0 0 0 2 2 7 2 1 5 1
Đang online:
3
Hôm nay :
31
Hôm qua :
1,951
Tuần này :
8,041
Tuần trước :
9,324
Tháng này :
28,674
Tháng trước:
36,129
11/1/2024 CÔNG KHAI Năm 1968, các ông Hà Huy Giáp, Lê Xuân Đồng, Phan Hiền được Bác Hồ mời đến trao đổi về việc biên soạn lại sách “Người tốt - Việc tốt”.
Bác chỉ chồng tài liệu cao gần nửa mét trên bàn và cho biết đó là những bài báo và báo cáo viết về hơn bốn nghìn người được Bác thưởng huy hiệu trong mấy năm qua. Bác đã sắp xếp lại thành 18 tập. Nếu kể cả tập thứ 19 đang làm dở dang thì số người được Bác khen đã lên tới năm nghìn.
Những tập tài liệu đều đóng bìa vở học sinh, giấy nền bên trong là giấy báo cũ. Những bài báo và báo cáo về Người tốt - Việc tốt được cắt dán cẩn thận trên giấy báo. Bài nào cũng mang bút tích của Bác bằng mực đỏ hoặc bút chì đỏ, ghi rõ tặng một hay mấy huy hiệu.
Bác nói đùa:
- Như thế là đã thành Bách khoa toàn thư rồi đấy. Từ đó, các chú chọn ra những tấm gương nào cần viết lại trước và viết cho thật tốt, để mọi người có ý thức làm theo, và làm hơn thế.
Bác trao cho ông Giáp mấy tờ giấy đánh máy ghi rõ mỗi ngành, mỗi giới, mỗi địa phương có bao nhiêu người được khen thưởng. Bác phê bình một số cán bộ lãnh đạo mải làm công tác sự vụ hơn là để tâm sức xây dựng con người mới…, cho nên không chịu theo dõi việc làm hàng ngày của quần chúng nhân dân… và hỏi:
- Hình như các chú cũng chưa coi trọng những việc nhỏ như thế?
Không đợi trả lời, Bác nói tiếp:
- Các chú có biết biển cả do cái gì tạo nên không? Từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông, rồi thành biển. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế thì chỉ thấy ngọn mà quên mất cái gốc.
Ngừng một lúc, Bác nói tiếp:
- Bác chỉ muốn nhắc nhở các chú một điều: Chớ bỏ qua những việc mà các chú tưởng là tầm thường. Nếu cứ ngồi kể lại những gương Người tốt - Việc tốt thì kể mãi cũng chẳng hết được. Tất cả những việc làm như vậy đều nói lên tinh thần yêu nước, đạo đức trong sáng, thuần phong mỹ tục của nhân dân ta. Chúng ta đánh giặc và xây dựng mỹ tục của nhân dân ta. Chúng ta đánh giặc và xây dựng xã hội mới bằng những việc làm muôn hình muôn vẻ của hàng chục triệu con người như thế, chứ không phải chỉ bằng thành tích nổi bật của một số cá nhân anh hùng…
Qua câu chuyện trên, Bác đã dạy cho chúng ta:
“Sự thành công của tập thể có sự đóng góp của tất cả các cá nhân, và mỗi cá nhân muốn đạt được thành công thì hãy luôn làm tốt những việc, cho dù là nhỏ nhất”; Ở một góc cạnh khác câu chuyện còn mang một hàm ý khác đó là mỗi công việc dù lớn hay nhỏ đều có tầm quan trọng riêng của nó, đừng xem nhẹ những công việc nhỏ mà làm ảnh hưởng đến công việc chung của tập thể.
Câu chuyện khép lại với nhiều tầng ý nghĩa, như một lời nhắn nhủ đến mọi người: mỗi cán bộ công chức viên chức đều có những công việc khác nhau dù đơn giản hay phức tạp, nếu mỗi người hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình thì công việc của cơ quan sẽ hoàn thành tốt tất cả các các nhiệm vụ được giao. 20/12/2023 CÔNG KHAI VI. CÁCH LÃNH ĐẠO
1. Lãnh đạo và kiểm soát
“Chẳng những phải lãnh đạo quần chúng, mà lại phải học hỏi quần chúng”.
Câu đó nghĩa là gì ?
