr.122].
Thứ ba là tiết kiệm sức dân. Nếu trong xã hội cũ, giai cấp bóc lột thường nghĩ ra trăm phương ngàn kế để bóc lột sức dân (dẫn đến thảm cảnh “thành xây xương lính, hào đào máu dân”) thì Hồ Chí Minh cho rằng, trong xã hội vốn quý nhất làcon người. Từ đó, Người nhấn mạnh việc tiết kiệm sức dân. Hồ Chí Minh viết: “Phải biết quý trọng sức người là vốn quý nhất của ta. Chúng ta cần hết lòng chăm sóc sức khỏe và sử dụng thật hợp lý sức lao động của nhân dân ta” [4, t.13, tr.70]. Tiết kiệm sức dân có nghĩa là phân công lao động hợp lý, tổ chức dây chuyền sản xuất khoa học (để chẳng hạn 5 người có thể đảm đương được công việc của 10 người).Tiết kiệm sức dân còn có nghĩa là không phô trương hình thức, không làm những công trình chưa thực sự cần thiết. Tiết kiệm sức dân đòi hỏi phải xóa bỏ tư tưởng “nước sông, công lính” - tư tưởng của những kẻ tự cho mình quyền “ăn trên, ngồi trốc”, cai trị nhân dân.
Tiết kiệm sức dân còn là tiết kiệm xương máu của bộ đội, chiến sỹ và nhân dân. Trong cuộc đấu tranh cách mạng để giành và giữ độc lập dân tộc, sự hy sinh xương máu của bộ đội, chiến sỹ và nhân dân là điều khó tránh khỏi. Mặc dù buộc phải tiến hành các cuộc chiến tranh, nhưng với lòng yêu thương con người sâu sắc, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc tiết kiệm xương máu của bộ đội, chiến sỹ và nhân dân. Hồ Chí Minh từng nói về sự hy sinh của những người lính: “Trong công cuộc kháng chiến cứu nước, nhân dân hy sinh là hy sinh một phần của cải và thời giờ. Của cải hết có thể làm ra, thời gian qua, thời gian lại đến. Nhưng bộ đội hy sinh là hy sinh xương máu. Có khi hy sinh cả tính mệnh. Cụt chân gãy tay, chân tay không thể mọc lại; người chết không thể sống lại. Đó là sự hy sinh tuyệt đối” [4, t.7, tr.334-335]. Hồ Chí Minh không chấp nhận quan điểm “nhất tướng công thành vạn xác khô”. Ngược lại, Người luôn nhấn mạnh việc “phải giữ gìn từng giọt máu của đồng bào để xây đắp tương lai của Tổ quốc” [4, t.4, tr.229]. Hồ Chí Minh yêu cầu các nhà chỉ huy quân sự phải biết đánh một cách trí tuệ nhất, sao cho sự tổn hại ở mức thấp nhất. Người từng căn dặn Võ Nguyên Giáp trước khi ông ra trận chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh” [2, tr.900]. Khắc ghi lời dặn đó, Võ Nguyên Giáp đã thay đổi cách đánh từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, thắng chắc” và giành được thắng lợi huy hoàng. Ngay cả khi đánh theo cách mới, cuộc chiến ở Điện Biên Phủ vẫn vô cùng ác liệt, quân ta cũng tổn thất nhiều, Võ Nguyên Giáp đã triệu tập cuộc họp cán bộ cỡ trung đoàn và nói: “Đảng giao cho các đồng chí 1 tiểu đoàn có nghĩa là phó thác sinh mệnh của gần 500 con người cho các đồng chí. Đảng giao cho các đồng chí 1 trung đoàn có nghĩa là các đồng chí quyết định sự sống chết của gần 3000 người. Đảng giao cho các đồng chí 1 đại đoàn là 1 vạn người ưu tú của Đảng. Cho nên các đồng chí phải biết tiếc thương từng giọt máu của đồng chí, đồng đội” [5]. Câu nói trên của Võ Nguyên Giáp là sự quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về tiết kiệm xương máu của bộ đội, chiến sỹ và nhân dân.
