Không gian văn hóa Hồ Chí Minh
0 0 0 2 3 2 9 7 8 2
Đang online:
9
Hôm nay :
970
Hôm qua :
1,642
Tuần này :
3,627
Tuần trước :
6,389
Tháng này :
7,051
Tháng trước:
33,492
22/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh "...Phát triển lực lượng du kích mạnh mẽ rộng khắp thành một "thiên la địa võng”, giặc đi đến đâu là bị tiêu diệt đến đó, thì giặc nhất định thua, ta nhất định thắng”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một đơn vị bộ đội và du kích đi tham gia Chiến dịch Biên Giới
đóng quân ở huyện Phục Hòa, Cao Bằng (3/1951).
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài "Đẩy mạnh phong trào du kích", đăng trên Báo Nhân dân, số 160, từ ngày 16-20/1/1954; trong lúc cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của Nhân dân ta đang giành thế chủ động; các lực lượng vũ trang được củng cố, tăng cường; đặc biệt lực lượng du kích phát triển mạnh mẽ, phối hợp với bộ đội chủ lực giành nhiều thắng lợi lớn. Nhận rõ đặc điểm và vai trò to lớn của phong trào du kích đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, qua bài viết "Đẩy mạnh phong trào du kích", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giới thiệu, phổ biến kinh nghiệm thiết thực về việc xây dựng, phát triển lực lượng du kích, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến, kiến quốc.
Thực hiện lời dạy của Người, các địa phương trong cả nước tích cực đẩy mạnh phong trào xây dựng, phát triển lực lượng dân quân du kích rộng khắp. Lực lượng dân quân du kích đã cùng Nhân dân xây dựng làng xã chiến đấu, kiên cường bám đất, bám dân, tiêu hao lớn quân địch, phá tề, trừ gian; tích cực phối hợp với bộ đội địa phương chống địch càn quét bao vây, giải phóng làng xã, mở rộng khu căn cứ du kích, bảo vệ vững chắc vùng tự do và góp phần cùng bộ đội chủ lực giành thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc, lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài "Đẩy mạnh phong trào du kích" vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn, được Đảng, Nhà nước tiếp tục vận dụng sáng tạo vào đường lối, quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang; tập trung xây dựng Quân đội Nhân dân với số lượng quân thường trực hợp lý, có sức chiến đấu cao, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp.
Quán triệt, triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy, chính quyền các cấp, các địa phương, lực lượng dân quân tự vệ và dự bị động viên trong cả nước đã có bước phát triển mới cả về chất lượng, số lượng và trang bị. Việc xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên ngày nay càng được gắn chặt với xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, xây dựng khu vực phòng thủ, nhất là trong các vùng trọng điểm, xung yếu; thực sự là công cụ chủ đạo để bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ Nhân dân ở cơ sở. 22/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Các cô, các chú nên thấm nhuần và làm cho cán bộ thấm nhuần điều này: Phải có tinh thần cảnh giác, phòng gian bảo mật”.
Nghiên cứu, quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân
sẽ làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh.
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Bài nói tại Hội nghị cán bộ cao cấp nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 16 tháng 1 năm 1966; in trong sách Bài nói chuyện của Hồ Chủ tịch tại Hội nghị nghiên cứu Nghị quyết của Trung ương; trong bối cảnh Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng giành được nhiều thắng lợi trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và trong cách mạng dân tộc dân chủ Nhân dân ở miền Nam. Bên cạnh thắng lợi đó, quá trình tiến hành cách mạng ở từng miền vẫn còn nhiều yếu kém sơ hở, bị kẻ gian, bọn phản động lợi dụng phá hoại.
Hồ Chí Minh biểu dương, khen ngợi những tập thể, cá nhân đã lập được nhiều thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; đồng thời chỉ ra những yếu kém, khuyết điểm đang tồn tại; một số nơi còn làm lộ bí mật, cán bộ nói lộ bí mật của Đảng, Nhà nước bị kẻ địch lợi dụng chống phá, gây ra nhiều bất lợi, cản trở sự phát triển của cách mạng. Người yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên trong bộ máy của Đảng, Nhà nước phải học tập, làm theo những gương điển hình; đồng thời phải sửa đổi lề lối làm việc cho thật khoa học; phải nâng cao ý thức cảnh giác, tuyệt đối giữ gìn bí mật của Đảng, Nhà nước.