Nghĩa là: Người lãnh đạo không nên kiêu ngạo, mà nên hiểu thấu. Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng, để thêm cho kinh nghiệm của mình.
Nghĩa là một giây, một phút cũng không thể giảm bớt mối liên hệ giữa ta và dân chúng.
Nghĩa là phải lắng tai nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người “không quan trọng”.
Lãnh đạo đúng nghĩa là thế nào?
Cố nhiên, không phải cứ ngồi trong phòng giấy mà viết kế hoạch, ra mệnh lệnh.
Lãnh đạo đúng nghĩa là:
1. Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng. Mà muốn thế thì nhất định phải so sánh kinh nghiệm của dân chúng. Vì dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta.
2. Phải tổ chức sự thi hành cho đúng. Mà muốn vậy, không có dân chúng giúp sức thì không xong.
3. Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được.
Những người lãnh đạo chỉ trông thấy một mặt của công việc, của sự thay đổi của mọi người: Trông từ trên xuống. Vì vậy sự trông thấy có hạn.
Trái lại, dân chúng trông thấy công việc, sự thay đổi của mọi người, một mặt khác: họ trông thấy từ dưới lên. Nên sự trông thấy cũng có hạn.
Vì vậy, muốn giải quyết vấn đề cho đúng, ắt phải họp kinh nghiệm cả hai bên lại.
Muốn như thế, người lãnh đạo ắt phải có mối liên hệ chặt chẽ giữa mình với các tầng lớp người, với dân chúng.
Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi.
Vì vậy, cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại.
Chọn người và thay người cũng là một vấn đề quan trọng trong việc lãnh đạo.
Những người mắc phải bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, không làm được việc, phải thải đi. Ngoài ra còn có hai hạng người, cũng phải chú ý:
Một là có những người cậy mình là “công thần cách mạng”, rồi đâm ra ngang tàng, không giữ gìn kỷ luật, không thi hành nghị quyết của Đảng và của Chính phủ. Thế là họ kiêu ngạo, họ phá kỷ luật của Đảng, của Chính phủ.
Cần phải mời các ông đó xuống công tác hạ tầng, khép họ vào kỷ luật, để chữa tính kiêu ngạo, thói quan liêu cho họ và để giữ vững kỷ luật của Đảng và của Chính phủ.
Hai là hạng người nói suông. Hạng người này tuy là thật thà, trung thành, nhưng không có năng lực làm việc, chỉ biết nói suông. Một thí dụ: Hôm nọ tôi hỏi một cán bộ L:
– Mùa màng năm nay thế nào ?
L trả lời: Việc đó tôi đã động viên nhân dân rồi.
Hỏi: Rồi sao nữa ?
L trả lời: Tôi đã bày tỏ vấn đề đó một cách rất đầy đủ.
Hỏi: Rồi sao nữa ?
L trả lời: Công tác xem chừng khá.
Hỏi: Rồi sao nữa ?
L trả lời: Chắc là có tiến bộ.
Hỏi: Nói tóm lại đã cày cấy được mấy mẫu ?
L trả lời: Ở vùng chúng tôi, cày cấy hiện nay chưa đâu ra đâu cả!
Trong Đảng ta, có một số người như thế. Chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được. Những người như thế cũng không thể dùng vào công việc thực tế.
Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát.
Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi.
Song, muốn kiểm soát có kết quả tốt, phải có hai điều: Một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm. Hai là người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín.
Kiểm soát cách thế nào?
Cố nhiên, không phải cứ ngồi trong phòng giấy mà chờ người ta báo cáo, mà phải đi tận nơi, xem tận chỗ.
Vì ba điều mà cần phải có kiểm soát như thế:
1. Có kiểm soát như thế mới biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu.
2. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan.
3. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết.
Kiểm soát có hai cách: Một cách là từ trên xuống. Tức là người lãnh đạo kiểm soát kết quả những công việc của cán bộ mình.
Một cách nữa là từ dưới lên. Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó. Cách này là cách tốt nhất để kiểm soát các nhân viên.
Còn ở trong Đảng, khi khai hội, các đảng viên nghe những người lãnh đạo báo cáo công việc, các đảng viên phê bình những khuyết điểm, cử hoặc không cử đồng chí nọ hoặc đồng chí kia vào cơ quan lãnh đạo. Đó là kiểm soát theo nguyên tắc dân chủ tập trung, phê bình và tự phê bình, những nguyên tắc mà Đảng phải thực hành triệt để.