Thứ tư là tiết kiệm nhân tài. Kế thừa quan điểm “hiền tài là nguyên khí quốc gia” của ông cha, Hồ Chí Minh chủ trương tiết kiệm nhân tài bằng cách phân công công việc đúng sở trường của từng người và vận động mọi nhân tài ra gánh việc nước. Vì mỗi con người đều có sở trường và sở đoản nên người lãnh đạo phải tuỳ tài mà dùng người, tránh dùng người theo kiểu thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao.Hồ Chí Minh yêu cầu:“Tài to ta dùng việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì ta đặt ngay vào việc ấy” [4, t.4, tr.43]. Trong nhân dân không thiếu người tài, vấn đề là ở chỗ người lãnh đạo có muốn dùng và có đủ tâm đức quy tụ người tài hay không, có vượt qua căn bệnh hẹp hòi để sử dụng người tài hay không. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh đã công bố “chiếu cầu hiền tài” khi viết bài Nhân tài và kiến quốc và bài Tìm người tài đức. Người nói: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết phải cần có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài, có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân” [4, t.4, tr.504]. Không chỉ tuyên bố chính sách cầu hiền, nhờ tầm cao trí tuệ, tấm gương đạo đức ngời sáng và nghệ thuật dùng người tinh tế nên Hồ Chí Minh đã quy tụ được nhiều nhân sỹ, trí thức tài giỏi và đưa họ một lòng đi theo cách mạng. Đó là những trí thức Nho học như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Tố… Đó là những trí thức Tây học như Trần Đại Nghĩa, Hồ Đắc Điềm, Hồ Đắc Di, Nguyễn Văn Huyên, Phạm Huy Thông, Trần Hữu Tước... Hiếm có một chính phủ cách mạng nào sử dụng nhiều nhân sỹ của chính quyền cũ như Chính phủ Hồ Chí Minh. Cũng hiếm có một lãnh tụ cách mạng nào được giới trí thức tin yêu như Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã đưa những người trí thức cũ “từ thung lũng đau thương đến cánh đồng vui”, đã “khơi dậy trong con người lòng tự hào và niềm tin, ý chí và nhiệt tình cách mạng để rồi con người tự mình làm ra tất cả” [1, tr.205]. Tư tưởng tiết kiệm nhân tài, trọng dụng nhân tài không chỉ là biểu hiện của sự khôn ngoan chính trị của Hồ Chí Minh, mà còn là biểu hiện của chủ nghĩa nhân văn sâu sắc của Người.
Thứ năm là tiết kiệm lời. Tiết kiệm đốivới Hồ Chí Minh còn là tiết kiệm lời. Phương châm hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh là “nói thì phải làm”, “nói ít, làm nhiều, chủ yếu là hành động”. Đó là biểu hiện của tư tưởng tiết kiệm lời. Yêu cầu tiết kiệm lời được Hồ Chí Minh đặt ra với từng cá nhân cũng như toàn bộ tổ chức Đảng. Với mỗi cá nhân, Hồ Chí Minh yêu cầu: “nói ít, bắt đầu bằng hành động” [4, t.3, tr.457]. Với các cơ quan đoàn thể, Người khuyên không nên họp nhiều, phải hết sức tránh “tình trạng là hội mà không nghị, nghị mà không quyết, quyết rồi mà không làm” [3, tr.139]. Nếu coi hành động là biểu hiện của đạo đức thì có thể coi sự tiết kiệm lời (chỉ nói những điều thiết thực nhất) là biểu hiện của đức tính cẩn trọng, trung tíncủa con người.
4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối tượng thực hành tiết kiệm
Hồ Chí Minh đã làm một cuộc cách mạng về đối tượng cần phải thực hành tiết kiệm.Ngườiviết: “Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng. Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước cho dân” [4, t.7, tr.220].
Tiết kiệm là một phẩm chất đạo đức cá nhân. Trong cuộc sống sinh hoạt đời thường cũng như trong công việc, cơ quan nào cũng cần và có thể tiết kiệm, người nào cũng có thể và cũng nên tiết kiệm. Dù toàn dân phải tiết kiệm nhưng tùy thuộc vào công việc cụ thể mà mỗi người, mỗi cơ quan cần thực hiện tiết kiệm một cách khác nhau. Bộ đội phải tiết kiệm súng đạn; công nhân phải tiết kiệm máy móc, nguyên liệu sản xuất; cán bộ hành chính phải tiết kiệm thời gian, giấy mực; cán bộ và chiến sĩ quân nhu phải tiết kiệm thực phẩm; thầy thuốc phải tiết kiệm bông băng, thuốc men, đạo cụ; nông dân phải tiết kiệm con giống, phân bón, nước tưới; học sinh phải tiết kiệm giấy, bút... Ai cũng phải tiết kiệm thời gian, sức lực và tiền bạc của riêng mình. Sự cần thiết phải tiết kiệm không chỉ xuất phát từ yêu cầu đạo đức cá nhân, mà còn xuất phát từ yêu cầu của bộ máy và dây chuyền sản xuất. Trong bộ máy và dây chuyền đó, chỉ cần một kẽ hở tồn tại thì tiền bạc sẽ theo đó lọt ra ngoài và công phá mạnh mẽ vào toàn bộ hệ thống, làm kẽ hở ngày càng bung ra. Vì thế, muốn “vít kín các lỗ thủng, các kẽ hở, không để của cải dành dụm của chúng ta bị hao hụt, phân tán” [4, t.12, tr.467], tất cả mọi người đều phải chung sức, đồng lòng thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ phải là lực lượng tiên phong trong cuộc thi đua thực hành tiết kiệm. Người viết: “Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước... Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã” [4, t.6, tr.16]. Tiết kiệm không đơn thuần là làm gương mà còn là đạo lý theo tinh thần “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Tất thảy mọi người đều muốn ăn ngon, mặc đẹp. Tuy nhiên, người nào ăn ngon, mặc đẹp bằng cách vơ vét của dân, ăn ngon mặc đẹp khi nhân dân còn lầm than, khốn khó thì người đó chưa có đầy đủ tính người. C.Mác cũng từng nói rằng, chỉ có súc vật mới có thể quay lưng lại với nỗi khổ đau của đồng loại và chăm lo riêng cho bộ lông của nó. Khi cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân thì mọi sự lãng phí đều làtội ác. Yêu cầu cán bộ, đảng viên phải đi tiên phong trong thực hành tiết kiệm để toàn dân noi theo là điểm mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tiết kiệm.
5. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải pháp thực hành tiết kiệm
Hồ Chí Minh đề ra hệ thống giải pháp toàn diện, hữu hiệu nhằm thực hành tiết kiệm. Hồ Chí Minh luôn đề cao nguyên tắc “xây đi đôi với chống” trong tu dưỡng đạo đức. Vì vậy theo Người muốn thực hành tiết kiệm thì toàn Đảng, toàn dân phải ra sức chống lãng phí.Do nguy cơ lãng phí hiện hữu mọi nơi, mọi lúc nên cuộc đấu tranh chống lãng phí phải được tiến hành một cách thường xuyên, triệt để, rộng khắp, có kế hoạch, có tổ chức, có lãnh đạo, có phương pháp. Tuyệt đối không được phát động phong trào rồi “đánh trống bỏ dùi” để tránh sự “nhờn thuốc” và làm nhân dân mất lòng tin vào Đảng và Chính phủ.
Hồ Chí Minh yêu cầu phải “đánh thông về tư tưởng” [4, t.7, tr.358]vì trong nhân dân và cán bộ vẫn tồn tại quan điểm sai lầm về lãng phí. Ví dụ, có nhiều người cho rằng tham ô là có tội, còn lãng phí chỉ là một khuyết điểm. Hồ Chí Minh nói rõ: “Lãng phí tuy không lấy của công đút túi, song kết quả cũng tai hại cho nhân dân, cho Chính phủ. Có khi tai hại hơn nạn tham ô” [4, t.7, tr.357]. Nó tai hại hơn bởi chỉ những cán bộ có chức có quyền mới có thể tham ô nhưng bất kể con người nào, ở vị trí nào cũng dễ dàng lãng phí tiền bạc, thời gian, sức lực của mình, của cơ quan và của xã hội. Sự thất thoát do lãng phí mang lại có khi còn lớn hơn sự thất thoát do tham ô. Một số người cho rằng, do nước ta còn nghèo nên không có gì để tiết kiệm, hoặc cho rằng “ai tham ô, lãng phí mặc ai, mình không tham ô, lãng phí thì thôi”. Rõ ràng, muốn thực hành tiết kiệm, chống lãng phí hiệu quả thì phải loại bỏ những quan điểm sai lầm đó, phải“đánh thông về tư tưởng” như Hồ Chí Minh nói ở trên.
Theo Hồ Chí Minh, để thực hành tiết kiệm mỗi người cần phải thường xuyên tiến hành tự kiểm điểm công tác thực hành tiết kiệm của mình trên tinh thần tự giác, phải dựa vào quần chúng và phải phát động phong trào thi đua của quần chúng về tiết kiệm, phải thường xuyên kiểm tra, giám sát, tổng kết kinh nghiệm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của cá nhân và tập thể, phải nghiêm khắc kỷ luật những kẻ không chịu sửa lỗi dù đã bị nhắc nhở, phải khen thưởng những người làm tốt và khuyến khích những người đang cố gắng làm tốt. Khi quần chúng hiểu rằng, tiết kiệm vì lợi ích của họ, chống lãng phí cũng vì chính bản thân họ, quần chúng nhân dân sẽ tự ý thức mà khinh ghét sự lãng phí. Người cho rằng, cần “biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp” [4, t.13, tr.419]. báochí cách mạng cũng phải tích cực vào cuộc để tạo áp lực dư luận đối với những kẻ làm điều sai trái, “gây quanh chúng một không khí công chúng công phẫn và tẩy chay về mặt đạo đức. Phải không còn một ai vỗ vai gượng nhẹ với chúng nữa” [4, t.12, tr.469].