Lời của Người nhanh chóng được triển khai tới mọi cán bộ, đảng viên, trong các tổ chức; tiến hành đợt sinh hoạt rút kinh nghiệm; đẩy mạnh phong trào học tập tập thể, cá nhân đạt thành tích tốt, kiên quyết khắc phục khuyết điểm; thực hiện nghiêm lề lối, nội quy làm việc. Trong lĩnh vực hoạt động quân sự, lời của Người được các đơn vị đón nhận, quán triệt sâu sắc; trao đổi rút kinh nghiệm, bồi dưỡng nâng cao nhận thức, trách nhiệm, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, lề lối làm việc khoa học của cán bộ, chiến sĩ, thực hiện tốt công tác phòng gian bảo mật quân sự, bí mật quốc gia.
Hiện nay, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình", thực hiện "phi chính trị hóa" Quân đội; thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; đặc biệt, chúng triệt để lợi dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện đại để móc nối, lôi kéo, thu thập thông tin với âm mưu xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đang đặt ra yêu cầu cao đối với các cơ quan, đơn vị Quân đội trong đấu tranh phòng gian, giữ gìn bí mật quân sự, bí mật quốc gia, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. 22/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ Mặt trận trung du, đợt thứ hai chiến dịch bắt đầu như thế là khá lắm. Bác thân ái gửi lời khen các chú. Bác mong mỗi người, mỗi đơn vị đều hăng hái thi đua xung phong, giết cho nhiều địch, hạ cho nhiều đồn”.
Bác Hồ gắn Huy hiệu khen ngợi cán bộ, chiến sĩ lập thành tích xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Điện gửi cán bộ và chiến sĩ Mặt trận Trung du, vào ngày 17 tháng 01 năm 1951, trong thời điểm thực dân Pháp ở Đông Dương do tướng Tátxinhi chỉ huy, đang tăng cường binh lực nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang, đàn áp, giết hại đồng bào, phá hủy mọi thành quả cách mạng; song chúng đã bị quân và dân ta đánh bại liên tiếp nhiều cuộc hành quân càn quét, đẩy địch vào thế bất lợi, binh lính hoang mang, lo sợ.
Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bức Điện đã khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Mặt trận trung du trong thời gian qua đã lập nhiều công lớn; mong muốn cán bộ và chiến sĩ Mặt trận trung du hăng hái thi đua giết giặc lập công nhiều hơn nữa. Lời khích lệ của Người đã nhanh chóng lan truyền khắp mặt trận, cổ vũ động viên Nhân dân và cán bộ, chiến sĩ cả nước, phát huy thắng lợi của chiến dịch lần trước, tiếp tục đoàn kết, thi đua giữa các đơn vị trong mặt trận, lập nhiều chiến công, thắng lợi lớn, đánh đuổi giặc Pháp xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.
Ngày nay, đất nước đã hòa bình, độc lập, công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa bước đầu đạt được những thành tựu quan trọng; phong trào thi đua yêu nước không ngừng được phát triển; Đảng và Nhà nước quan tâm tổ chức các hoạt động tôn vinh cái đúng, cái đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn. Trong Quân đội, công tác thi đua và Phong trào Thi đua quyết thắng được đẩy mạnh, gắn chặt chẽ với Cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ"; khơi dậy và phát huy cao độ bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, ý thức, trách nhiệm, tài năng, sức sáng tạo to lớn của cán bộ, chiến sĩ toàn quân cống hiến cho sự nghiệp cách mạng cao cả, vẻ vang, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 22/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Con cháu Lạc Hồng, bao giờ cũng quật cường, không bao giờ sợ khổ”
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong Thư gửi đồng bào tản cư, ngày 17 tháng 2 năm 1947: “Tôi và Chính phủ không giờ phút nào không lo lắng đến các đồng bào. Bây giờ đang cực khổ, thì chúng ta vui chịu với nhau. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, chúng ta sẽ cùng nhau vui sướng, Con cháu Lạc Hồng, bao giờ cũng quật cường, không bao giờ sợ khổ”.