Ở quần chúng, khai hội, phê bình và bày tỏ ý kiến, bầu cử các uỷ ban, các hội đồng, v.v.; đó là những cách quần chúng kiểm soát những người lãnh đạo.
2. Lãnh đạo thế nào ?
Bất kỳ công việc gì, cũng phải dùng hai cách lãnh đạo sau đây: Một là liên hợp chính sách chung với sự chỉ đạo riêng. Hai là liên hợp người lãnh đạo với quần chúng.
Thế nào là liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng?
Bất kỳ việc gì, nếu không có chính sách chung, kêu gọi chung, không thể động viên khắp quần chúng.
Song, nếu người lãnh đạo chỉ làm chung, làm khắp cả một lúc, mà không trực tiếp nhằm một nơi nào đó, thực hành cho kỳ được, rồi lấy kinh nghiệm nơi đó mà chỉ đạo những nơi khác, thì không thể biết chính sách của mình đúng hay sai. Cũng không thể làm cho nội dung của chính sách đó đầy đủ, thiết thực.
Thí dụ: Việc chỉnh đốn Đảng. Ngoài những kế hoạch chung về việc đó, mỗi cơ quan hoặc mỗi bộ đội phải chọn vài ba bộ phận trong cơ quan hay bộ đội mình, nghiên cứu rõ ràng và xem xét kỹ lưỡng sự phát triển (công việc chỉnh đốn Đảng) trong những bộ phận đó.
Đồng thời, trong vài ba bộ phận đó, người lãnh đạo lại chọn năm, ba người cán bộ kiểu mẫu, nghiên cứu kỹ càng lịch sử của họ, kinh nghiệm, tư tưởng, tính nết của họ, sự học tập và công tác của họ.
Người lãnh đạo phải tự mình chỉ đạo những người phụ trách trong bộ phận đó, giúp họ giải quyết những vấn đề thực tế, để rút kinh nghiệm.
Những người phụ trách trong một cơ quan hoặc một bộ đội, cũng chọn vài ba bộ phận, rồi cũng làm theo cách đó.
Đó là một cách vừa lãnh đạo vừa học tập.
Bất kỳ người lãnh đạo nào, nếu không học tập nổi những việc thiết thực, những người thiết thực và những bộ phận thiết thực của cấp dưới, để rút kinh nghiệm, thì nhất định không biết chỉ đạo chung cho tất cả các bộ phận.
Mỗi cán bộ phụ trách cần phải làm theo cách này cho kỳ được.
Thế nào là liên hợp lãnh đạo với quần chúng?
Bất kỳ việc gì (thí dụ việc chỉnh đốn Đảng), người lãnh đạo phải có một số người hăng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo. Nhóm trung kiên này phải mật thiết liên hợp với quần chúng, công việc mới thành.
Nếu chỉ có sự hăng hái của nhóm trung kiên, mà không liên hợp với sự hăng hái của quần chúng, nhóm trung kiên sẽ phải chạy suốt ngày mà không kết quả mấy.
Nếu chỉ có sự hăng hái của quần chúng mà không có sự hăng hái của nhóm trung kiên để tổ chức và dìu dắt, thì sự hăng hái của quần chúng sẽ không bền và không thể tiến tới.
Bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: Hạng hăng hái, hạng vừa vừa, và hạng kém. Mà trong ba hạng đó, hạng vừa vừa, hạng ở giữa, nhiều hơn hết, hạng hăng hái và hạng kém đều ít hơn.
Vì vậy, người lãnh đạo phải dùng hạng hăng hái làm trung kiên cho sự lãnh đạo, do trung kiên đó mà nâng cao hạng vừa vừa và kéo hạng kém tiến lên.
Nhóm trung kiên đó phải do công tác và tranh đấu trong đám quần chúng mà nảy nở ra, chứ không phải tự ngoài quần chúng, xa cách quần chúng mà có được.
Mỗi cuộc tranh đấu thường có ba giai đoạn, ba bước: Bước đầu, bước giữa và bước cuối cùng. Nhóm trung kiên lãnh đạo trong mỗi cuộc tranh đấu, không có thể mà cũng không nên luôn luôn y nguyên như cũ. Trong mỗi giai đoạn, cần phải luôn luôn cất nhắc những người hăng hái trong giai đoạn đó, để thay thế cho những người cũ bị đào thải hoặc vì tài không xứng chức, hoặc hủ hoá.