6. Kết luận
Nước ta sau hơn 30 năm đổi mới đã có sự phát triển vượt bậc về kinh tế, nhưng công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí lại chưa tương xứng với những thành tựu kinh tế đạt được. Mặc dù Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã được Quốc hội khóa XI thông qua (vào ngày 29 tháng 1 năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6 năm 2006), sau đó Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (sửa đổi) được Quốc hội khóa XIII thông qua (vào ngày 26 tháng 11 năm 2013 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2014), nhưng đến nay ở đâu cũng vẫn có sự lãng phí. Lãng phí nằm ở những dự án quy hoạch “treo” một cách tràn lan, những thất thoát lớn và không đồng bộ trong xây dựng kết cấu hạ tầng. Lãng phí là sự thất nghiệp của hơn 225.000 cử nhân và thạc sỹ ở thời điểm quý I năm 2016 [6]; là sự thua lỗ kéo dài của nhiều nhà máy quy mô ngàn tỷ đồng của các tập đoàn nhà nước [7]; là đội ngũ công chức đông mà không mạnh. Lãng phí là do kỷ luật lao động lỏng lẻo; là tình trạng hội họp, lễ lạt, tiếp khách triền miên; là lối sống hưởng thụ vật chất, chạy theo hình thức bề ngoài theo kiểu “phú quý sinh lễ nghĩa”... Tất cả những hiện tượng đó đang đè nặng lên nguồn ngân sách eo hẹp của Nhà nước, làm hao tổn nguồn lực của nhân dân. Nếu khắc phục được những sự lãng phí to lớn đó, đất nước sẽ phát triển nhanh hơn, đời sống của nhân dân sẽ được nâng cao hơn. Trong bối cảnh sự lãng phí đang tràn lan hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về tiết kiệm càng trở nên giá trị và mang tính thời sự.
Tài liệu tham khảo
[1]Phạm Văn Đồng (1990), Hồ Chí Minh, một con người, một thời đại, một sự nghiệp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[2]Võ Nguyên Giáp (2006), Tổng tập Hồi ký, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[3]Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1996), Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử, t.10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[4]Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.3, t.4, t.5, t.6, t.7, t.12, t.13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[5]http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/dai-tuong-vo-nguyen-giap/5-diem-khac-biet-cua-dai-tuong-voi-tuong-linh-the-gioi-143804.html
[6]http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/ca-nuoc-co-225-500-cu-nhan-thac-si-that-nghiep-20151224112508471.htm
[7]http://nld.com.vn/kinh-te/tap-doan-nha-nuoc-thua-lo-chon-von-ca-chuc-ngan-ti-dong-20160711100646857.htm
Trần Thị Minh Tuyết (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) Nguồn: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam 19/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Trong các kỳ đại hội và hội nghị của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều nghị quyết đã ra đời. Nghị quyết ra đời là kết tinh tư duy lý luận, tính thực tiễn sâu sắc, đồng thời thể hiện tầm trí tuệ, bản lĩnh chính trị, ý chí và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Để thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng và tinh thần của nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, đòi hỏi phải được học tập, quán triệt sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng. Thời gian qua, bên cạnh những mặt đã làm tốt còn bộc lộ không ít những hạn chế, yếu kém xung quanh vấn đề này. Nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng là vấn đề hệ trọng, không những là yêu cầu thường xuyên, mà còn mang tính cấp thiết trong tình hình hiện nay.
Các kênh thông tin đại chúng như báo viết, báo điện tử, đài truyền hình, đài phát thanh đều đăng tải, tuyên truyền nội dung nghị quyết. Tuy nhiên, hình thức cơ bản và phổ biến là tổ chức các lớp học tập, quán triệt nghị quyết ở các cấp, các ngành và đơn vị. Thông qua đó, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng lĩnh hội được tinh thần cơ bản của nghị quyết, nắm vững quan điểm, chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp lớn, trên cơ sở đó xây dựng nghị quyết, kế hoạch, chương trình hành động của cấp mình và tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết đã đề ra. Nhiều cấp, ngành, đơn vị thời gian qua đã tổ chức tốt việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng. Chú trọng xây dựng kế hoạch học tập, quán triệt nghị quyết, lựa chọn và bồi dưỡng báo cáo viên, tăng cường trang bị và sử dụng hiệu quả phương tiện kỹ thuật hiện đại trong các đợt học tập, quán triệt nghị quyết. Báo cáo viên thực sự tâm huyết, có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, hiểu biết sâu rộng, kỹ năng và phương pháp truyền đạt tốt, phù hợp với từng đối tượng. Vì vậy, nghị quyết của Đảng “thấm sâu” vào người nghe, tạo sự đồng thuận cao về nhận thức, tư tưởng và hành động. Tuy nhiên, nhiều nơi chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết còn thấp, “khô, cứng”, mang tính hình thức. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, trong đó, nguyên nhân cơ bản là chưa chú trọng xây dựng đội ngũ báo cáo viên có phẩm chất và năng lực tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; không ít báo cáo viên hạn chế về năng lực, trình độ, chưa tích cực đầu tư thời gian, công sức và trí tuệ để nghiên cứu thấu đáo nội dung nghị quyết và các tư liệu, tài liệu, thông tin liên quan. Báo cáo viên thường chỉ nêu những vấn đề cơ bản, ít lý giải, chứng minh làm rõ nội dung nghị quyết; các thuật ngữ mới, các quan điểm, chủ trương, giải pháp, sự nhất quán và phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng chưa được làm rõ. Để nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng trong tình hình hiện nay, theo chúng tôi cần làm tốt những nội dung, biện pháp cơ bản sau đây.