Lời động viên trên không những thể hiện sự quan tâm, lo lắng, sẻ chia của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào tản cư đang ngày đêm chịu cảnh cực khổ khi nước nhà bị thực dân Pháp xâm lược, mà còn khẳng định truyền thống giống nòi, ý chí sắt đá, vượt khó vươn lên, tinh thần quật cường chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta được hình thành và phát triển ngay từ buổi đầu dựng nước và giữ nước. Qua hàng trăm cuộc khởi nghĩa và hàng chục cuộc kháng chiến lớn nhỏ, lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta đã để lại một di sản quý báu, đó là truyền thống đấu tranh anh hùng, bất khuất, bảo vệ độc lập dân tộc. Truyền thống anh hùng chống giặc ngoại xâm xuất phát từ lòng yêu nước nồng nàn của mọi người dân, là nguồn động viên tinh thần lớn lao, có tác dụng duy trì tinh thần chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của Nhân dân ta. Cũng chính lịch sử đấu tranh giữ nước đã tạo ra và hun đúc ý chí, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam. Nhân dân ta nhận thức sâu sắc rằng: Nước mất thì nhà tan, do đó muốn mưu cầu tự do, ấm no, hạnh phúc, trước hết phải đấu tranh bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc.
Ngày nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang đồng tâm, hợp lực đẩy mạnh và thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước vừa có những thuận lợi, khó khăn đan xen. Trước yêu câu đó, lời động viên “Con cháu Lạc Hồng, bao giờ cũng quật cường, không bao giờ sợ khổ” vẫn mang ý nghĩa thời sự sâu sắc, khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, cỗ vũ, động viên Nhân dân ta, Quân đội ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng nhất định sẽ chiến thắng đói nghèo, lạc hậu; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Đồng thời, nhắc nhở mỗi người dân Việt Nam nói chung, mỗi quân nhân trong Quân đội ta nói riêng hãy bằng những hành động, việc làm cụ thể trong lao động, chiến đấu, thể hiện nghị lực vượt mọi khó khăn, quyết tâm làm tròn chức trách, nghĩa vụ của người cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, với tinh thần hăng say, suy nghĩ, kiến tạo và cống hiến để thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh chính là hiện thực hóa con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó còn là sự trân trọng lịch sử, sự tôn vinh các anh hùng, liệt sĩ và cũng là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong tình hình mới. 22/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh “Theo đúng đường lối thì đi đến nơi, về đến chốn...”
Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài “Đường lối chung của Đảng và Chính phủ ở nông thôn”. Năm 1957, khi công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Nhân dân ta ở miền Bắc bắt đầu những bước đi đầu tiên, nên cần phải đi cho đúng, đặc biệt là ở nông thôn, phải xác định những bước đi phù hợp.