Những nơi công việc không chạy đều vì không có nhóm lãnh đạo mật thiết liên hợp với quần chúng. Thí dụ: Trong một trường học, nếu không có một nhóm thầy giáo, chức viên và học sinh hăng hái nhất trong trường, từ mười người đến vài mươi người, đoàn kết thành nhóm trung kiên lãnh đạo, thì công việc của trường đó nhất định uể oải.
Vì vậy, bất kỳ cơ quan nào, bộ đội nào, cũng cần phải chọn một nhóm người hăng hái, trung thành, có năng lực, giữ kỷ luật, đoàn kết họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo.
*****
Sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng.
Nghĩa là gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống. Rồi đem nó tuyên truyền, giải thích cho quần chúng, và làm cho nó thành ý kiến của quần chúng, và làm cho quần chúng giữ vững và thực hành ý kiến đó. Đồng thời nhân lúc quần chúng thực hành, ta xem xét lại, coi ý kiến đó đúng hay không. Rồi lại tập trung ý kiến của quần chúng, phát triển những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm, tuyên truyền, giải thích, làm cho quần chúng giữ vững và thực hành.
Cứ như thế mãi thì lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn lần trước. Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt.
Vì không biết đoàn kết những phần tử hăng hái, tổ chức họ thành nhóm trung kiên lãnh đạo, hoặc vì không biết làm cho trung kiên đó mật thiết liên hợp với quần chúng, cho nên sự lãnh đạo xa rời quần chúng mà sinh ra bệnh quan liêu.
Vì không biết gom góp ý kiến của quần chúng, kinh nghiệm của quần chúng, cho nên ý kiến của những người lãnh đạo thành ra lý luận suông, không hợp với thực tế.
Vì không biết liên hợp chính sách chung với sự thiết thực chỉ đạo riêng (như mục 2 đã nói), cho nên chính sách không có kết quả, mà sự lãnh đạo cũng hoá ra quan liêu.
Vì vậy, trong công việc chỉnh đốn Đảng, cũng như trong mọi công việc khác, quyết phải thực hành cách liên hợp sự lãnh đạo với quần chúng và liên hợp chính sách chung với chỉ đạo riêng.
Phải dùng cách “từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”. Gom góp ý kiến và kinh nghiệm trong sự chỉ đạo từng bộ phận, đem làm ý kiến chung. Rồi lại đem ý kiến chung đó để thí nghiệm trong các bộ phận. Rồi lại đem kinh nghiệm chung và mới, đúc thành chỉ thị mới. Cứ như thế mãi. Biết làm như vậy mới thật là biết lãnh đạo.
*****
Bất kỳ công tác gì, chiến tranh, sản xuất, giáo dục, kiểm soát, v.v., cơ quan lãnh đạo cấp trên cần phải kinh qua những người phụ trách chung của cơ quan lãnh đạo cấp dưới, mỗi khi có việc gì liên quan đến một ngành hoạt động nào đó thuộc cấp dưới. Có như thế, mới đạt được mục đích phân công mà thống nhất.
Không nên một bộ phận nào đó thuộc cấp trên chỉ tìm thẳng dọc xuống bộ phận cùng loại thuộc những cơ quan cấp dưới (như ban tổ chức cấp trên chỉ tìm ban tổ chức cấp dưới, ban tuyên truyền cấp trên chỉ tìm ban tuyên truyền cấp dưới, v.v.), để liên lạc chỉ đạo theo hệ thống dọc, thành thử người phụ trách chung thuộc cơ quan cấp dưới, như thư ký, chủ tịch, chủ nhiệm, v.v., không biết đến, hoặc không phụ trách.
Phải cho cả người phụ trách chung và những người phụ trách bộ phận cấp dưới đều biết, đều phụ trách.
Một việc gì do người phụ trách chung chỉ huy, thì nhiều cán bộ hoặc tất cả cán bộ đều ra làm. Như thế tránh được cái tệ cán bộ không phụ trách, mà mọi người đều thành ra cán bộ cho công tác đó.