Một là, xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập, quán triệt nghị quyết chặt chẽ, nghiêm túc
Xây dựng và thực hiện đúng kế hoạch đề ra là thể hiện phương pháp làm việc khoa học, mang lại chất lượng, hiệu quả trong mọi lĩnh vực; khác với kiểu làm việc tùy tiện, ngẫu hứng. Theo đó, xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập, quán triệt nghị quyết ở mỗi cấp, mỗi ngành, địa phương, đơn vị là việc làm quan trọng, không thể xem nhẹ. Kế hoạch học tập, quán triệt nghị quyết cần chặt chẽ, khoa học. Cụ thể, trong kế hoạch phải xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, thời gian, địa điểm, đối tượng được học tập, quán triệt, báo cáo viên, ban tổ chức và công tác phục vụ, bảo đảm. Sau khi đã có kế hoạch phải phổ biến đến các đối tượng và tổ chức thực hiện nghiêm túc theo kế hoạch đã đề ra. Nếu có tình huống phát sinh ngoài kế hoạch cần giải quyết kịp thời, hợp lý.
Hai là, lựa chọn, xây dựng và bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ báo cáo viên
Chất lượng đội ngũ báo cáo viên ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng ở mỗi cấp, ngành, mỗi đơn vị. Vì vậy, lựa chọn, xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên là công việc hệ trọng của các cấp, các ngành và đơn vị. Thực tế cho thấy, ở cấp, ngành, đơn vị nào quan tâm thích đáng đến vấn đề này thì chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng được nâng lên và ngược lại. Do đó, các cấp, ngành, đơn vị cần làm tốt việc lựa chọn, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ báo cáo viên, nhằm xây dựng đội ngũ báo cáo viên “vừa hồng, vừa chuyên”, có phẩm chất và năng lực tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ, làm nòng cốt tuyên truyền, quán triệt nghị quyết của Đảng.
Ba là, báo cáo viên nêu cao tinh thần trách nhiệm, làm tốt công tác chuẩn bị và thực hành quán triệt nghị quyết của Đảng
Báo cáo viên cần đầu tư thời gian, công sức, trí tuệ để nghiên cứu thấu đáo nội dung nghị quyết. Chuẩn bị kỹ lưỡng đề cương, thu thập thông tin (tư liệu, số liệu) liên quan đến nội dung nghị quyết. Tham khảo Tài liệu học tập, nghiên cứu, quán triệt nghị quyết của Đảng do Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn, các bài viết được đăng tải trên Tạp chí Xây dựng Đảng, Nghiên cứu Lý luận, Tư tưởng Văn hóa, Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân dân, Báo Quân đội nhân dân, trang Website Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.., để cập nhật thông tin, làm phong phú nội dung trình bày. Trong nội dung chuẩn bị và buổi thuyết trình chính thức, báo cáo viên cần trình bày rõ tính cấp thiết ra đời của nghị quyết; luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của nghị quyết; làm rõ sự nhất quán và phát triển mới trong tư duy của Đảng; giải thích các thuật ngữ mới trong nghị quyết; đưa ra những tư liệu, số liệu minh chứng cho vấn đề trình bày; khái quát và làm rõ những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cơ bản trong nghị quyết. Ví dụ: Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”(1). Báo cáo viên cần làm rõ đường lối, quan điểm, chủ trương đối ngoại của Đảng ta lần đầu tiên được đề cập trong văn kiện nào, đại hội nào? Sự nhất quán của Đảng về đối ngoại ra sao? Sự phát triển và những nội dung mới trong tư duy của Đảng ta về đối ngoại là gì? Những thành tựu nổi bật và hạn chế, bất cập, bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng ta thời gian qua?.
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII đã thảo luận và thông qua “Nghị quyết về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” (Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018)(2). Theo lôgic trên, những nội dung cơ bản trong nghị quyết sẽ được làm sáng tỏ, người nghe hiểu đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc hơn nghị quyết của Đảng.
Trước khi quán triệt nghị quyết của Đảng cho các đối tượng, báo cáo viên phải thông qua trước tập thể và cán bộ phụ trách, trên cơ sở đó bổ sung, hoàn thiện nội dung, phương pháp trình bày.