Lời nói trên của Bác có ý nghĩa rất lớn, khẳng định tầm quan trọng của đường lối cách mạng trong tập hợp, dẫn dắt quần chúng Nhân dân. Đi theo đúng đường lối của Đảng thì sẽ đến thành công, sẽ phát huy được khối đại đoàn kết toàn dân để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng; đồng thời, qua đó cũng nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên nếu xác định sai đường lối, đi sai đường lối thì sẽ không tập hợp được quần chúng Nhân dân, thậm chí dẫn đến thất bại. Thực hiện lời dạy của Bác, Nhân dân ta nói chung, đội ngũ cán bộ nói riêng luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng, đường lối của Đảng; ra sức học tập, lao động sản xuất và công tác theo nhiệm vụ, chức trách để hiện thực hóa đường lối của Đảng vào cuộc sống, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay, thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng nâng cao, song lời dạy “Đường lối là để mà đi. Theo đúng đường lối thì đi đến nơi, về đến chốn…” vẫn còn nguyên giá trị, là cơ sở quan trọng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đẩy mạnh việc thực hiện thắng lợi đường lối chính trị, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đồng thời, là phương châm chỉ đạo, để đội ngũ cán bộ, dù ở cương vị nào cũng phải là người đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với Nhân dân. Đặc biệt, phải coi trọng tuyên truyền đúng và hướng dẫn Nhân dân thực hiện đúng, thì công việc sẽ suôn sẻ và đi đến thành công. 22/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 5. Tác phẩm “Di chúc”
Với mục đích để “đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột” lúc Người phải về nơi vô cùng, vô tận. Người đã âm thầm để sẵn “mấy lời” và chúng ta thành kính gọi là Di chúc. Thời gian vẫn không ngừng trôi, nhưng mỗi lần đọc lại những dòng chữ chan chứa yêu thương đó, chúng ta như được tiếp thêm sức mạnh để thực hiện tốt hơn những di nguyện của Người. Di chúc được Người bắt đầu chấp bút từ tháng 5-1965 đến tháng 5-1969, nghiền ngẫm trong 4 năm trời, chắt lọc tình cảm và suy nghĩ của cả cuộc đời, bản Di chúc đã đề cập đến những vấn đề trọng yếu của đời sống dân tộc cũng như tương lai của đất nước. Bằng lời lẽ mộc mạc, giản dị nhưng lại vô cùng súc tích, Di chúc tuy ngắn gọn nhưng chứa đựng toàn bộ tình cảm và tư tưởng của Người đối với sự nghiệp cách mạng, và các thế hệ người Việt Nam.
Bảo vật Quốc gia cuối cùng mà Người để lại là sự kết tinh tinh thần tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp suốt đời phấn đấu hi sinh vì nước vì dân; vạch ra những định hướng mang tính cương lĩnh cho sự phát triển của đất nước sau khi kháng chiến thắng lợi; là những lời căn dặn thiết tha; là sức mạnh thôi thúc toàn dân tộc hành động trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Là người sáng lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời chăm lo cho việc xây dựng Đảng, bảo đảm cho Đảng đủ điều kiện và sức mạnh lãnh đạo toàn dân tộc. Điều đầu tiên Bác nhắc tới trong Di chúc là nói về Đảng.
Quan tâm tới con người luôn chiếm vị trí quan trọng trong chỉ đạo và điều hành đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong Di chúc, Người nhắc đến tất thảy mọi người, từ "bà con lao động, công nhân, nông dân, thanh niên, học sinh, trí thức". Người căn dặn Đảng "phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân"...
Chỉ với hơn 1.000 từ vô cùng ngắn gọn, Di chúc của Người đã truyền cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ý chí quyết tâm sắt đá, niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh vĩ đại của dân tộc Việt Nam; sức mạnh của chính nghĩa và chân lý "Không có gì quý hơn độc lập tự do"; sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh và Di chúc của Người vẫn luôn đồng hành cùng dân tộc, soi rọi, dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân, toàn quân luôn kiên định và trung thành với sự nghiệp cách mạng; kế tục xuất sắc sự nghiệp cách mạng vĩ đại mà Người đã trọn đời cống hiến và hy sinh. 22/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 4. Tác phẩm “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước”
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược
Lịch sử đã trao cho dân tộc Việt Nam sứ mệnh nặng nề khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta trở thành cuộc đọ sức điển hình, thành tâm điểm của cuộc đấu tranh vô cùng quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng. Ngày 17-7-1966, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn ác liệt nhất, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh bằng không quân đánh phá miền Bắc, một lần nữa, trên sóng Đài TNVN đã vang lên "Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước" của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lời hiệu triệu của vị lãnh tụ kính yêu đã thôi thúc hàng triệu con tim, khối óc đồng bào, chiến sĩ hăng hái lên đường đánh giặc, giành độc lập, tự do cho non sông, đất nước.