Đó cũng là một cách: Người lãnh đạo liên hợp với quần chúng. Thí dụ: Việc kiểm soát cán bộ trong một trường học. Nếu người lãnh đạo động viên số đông hoặc tất cả nhân viên và học sinh trong trường tham gia công việc kiểm soát, mà nhân viên trong ban kiểm tra cấp trên biết chỉ đạo đúng, theo cách “lãnh đạo liên hợp với quần chúng”, thì việc kiểm soát nhất định kết quả tốt.
Bất kỳ địa phương nào, cơ quan nào, thường trong một lúc có nhiều công việc trọng yếu. Trong một thời gian đó, lại có một việc trọng yếu nhất và vài ba việc trọng yếu vừa. Người lãnh đạo trong địa phương hoặc cơ quan đó phải xét kỹ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn nắp.
Đối với mỗi địa phương, mỗi cơ quan, người lãnh đạo cấp trên cần phải xét cho rõ tình hình, hoàn cảnh, và điều kiện cả địa phương hoặc cơ quan đó, mà quyết định việc gì là việc chính của thời kỳ nào. Khi đã quyết định, thì phải thực hành triệt để, cho đạt kết quả đã định.
Đó cũng là cách “lãnh đạo liên hợp với quần chúng”, chính sách chung liên hợp với chỉ đạo riêng. Trên đây là những nguyên tắc lớn trong việc lãnh đạo.
Những cán bộ phụ trách phải theo nguyên tắc đó, đường lối đó mà làm. Đồng thời phải ra sức suy nghĩ, tìm tòi, để tăng thêm sáng kiến của mình.
Công việc càng gay go thì sự lãnh đạo càng phải liên hợp chặt chẽ với quần chúng, càng phải liên hợp chặt chẽ chính sách chung với chỉ đạo riêng, để phá tan cách lãnh đạo lờ mờ, quan liêu, chủ quan, bàn giấy.
3. Học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng
Dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng. Vì vậy, chúng ta phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng.
Vì vậy, mỗi một khẩu hiệu, mỗi một công tác, mỗi một chính sách của chúng ta, phải dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng.
Mà muốn hiểu biết, học hỏi dân chúng, thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm, phải khiêm tốn, phải chịu khó. Nếu không vậy, thì dân chúng sẽ không tin chúng ta. Biết, họ cũng không nói. Nói, họ cũng không nói hết lời.
Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên. Làm việc với dân chúng có hai cách:
1. Làm việc theo cách quan liêu. Cái gì cũng dùng mệnh lệnh. ép dân chúng làm. Đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo.
Có nhiều cán bộ theo cách đó. Họ còn tự đắc rằng: Làm như thế, họ vẫn “làm tròn nhiệm vụ”, làm được mau, lại không rầy rà.
Họ quên rằng: Đảng ta và Chính phủ ta làm việc là làm cho dân chúng. Việc gì, cũng vì lợi ích của dân mà làm. Làm theo cách quan liêu đó, thì dân oán. Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại.
2. Làm theo cách quần chúng. Việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc. Giải thích cho dân chúng hiểu rõ. Được dân chúng đồng ý. Do dân chúng vui lòng ra sức làm.
Như thế hơi phiền một chút, phiền cho những người biếng học hỏi và giải thích. Nhưng việc gì cũng nhất định thành công.
Có người nói rằng: mọi việc họ đều phụ trách trước Đảng, trước Chính phủ. Thế là đúng, nhưng chỉ đúng một nửa. Họ phụ trách trước Đảng và Chính phủ, đồng thời họ phải phụ trách trước nhân dân. Mà phụ trách trước nhân dân nhiều hơn phụ trách trước Đảng và Chính phủ, vì Đảng và Chính phủ vì dân mà làm các việc, và cũng phụ trách trước nhân dân. Vì vậy nếu cán bộ không phụ trách trước nhân dân, tức là không phụ trách trước Đảng và Chính phủ, tức là đưa nhân dân đối lập với Đảng và Chính phủ.
Nếu trong những chính sách, những chỉ thị, những khẩu hiệu của cấp trên, có gì khuyết điểm, cán bộ phải có tinh thần phụ trách trước nhân dân mà đề nghị những chỗ nên sửa đổi. Không làm như vậy, tức là cán bộ không phụ trách trước nhân dân, mà cũng không phụ trách trước Đảng và Chính phủ.
Việc gì cũng bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân. Thế là phụ trách trước nhân dân.