Bốn là, sử dụng hợp lý phương tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ học tập, quán triệt nghị quyết
Các phương tiện kỹ thuật hiện đại có vai trò quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết. Các phương tiện kỹ thuật hiện đại được sử dụng phổ biến hiện nay như máy chiếu đa năng (Projector), phần mềm trình chiếu Power point, Video Clip. Báo cáo viên làm chủ nội dung, lựa chọn phương pháp thích hợp, kết hợp với phát huy hiệu quả các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong học tập, quán triệt nghị quyết. Khi thiết kế các slide trình chiếu cần khái quát những nội dung cơ bản của nghị quyết, nhất là những vấn đề lý luận, quan điểm, chủ trương mới của Đảng. Lựa chọn hợp lý hình ảnh tư liệu, số liệu, sơ đồ, biểu đồ minh họa; không lạm dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại dẫn đến xa rời mục đích, yêu cầu, nội dung chính đã đặt ra. Thực hiện tốt yêu cầu này sẽ làm cho buổi học tập, quán triệt nghị quyết sinh động, hứng thú, nội dung nghị quyết trở nên dễ hiểu, dễ nhớ, “thấm sâu” vào đối tượng người nghe.
Năm là, gắn chặt tinh thần nghị quyết của Đảng với tình hình, nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành, đơn vị
Quán triệt học tập nghị quyết của Đảng không chỉ dừng lại ở việc làm rõ các quan điểm, chủ trương, giải pháp được nêu ở từng nghị quyết, điều quan trọng hơn là phải vận dụng, hiện thực hóa nghị quyết ở từng cấp, từng ngành, đơn vị. Quá trình quán triệt nghị quyết của Đảng cần gắn chặt tình hình, nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành, đơn vị; liên hệ, vận dụng làm sâu sắc tinh thần, nội dung của nghị quyết, nhất là những thành tựu, yếu kém, khuyết điểm, nguyên nhân chủ quan ở cấp mình. Trên tinh thần đó, từng cấp, từng ngành, đơn vị xây dựng nghị quyết, kế hoạch, chương trình hành động sát đúng với cấp mình, nhằm hiện thực hóa quan điểm, chủ trương của Đảng đã nêu trong nghị quyết.
Sáu là, tăng tính đối thoại với người nghe trong học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng
Lâu nay, học tập, quán triệt nghị quyết thường mang tính một chiều. Báo cáo viên cố gắng thuyết trình hết nội dung đã chuẩn bị, ít đối thoại, trao đổi hai chiều. Vì vậy, chất lượng, hiệu quả học tập, quán triệt nghị quyết còn hạn chế. Tăng tính đối thoại đối với người nghe cả trong và sau buổi học tập, quán triệt nghị quyết sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết và ý thức chính trị của mỗi người. Báo cáo viên cần kịp thời giải đáp những băn khoăn, vướng mắc trong nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên, quần chúng xung quanh nội dung nghị quyết và những vấn đề thực tiễn đặt ra, qua đó củng cố, giữ vững niềm tin của cán bộ, đảng viên và quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Học tập, quán triệt nghị quyết là một khâu quan trọng trong quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng ta. Theo đó, tinh thần cơ bản của nghị quyết được phổ biến, thấm sâu trong mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng, từ đó biến thành sức mạnh tinh thần và vật chất to lớn nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng là trách nhiệm chính trị của các cấp, các ngành và đơn vị mà trực tiếp là các cấp ủy đảng. Thực hiện tốt những nội dung, biện pháp nêu trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng trong tình hình mới. Đồng thời, cần tiếp tục nghiên cứu đổi mới hình thức, phương pháp học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng nhằm mang lại hiệu quả thiết thực hơn.
............................................................................
Tài liệu tham khảo:
(1). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, HN, 2016, tr.313-314.
(2). Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, HN, 2018, tr.44-82. 19/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Văn hoá thuộc về con người, xã hội loài người, do con người sáng tạo ra trong suốt quá trình lịch sử. Ở nhiều cách tiếp cận khác nhau có những quan niệm khác nhau về văn hoá. Theo Hồ Chí Minh, văn hóa hiểu một cách khái quát và toàn diện nhất, đó là: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (1).
Mỗi quốc gia, dân tộc, châu lục có nền văn hoá riêng, khác biệt, có thể xem đó là bản sắc hay là sắc thái riêng. Chính điều đó đã tạo nên “bức tranh văn hoá” nhân loại vô cùng phong phú, đa sắc màu. Văn hoá phương Tây có điểm tương đồng, nhưng cũng có nhiều khác biệt so với văn hoá phương Đông, do sự khác biệt về những điều kiện xã hội - lịch sử sáng tạo ra nó. Thực tế cho thấy, trong mỗi nền văn hóa ở từng quốc gia, dân tộc có sự tồn tại đan xen những giá trị tiến bộ, tích cực với lạc hậu, tiêu cực, phản văn hóa và văn hóa phương Tây không phải ngoại lệ. Có nhà nghiên cứu từng đề cập đến sự tương phản, xung đột văn hóa Đông - Tây trước bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời đề xuất biện pháp nhuốm màu tiêu cực, nghĩa là kỳ thị, chối bỏ văn hóa ngoại lai, trong đó có văn hóa phương Tây.