Trong Lời Hịch non sông ấy có câu: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là động lực tinh thần to lớn thôi thúc lớp lớp thế hệ người Việt Nam lên đường chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, làm nên đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” tiếp tục là kim chỉ nam để toàn Đảng, toàn dân ra sức phát triển đất nước, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời của Tổ quốc. 22/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 3. Tác phẩm “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”
"Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ...", sáng 20-12-1946, lời kêu gọi nhân dân cả nước đứng dậy chống thực dân Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh vang lên trên sóng Đài TNVN khắp mọi miền Tổ quốc.
Bài hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dài vỏn vẹn 19 dòng với 199 từ và được Người viết tại làng Vạn Phúc, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội), đã thể hiện những quan điểm cốt lõi của Người về kháng chiến toàn dân, cũng như mệnh lệnh của non sông, thôi thúc cả dân tộc chung sức, đồng lòng vùng dậy quyết chiến, quyết thắng quân Pháp xâm lược.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi độc lập dân tộc và tự do, hòa bình là mục tiêu phấn đấu suốt đời mình. Thế nhưng trong điều kiện phải đương đầu với kẻ thù xâm lược có sức mạnh quân sự và kinh tế lớn hơn ta nhiều lần, có quân số đông và vũ khí hiện đại, ta cần phải huy động sức mạnh của toàn dân để chiến đấu.
Ra đời trong thời khắc lịch sử đặc biệt, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tác động đến sâu thẳm lòng yêu nước và ý chí quật cường của dân tộc. Hơn 7 thập kỉ trôi qua, lời kêu gọi bất hủ có giá trị lịch sử sâu sắc đó đã trở thành một văn kiện, một bản thiên cổ hùng văn, trường tồn cùng lịch sử Việt Nam trong thời đại mới. Trước những thăng trầm của thời gian, giá trị lịch sử của "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" vẫn luôn là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng và toàn thể nhân dân Việt Nam, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ, đồng bào kề vai sát cánh, chung sức, đồng lòng cũng như để lại những kinh nghiệm quý báu để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 22/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 2. Tác phẩm “Nhật ký trong tù”
Trong các văn phẩm của Chủ tịch Hồ Chí mInh, Nhật ký trong tù có một vị trí đặc biệt, được viết trong một hoàn cảnh đặc biệt, được dư luận trong nước và thế giới biết đến cũng rất đặc biệt. Đây không phải là bài thơ mà là một tập thơ, 135 bài thơ được viết bằng chữ Hán.Tháng 8-1942, với danh nghĩa là đại biểu Việt Nam Ðộc lập Ðồng minh và Phái bộ quốc tế chống xâm lược, Bác Hồ từ Cao Bằng sang Trung Quốc để vận động quốc tế ủng hộ cách mạng Việt Nam giành độc lập, nhưng đã bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ, sau đó giải qua nhiều nhà lao thuộc tỉnh Quảng Tây từ ngày 25-8-1942 đến ngày 19-9-1943.
Xuyên suốt tập thơ là hình ảnh người tù Hồ Chí Minh tràn đầy tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và một quyết tâm cao độ đấu tranh cho tự do. Dù tiếp cận ở những thời khắc khác nhau, song bất cứ ai đọc tác phẩm cũng đều phần nào hình dung được thế giới tâm hồn nhiều cung bậc của Người, thấy được tầm vóc trí tuệ của một chân dung vĩ đại, với khát vọng cao đẹp nhất là "Độc lập cho dân tộc và Tự do cho con người".