Trái lại việc gì cũng dùng cách quan liêu, cũng chỉ ra mệnh lệnh, thế là không phụ trách trước nhân dân. Thế là đem hai chữ “mệnh lệnh” làm thành một bức tường để tách rời Đảng và Chính phủ với nhân dân, tách rời lợi ích của nhân dân với chính sách của Đảng và Chính phủ.
Có nhiều cán bộ không bàn bạc, không giải thích với dân chúng, không để cho dân chúng phát biểu ý kiến, giải quyết các vấn đề, chỉ bắt buộc dân chúng làm theo mệnh lệnh. Thậm chí khi dân chúng đề ra ý kiến và nêu rõ vấn đề, họ cũng tìm cách dìm đi. Họ chỉ làm theo ý kiến của họ. Kết quả làm cho dân chúng nghi ngờ, uất ức, bất mãn.
Làm cách đó, thì dù việc đó có lợi cho dân chúng, nhưng một là vì không có ý kiến và lực lượng của dân chúng giúp đỡ nên làm
không đến nơi đến chốn. Hai là vì dân chúng bị miễn cưỡng, nên không vui lòng. Ba là vì dân chúng không hiểu rõ, nên việc đó không được lâu dài, bền vững.
Vì vậy, việc gì cũng phải hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc, và giải thích cho dân chúng.
Có người thường cho dân là dốt không biết gì, mình là thông thái tài giỏi. Vì vậy, họ không thèm học hỏi dân chúng, không thèm bàn bạc với dân chúng.
Đó là một sự sai lầm nguy hiểm lắm. Ai có sai lầm đó, phải mau mau sửa đổi. Nếu không sẽ luôn luôn thất bại.
Chúng ta phải biết rằng: Lực lượng của dân chúng nhiều vô cùng.
Kinh nghiệm trong nước và các nước tỏ cho chúng ta biết: Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra.
Kinh nghiệm các địa phương cho biết: Nơi nào công việc kém, là vì cán bộ cách xa dân chúng, không cùng dân chúng bàn bạc, không giải thích. Nơi kha khá, là vì cán bộ biết giải thích, biết cùng dân chúng bàn bạc, nhưng chưa hoàn toàn. Nơi nào khá lắm là vì việc gì to nhỏ, cán bộ cũng biết giải thích, biết cùng dân chúng bàn bạc đến nơi đến chốn, dựa vào dân chúng.
Muốn dân chúng thành thật bày tỏ ý kiến, cán bộ phải thành tâm, phải chịu khó, phải khéo khơi cho họ nói. Do ý kiến và đề nghị lẻ tẻ của dân chúng, ta phải khéo gom góp lại, sắp đặt lại cho có ngăn nắp, thứ tự rồi cùng dân chúng ra sức thi hành. Như vậy, vừa nâng cao trình độ của dân chúng, mà cũng nâng cao kinh nghiệm của mình.
Đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay so sánh.
Họ so sánh bây giờ và họ so sánh thời kỳ đã qua. Họ so sánh từng việc và họ so sánh toàn bộ phận. Do sự so sánh, họ thấy chỗ khác nhau, họ thấy mối mâu thuẫn. Rồi lại do đó, họ kết luận, họ đề ra cách giải quyết.
Dân chúng so sánh đúng, giải quyết đúng, là vì tai mắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy.
Vì sự so sánh kỹ càng đó, mà cách giải quyết của dân chúng bao giờ cũng gọn gàng, hợp lý, công bình.
Đối với cán bộ cũng vậy. Cán bộ nào tốt, cán bộ nào xấu, cán bộ nào có lầm lỗi mà có thể sửa đổi, ai làm việc gì hay, việc gì quấy, dân chúng cũng do cách so sánh đó, mà họ biết rõ ràng.
Vì vậy, để cho dân chúng phê bình cán bộ, dựa theo ý kiến họ mà cất nhắc cán bộ, nhất định không xảy ra việc thiên tư, thiên vị, nhất định hợp lý và công bằng. Đồng thời, do sự dùi mài của dân chúng, cán bộ và dân chúng đều tiến bộ, lại do đó, cán bộ và dân chúng đoàn kết chặt chẽ thêm.
Cố nhiên, dân chúng không nhất luật như nhau. Trong dân chúng, có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau. Có lớp tiền tiến, có lớp chừng chừng, có lớp lạc hậu.