Văn hoá không phải là một thực thể khô cứng, bất biến, trái lại nó rất sống động và có sức lan tỏa rộng rãi. Giữa các nền văn hoá luôn có sự giao thoa, tiếp biến, nhưng rất dễ xung đột với nhau do những bất đồng, khác biệt, thậm chí dị biệt. Trước đây, các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Tây bởi quá trình xâm lược, thống trị của thực dân, đế quốc phương Tây. Dã tâm đồng hoá văn hoá bản địa là mục tiêu không thể chối bỏ của thực dân, đế quốc. Vì vậy, đồng thời với quá trình thống trị về mặt chính trị, vơ vét tài nguyên khoáng sản, bóc lột sức lao động, thì thực dân, đế quốc còn tìm mọi cách nô dịch về tinh thần, truyền bá tư tưởng, áp đặt giá trị văn hoá phương Tây; biến các nước thuộc địa trở thành bản sao văn hoá của phương Tây. Phong trào đấu tranh giành độc lập, tự do ở nhiều nước thuộc Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ - Latinh mà Việt Nam là tấm gương sáng đã chấm dứt ách đô hộ của thực dân, đế quốc, mở ra triển vọng to lớn để xây dựng, bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa truyền thống.
Hiện nay, các nước phương Tây không từ bỏ tham vọng phổ quát những giá trị văn hoá trên toàn cầu. Văn hoá phương Tây tìm mọi cách du nhập vào Việt Nam bằng nhiều con đường và cách thức khác nhau. Đó là: Thông qua các loại hình nghệ thuật như điện ảnh, sân khấu, âm nhạc, hội họa, văn học; thông qua sách, báo, tạp chí; thông qua mạng Internet (rất phổ biến hiện nay); thông qua giao lưu văn hoá, hợp tác kinh tế và khoa học - công nghệ; thông qua việc học tập, nghiên cứu của học sinh, sinh viên Việt Nam ở các nước phương Tây; thông qua con đường du lịch của khách phương Tây vào Việt Nam v..v. Như vậy, hàng ngày, hàng giờ văn hoá phương Tây du nhập, thẩm thấu, tác động đa chiều đến con người và xã hội Việt Nam. Không thể phủ nhận là cùng với tác động tích cực, thì tác động tiêu cực đối với thanh, thiếu niên không hề nhỏ, đó là: Sùng bái những giá trị vật chất và tinh thần của phương Tây, xem đồng tiền như “Bái vật giáo”, quay lưng với những giá trị và truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc; tôn thờ lối sống vị kỷ và chủ nghĩa cá nhân, cái tôi lấn lướt các giá trị cộng đồng, tập thể; thực dụng, chạy theo cám dỗ vật chất, đồng tiền; vì lợi nhuận, vì tiền, vì dục vọng cá nhân sẵn sàng gây hại, tước đoạt mạng sống người khác; sa đọa về đạo đức, tha hoá về nhân cách; tình trạng sống thử trước hôn nhân có chiều hướng gia tăng; mờ nhạt, xem nhẹ lý tưởng cách mạng... Khảo sát thực tế cho thấy, hiện nay có một bộ phận không nhỏ thanh, thiếu niên bị tác động tiêu cực của văn hoá phương Tây, nên có nhận thức và hành động sai trái, phản cảm, gây mối lo ngại sâu sắc trong toàn xã hội.
Để hạn chế, đẩy lùi tác động tiêu cực của văn hoá phương Tây đến thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay, cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp cơ bản sau:
Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục bản sắc, truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đối với thanh, thiếu niên
Các cấp, các ngành, các tổ chức, đoàn thể, gia đình và nhà trường cần chú trọng, thường xuyên tuyên truyền, giáo dục bản sắc, truyền thống văn hoá đặc sắc, tốt đẹp của dân tộc Việt Nam cho thanh, thiếu niên. Giúp họ có nhận thức đúng đắn, sâu sắc về giá trị văn hoá dân tộc, bồi đắp lòng tự hào dân tộc, xây dựng phẩm chất đạo đức và nhân cách con người Việt Nam sống có lý tưởng, có hoài bão, cống hiến công sức, trí tuệ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Bằng nhiều con đường để tuyên truyền, giáo dục bản sắc, giá trị truyền thống văn hoá dân tộc cho thanh, thiếu niên, cụ thể: Tăng thêm chương trình, nội dung giảng dạy văn hóa dân tộc trong các nhà trường, các cấp học, bậc học để trang bị tri thức văn hóa, định hướng giá trị thẩm mỹ; thông qua các loại hình nghệ thuật như sân khấu, điện ảnh, hội họa, kiến trúc, âm nhạc, văn học; thông qua các cuộc hội thảo khoa học, các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, sách, báo, tạp chí, truyền hình, Internet, du lịch để giới thiệu về bản sắc văn hoá Việt Nam. Cần chú trọng giới thiệu cả văn hoá vật thể và phi vật thể đối với thanh, thiếu niên. Hình thức tuyên truyền, giáo dục về văn hoá phong phú, đa dạng, phù hợp với tuổi trẻ; tăng cường tuyên truyền, giáo dục trực quan sinh động.