Độ lùi của thời gian càng xa, ta càng thêm những cảm nhận sâu lắng tự tâm hồn về một tác phẩm thơ với nghệ thuật văn chương và tầm tư tưởng đích thực. Hơn nữa, trong Nhật ký trong tù không chỉ có hình tượng thơ, có tâm hồn thi nhân, mà còn đầy ắp những sự kiện và tình huống của một tù nhân, bị giải đi khắp 13 huyện và hơn 30 nhà giam của tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Người đã viết trong bài Kết luận cuối tập thơ: “Ngục trung nhật ký từ đây dứt”. Đó chỉ là sự khép lại 13 tháng tù đày. Còn tâm hồn thơ, trí tuệ và bản lĩnh, phong cách thơ của Người mãi ngân vang trong đời sống tinh thần mỗi chúng ta, trong học tập và làm làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người- hôm nay, mai sau và mãi mãi muôn đời, muôn thế hệ. 22/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Trong lịch sử Việt Nam cũng chưa có thời kỳ nào lực lượng phụ nữ lại có cả các bà, các chị, cả phụ nữ có con nhỏ tham gia phong trào chiến đấu, phục vụ chiến đấu đông đảo như cuộc kháng chiến này. Ý thức được nghĩa vụ chống Mỹ cứu nước, ở hậu phương, chị em đều đảm đang việc gia đình, thay thế chồng con sản xuất và trực tiếp chiến đấu. Ban ngày các chị tay cày, tay súng, tối về lo việc nhà, dạy dỗ con thơ. Nhiều tấm gương của chị em đã được cả nước biết đến như Trung đội nữ dân quân xã Hoa lộc (huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá), Tiểu đội nữ dân quân xã Kỳ Phương (huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh), Đại đội nữ Pháo binh xã Ngư Thuỷ (huyện Lệ Thuỷ, Quảng Bình). Bác đã kịp thời viết thư khen ngợi và động viên tinh thần chiến đấu của chị em. Trong đó, Đại đội nữ pháo binh Ngư Thủy chỉ là những cô gái 15, 17 tuổi nhưng với tinh thần chiến đấu ngoan cường, anh dũng, họ đã vác những khẩu pháo 85 ly rất nặng và bắn rơi nhiều máy bay, tàu chiến của địch, lập không ít chiến công. Để động viên và khích lệ tinh thần chiến đấu của các nữ pháo thủ, ngày 28-4-1969, chị Trần Thị Thản- Chính trị viên Đại đội đã được ra Hà Nội báo công cùng Đoàn đại biểu Quân khu IV. Đoàn đại biểu đã được Bác gặp và tiếp đón thân mật. Các chị em trong Đoàn đều được Người gửi tặng một bó hoa. Người khen ngợi các chiến công và thành tích vẻ vang của quân và dân Quân khu IV và căn dặn: “Các đơn vị, địa phương, các chiến sĩ phải luôn luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, đoàn kết, ra sức chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần xứng đáng cùng quân và dân cả nước đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.”(9)
Tại lễ kỷ niệm Ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, ngày 10-10-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ miền Bắc là phong trào yêu nước nồng nàn và rộng khắp, lôi cuốn đông đảo phụ nữ hai miền thi đua sản xuất, phục vụ chiến đấu và trực tiếp chiến đấu, góp phần to lớn vào sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của toàn dân…”(10). Trong phong trào “Ba đảm đang” đã có 42 nữ anh hùng, 9 đơn vị nữ anh hùng được tôn vinh; 1.718 chị em được thưởng Huy hiệu Bác Hồ, trên 5.000 chị em là chiến sỹ thi đua toàn quốc, gần 4 triệu hội viên đạt Danh hiệu phụ nữ “Ba đảm đang”. Những thành tích đó của Phụ nữ Việt Nam ta thật xứng đáng với 12 chữ vàng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã khen tặng cũng nhân dịp kỷ niệm Ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ngày 20-10-1966: “Phụ nữ Việt Nam dũng cảm đảm đang chống Mỹ cứu nước”.
Hơn 50 năm đã đi qua, phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ đã được ghi nhận là một mốc son trong lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam - một phong trào đã có tác dụng vận động to lớn trong một giai đoạn lịch sử dân tộc. Phong trào đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình nhưng những giá trị tinh thần và hiệu quả to lớn của cuộc vận động này giữ nguyên giá trị và trở thành truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam. Truyền thống đảm đang đã và đang được các thế hệ phụ nữ trân trọng, phát huy và nâng lên tầm cao mới.