Tuy vậy, khi đem vấn đề ra bàn trước dân chúng, họ đem các ý kiến khác nhau so sánh. So đi sánh lại, sẽ lòi ra một ý kiến mà mọi người đều tán thành, hoặc số đông người tán thành. Ý kiến đó, lại bị họ so sánh tỉ mỉ từng đoạn, họ thêm điểm hay vào, bỏ điểm dở đi. Ý kiến đó trở nên ý kiến đầy đủ, thiết thực.
Sau khi bàn bạc, so sánh, thêm thắt, thành một ý kiến đầy đủ, ý kiến đó tức là cái kích thước nó tỏ rõ sự phát triển trình độ của dân chúng trong nơi đó, trong lúc đó. Theo ý kiến đó mà làm, nhất định thành công. Làm không kịp ý kiến đó, là đầu cơ, nhút nhát. Làm quá ý kiến đó là mạo hiểm, hẹp hòi, “tả”.
Có nhiều cách hỏi ý kiến dân chúng. Nói chuyện với từng người. Nói chuyện với đông người. Khai hội, nói chuyện với tầng lớp này, nói chuyện với tầng lớp khác, với mọi tầng lớp.
Nếu ta chịu khó, chịu suy nghĩ, bất kỳ nói chuyện với ai cũng có ích cho tư tưởng của ta.
Cố nhiên, không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo. Người cán bộ cũng phải dùng cách so sánh của dân chúng mà tự mình so sánh. Nghĩa là đem các ý kiến khác nhau để so sánh kỹ, phân tích kỹ các nội dung của các tầng lớp xã hội có cái ý kiến đó. Tìm ra mối mâu thuẫn trong những ý kiến khác nhau đó. Xem rõ cái nào đúng, cái nào sai. Chọn lấy ý kiến đúng, đưa ra cho dân chúng bàn bạc, lựa chọn lại, để nâng cao dần dần sự giác ngộ của dân chúng. Thế gọi là: Tập trung ý kiến, ra sức thi hành.
So đi sánh lại, phân tích rõ ràng là cách làm việc có khoa học. Mỗi công việc, chúng ta đều phải làm như thế. Làm như thế mới tránh khỏi cái độc đoán, mới tránh khỏi sai lầm.
Nghĩa là: Nói chuyện và bàn bạc với cán bộ như thế cũng chưa đủ, còn phải nói chuyện và bàn bạc với những phần tử hăng hái trong quần chúng. Nói chuyện và bàn bạc với những phần tử hăng hái trong quần chúng cũng chưa đủ, còn phải nói chuyện và bàn bạc với nhân dân. Đó là một vấn đề rất trọng yếu cho cách làm việc của Đảng.
Từ trước đến nay, nhiều nơi công việc không chạy, chính vì cán bộ không thực hành theo nguyên tắc đó. Nếu không làm theo nguyên tắc đó, thì dù chính sách hay trăm phần trăm, cũng hoá ra vô dụng. Chúng ta phải kiên quyết bỏ sạch lối quan liêu, lối chật hẹp, lối mệnh lệnh. Chúng ta phải kiên quyết thực hành theo nguyên tắc sau đây:
1. Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng.
2. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết. Chúng ta có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa. Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta.
3. Chớ khư khư giữ theo “sáo cũ”. Luôn luôn phải theo tình hình thiết thực của dân chúng nơi đó và lúc đó, theo trình độ giác ngộ của dân chúng, theo sự tình nguyện của dân chúng mà tổ chức họ, tuỳ hoàn cảnh thiết thực trong nơi đó, và lúc đó, đưa ra tranh đấu.
4. Chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng. Nhưng phải khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hoá nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng. Phải đem cách nhân dân so sánh, xem xét, giải quyết các vấn đề, mà hoá nó thành cách chỉ đạo nhân dân.
5. “Phải đưa chính trị vào giữa dân gian”. Trước kia, việc gì cũng từ “trên dội xuống”. Từ nay việc gì cũng phải từ “dưới nhoi lên”. Làm như thế, chính sách, cán bộ và nhân dân sẽ nhất trí, mà Đảng ta sẽ phát triển rất mau chóng và vững vàng./. 13/12/2023 CÔNG KHAI Chủ tịch Hồ Chí Minh là một lãnh tụ vĩ đại của dân tộc và là danh nhân văn hóa của thế giới. Người là biểu tượng của tinh hoa dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm văn hiến; đúng như trong Diễn văn của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Lễ truy điệu Người “Dân tộc ta, non sông ta, đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ Tịch và chính người làm rạng ngời dân tộc ta, nhân dân ta, non sông ta, đất nước ta”.