Hai là, xây dựng, khai thác và sử dụng hiệu quả các thiết chế văn hoá, nhằm tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho thế hệ trẻ hoạt động
Chú trọng xây dựng các thiết chế văn hoá ở các địa phương, trường học, khu công nghiệp, nông, lâm trường để thu hút các hoạt động của giới trẻ sau thời gian học tập, lao động như: Cung Văn hoá (Nhà Văn hoá), khu thể thao đa năng, sân vận động, trường (viện) nghệ thuật văn hoá dân gian, công viên văn hoá, nhà bảo tàng văn hoá, nhà truyền thống, các câu lạc bộ, địa điểm du lịch sinh thái, lịch sử, các khu vui chơi giải trí có nhiều trò chơi dân gian nhằm tạo môi trường, điều kiện thuận lợi và sân chơi hữu ích cho thanh, thiếu niên.
Ba là, tổ chức đa dạng các hoạt động văn hoá để thế hệ trẻ được tham gia sáng tạo và thụ hưởng những giá trị tốt đẹp
Khôi phục và tổ chức chặt chẽ, có chất lượng, hiệu quả các lễ hội dân gian tốt đẹp ở nhiều vùng, miền, địa phương; tổ chức nhiều hoạt động văn hoá, nghệ thuật dân tộc. Tăng cường giao lưu văn hoá giữa các vùng, miền trong cả nước và nước ngoài thông qua việc tổ chức các sự kiện văn hoá như: Thi người đẹp; thi tiếng hát, vũ điệu dân gian, nhạc cụ dân tộc; hội diễn sân khấu dân tộc; thi ẩm thực, thi đấu các môn thể thao.., nhằm thu hút đông đảo thanh, thiếu niên tham gia để chọn lọc được những tài năng thực sự, đồng thời giúp họ thụ hưởng những giá trị tốt đẹp của văn hoá dân tộc.
Bốn là, tiếp biến những giá trị văn hoá phương Tây phù hợp với truyền thống và đạo lý Việt Nam, đồng thời tích cực đấu tranh bài trừ những tiêu cực, xấu độc
Những giá trị văn hoá tiến bộ, tích cực của phương Tây phù hợp với truyền thống, đạo lý của người Việt Nam, không xung đột với văn hoá bản địa cần được tiếp thu và cải biến, bổ sung, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Không nên có nhận thức và hành động sai lệch, phiến diện dẫn tới phủ nhận, chối bỏ tất cả giá trị văn hoá phương Tây, cho rằng văn hoá phương Tây chỉ một màu đen, tiêu cực, xấu độc. Hoặc tuyệt đối hoá mặt tích cực mà không nhận thấy mặt tiêu cực, khác biệt, dị biệt của văn hoá phương Tây. Các cơ quan quản lý văn hóa, các tổ chức quần chúng (Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Công đoàn…), các nhà khoa học, nhà giáo dục cần tích cực, chủ động phát hiện, thường xuyên tuyên truyền, giáo dục giúp thanh, thiếu niên nhận rõ mặt trái và tác động tiêu cực của văn hóa phương Tây; kiên quyết đấu tranh phê phán, bài trừ những tiêu cực, xấu độc đi ngược với bản sắc, truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
Văn hoá thuộc về con người, xã hội loài người, do con người sáng tạo ra trong suốt quá trình lịch sử sinh tồn. Sự tác động của văn hoá phương Tây đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam là một thực tế không thể phủ nhận. Đối với nước ta, văn hoá phương Tây tác động mạnh mẽ, đa chiều cả tích cực và tiêu cực đến thế hệ trẻ; tác động tiêu cực đã và đang làm tha hoá một bộ phận không nhỏ thanh, thiếu niên, người chủ tương lai của nước nhà. Đây là vấn đề rất hệ trọng, không thể xem nhẹ, lảng tránh mà đòi hỏi trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội. Tiến hành đồng bộ các giải pháp nêu trên sẽ góp phần quan trọng đẩy lùi tác động tiêu cực của văn hoá phương Tây đến thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay.
(1). Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 3, Nxb CTQG, HN, năm 2000, Tr. 431.