Hiện nay, đất nước ta đang tiến hành xây dựng công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Người phụ nữ ngày càng có vị thế, và vai trò quan trọng trong xã hội, là động lực thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội. Điều này, đòi hỏi phụ nữ Việt Nam hôm nay vừa phải tiếp tục kế tục và phát huy truyền thống của các thế hệ phụ nữ: “Ba đảm đang”, “đội quân tóc dài”… ngày trước, vừa trau dồi kiến thức trở thành người phụ nữ hiện đại yêu nước, có tri thức, có sức khỏe, năng động, sáng tạo, tự tin, ngày càng chứng tỏ được vị thế, vai trò quan trọng của mình trong gia đình và xã hội. Để xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.
Chú thích:
1. Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Năm 2009, tập 3, tr.222.
2. Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Năm 2009, tập 12, tr.148.
3. Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Năm 2009, tập 6, tr.432.
4. Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Năm 2009, tập 6, tr.432.
5. Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Năm 2009, tập 11, tr.471.
6. Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Năm 2009, tập 11, tr.621.
7. Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2009, t.10, tr3.
8. Hồ Ngọc Diệp (2011). Bác Hồ với Mẹ Suốt và câu chuyện về bức ảnh lịch sử, Thông tin Khoa học - Công Nghệ Quảng Bình, 6, 76-77
9. Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2009, t.10, tr346.
10. Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Năm 2009, tập 12, tr.149. 22/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 15. Chuyện kể Bác Hồ với phụ nữ
- Tác giả: Nguyễn Văn Dương (sưu tầm và biên soạn)
- Nxb Hồng Bàng
- Năm xuất bản: 2012
Trong hành trình tìm đường cứu kéo dài 30 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đem lại và tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đồng thời cũng chính là người đề xướng và thực hiện công cuộc giải phóng phụ nữ, đưa thân phận người phụ nữ Việt Nam từ cảnh lầm than, khổ cực và bị đối xử bất bình đẳng trở thành người công dân có đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ, vai trò xã hội ngang hàng với nam giới.
Quan điểm của Bác về vấn đề giải phóng phụ nữ, giành quyền bình đẳng thực sự cho chị em là triệt để, cương quyết, nhất quán, nhưng cách ứng xử và giải quyết lại tế nhị, linh hoạt theo phong cách Việt Nam: Giản dị, dễ hiểu.
Là một tập hợp có chọn lọc các bài nói, bài viết, buổi gặp gỡ, chuyến công tác, hình ảnh sống động, câu nói chân thực, các chuyện kể cảm động, cuốn sách “Chuyện kể Bác Hồ với phụ nữ” giới thiệu những gương mặt phụ nữ Việt Nam đã có vinh dự được gặp Bác Hồ, được Bác quan tâm săn sóc, dạy bảo. Họ là những người phụ nữ ở các cương vị khác nhau như nông dân, nhà giáo, nhà báo, bác sỹ, nghệ sỹ, cán bộ Hội phụ nữ, anh hùng quân đội,... nhưng tất cả họ đều học được ở Bác từ phong cách làm việc, lối sống giản dị, khiêm nhường và cũng từ đó họ phấn đấu trưởng thành trên mọi lĩnh vực công tác. 22/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 14. Đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống - Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
- Tác giả: PGS, TS. Lê Văn Tích (Chủ biên)
- Nxb Chính trị quốc gia
- Năm xuất bản: 2006
Nội dung cuốn sách gồm bốn chương:
- Chương I: Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Chương II: Thực trạng công tác tổ chức, giáo dục, tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay qua phân tích số liệu điều tra xã hội học.
- Chương III: Cơ sở lý luận của việc xây dựng phương pháp đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống.
- Chương IV: Các hình thức, biện pháp đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống.
Cuốn sách được xuất bản nhằm góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, tự giác của mỗi người, nhất là thanh niên, học sinh, sinh viên, của các cấp, các ngành, các địa phương trong việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết những vấn đề thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 22/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 13. Học tập đạo đức Bác Hồ
- Tác giả: Giáo sư, Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới Vũ Khiêu
- Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
- Năm xuất bản: 2015
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Người để lại cho chúng ta một di sản tinh thần to lớn gồm những giá trị nhân văn cao cả, đặc biệt là tư tưởng đạo đức cách mạng.
Với tình cảm sâu sắc và sự uyên bác của mình, Giáo sư, Anh hùng Lao động Vũ Khiêu đã luận giải một cách độc đáo về tư tưởng, tình cảm, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, vừa giản dị và sâu sắc.
Cuốn sách “Học tập đạo đức Bác Hồ” gồm có 3 chương:
Chương I: Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Chương II: Nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
Chương III: Những vấn đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong sự nghiệp của nhân dân ta ngày nay.
Trong tác phẩm này, tác giả đã kết hợp được phong cách nghị luận với lối kể chuyện hóm hỉnh cùng những lập luận sắc bén đan xen các mẩu chuyện hết sức chân thực, sinh động, để người đọc tự suy ngẫm, từ đó rút ra những bài học bổ ích cho mình. Trong vai trò người kể chuyện, tác giả đã dẫn dắt người đọc tìm hiểu về tư tưởng, tình cảm, đạo đức và phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đời hoạt động cách mạng, về những tình cảm gia đình, tình bạn, tình đồng chí và tinh thần quốc tế vô sản của Người, giúp người đọc ở mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp xã hội có thể tiếp cận, học tập, noi theo và vận dụng trong cuộc sống. Phần cuối của cuốn sách, tác giả đã tập trung làm rõ những yêu cầu mới về đạo đức và lối sống trong giai đoạn mới của cách mạng; mối liên hệ giữa đạo đức và kinh tế; sự cần thiết phải học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh...
Học tập đạo đức Bác Hồ của Giáo sư, Anh hùng Lao động Vũ Khiêu được ra mắt và phát hành mang một ý nghĩa đặc biệt, góp phần thúc đẩy sự chuyển biến mạnh mẽ trong ý thức tu dưỡng, rèn luyện và hành động theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, chính trị, lối sống; xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh. 22/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 12. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay
- Tác giả: PGS, TS. Nguyễn Thế Thắng (Chủ biên)
- Nxb Chính trị quốc gia - Hành chính
- Năm xuất bản: 2013
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta khẳng định rõ: “Tiếp tục đổi mới phong cách, lề lối làm việc của Đảng theo hướng thực sự dân chủ, kỷ cương, thiết thực, sâu sát cơ sở, sâu sát quần chúng, làm việc có chương trình, kế hoạch, có trọng tâm, trọng điểm, nói đi đôi với làm”. Muốn thực hiện nhiệm vụ này, trước hết các cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị nước ta cần đổi mới phong cách làm việc theo tư tưởng của Hồ Chí Minh.
Cuốn sách chủ yếu đề cập đến hai nội dung cơ bản:
Một là: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Hai là: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay. 22/2/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh 11. Ở bên Bác Hồ
- Tác giả: Đỗ Hoàng Linh, Nguyễn Văn Dương, Vũ Kim Yến
- Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
- Năm xuất bản: 2012
Cuốn sách Ở bên Bác Hồ gồm hai tập, do các tác giả Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch sưu tầm và biên soạn.
Cuốn sách bao gồm nhiều bài viết, hồi ký của các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể, quân đội ở Trung ương và địa phương ghi lại tình cảm đầy xúc động đối với Bác Hồ trong những năm tháng được sống, được làm việc bên Người. Một phần nội dung của cuốn sách dành cho các cán bộ, chiến sĩ, nghị sĩ, trí thức, công nhân, nông dân, thiếu niên, nhi đồng, đồng bào các dân tộc thiểu số,… kể lại những kỷ niệm đáng nhớ về những giây phút quý giá ở bên Bác Hồ muôn vàn kính yêu, đồng thời biểu thị quyết tâm làm theo lời Bác dạy, phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà Bác và Đảng ta đã lựa chọn.