Cuộc đời và sự nghiệp của Người đã trở thành di sản lớn lao của dân tộc ta. Vì thế, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nhất là đối với thế hệ cán bộ trẻ trong Quân đội hiện nay.
Trong tư tưởng và suy nghĩ của mỗi người chúng tôi, những thế hệ cán bộ trưởng thành sau chiến tranh, vẫn luôn luôn tâm niệm về Bác với tất cả niềm tin và sự kính trọng cùng lòng biết ơn vô bờ bến. Chúng tôi hiểu rằng học tập và làm theo tấm gương của Hồ Chí Minh thật khó, vì có những điều rất nhỏ, được Bác thực hiện rất bình thường, rất tự nhiên nhưng đối với mỗi chúng tôi lại luôn gặp rất nhiều khó khăn hoặc không thể làm theo được.
Bác của chúng ta là một người vĩ đại, được nhân dân ta và bạn bè quốc tế kính trọng, nhưng cuộc đời, sự nghiệp của người rất bình dị, luôn gần gũi với mọi người dân Việt Nam và nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới; nên chúng ta hãy học và làm theo Bác từ những điều bình dị nhất. Không học được nhiều, chúng ta học từng ít một. Không học được một lúc, chúng ta cứ học từ từ dù biết rằng học và làm theo Bác là không hề đơn giản. Có vô vàn điều cần học từ Bác, song điều quan trọng đầu tiên cần phải học là tinh thần tiết kiệm của Bác.
Bác là người rất coi trọng sự tiết kiệm, không chỉ tiết kiệm tiền bạc mà cần phải tiết kiệm cả thời gian và công sức. Trong thực hiện thời gian làm việc, Người luôn đánh giá cao về vấn đề chấp hành thời gian làm việc, phải đúng giờ. Với Bác đi trễ 5 phút không phải là chuyện nhỏ, mà là chuyện lớn, bởi 5 phút đó phải được nhân lên cho sự chờ đợi của nhiều người. Suy nghĩ ấy cho thấy Bác rất quý thời gian, không chỉ thời gian của bản thân mà cả thời gian người khác, của tập thể. Chúng ta không chỉ học Bác ở sự đúng giờ mà học Bác ở cả thái độ quý thời gian. Nhìn lại những tháng ngày đã qua của mỗi người, chúng ta mới thấy bản thân đã thực sự quý trọng thời gian chưa? Thời còn đi học, chúng ta được gia đình, đơn vị tạo mọi điều kiện để học tập, rèn luyện. Nhưng mỗi người đã xem mình tận dụng thời gian để học tập, rèn luyện phấn đấu như thế nào? Chắc chắn sẽ tự rút ra được những điều bổ ích về tiết kiệm và sử dụng thời gian tích lũy kiến thức, kinh nghiệm cho cuộc sống, trong sự nghiệp của mình; đơn cử như tận dụng thời gian rảnh để học thêm ngoại ngữ, để giờ đây khi đã trở thành một giảng viên của Học viện Lục quân, nhiều người mới thấy hối tiếc khi cần tham khảo tài liệu nước ngoài mà ta lại không giỏi về ngoại ngữ. Càng thấy hối tiếc hơn khi Quân đội, Học viện tạo điều kiện để các giảng viên đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài nhưng nhiều đồng chí không đủ điều kiện vì nhiều lý do, trong đó có lý do về trình độ tiếng Anh quá hạn chế. Trong công tác hàng ngày, vẫn còn nhiều cán bộ, giảng viên chấp hành thời gian làm việc thiếu nghiêm túc, vẫn diễn ra tình trạng “đi muộn về sớm”, hoặc “rẽ ngang, tụt dọc”, nên ít thời gian dành cho việc nghiên cứu để nâng cao năng lực, trình độ sư phạm, năng lực nghiên cứu khoa học hoặc giải quyết có hiệu quả mọi công việc theo phạm vi chức trách của mình. Do vậy, mỗi chúng ta cần nghiêm khắc với chính bản thân mình, có hành động, việc làm thiết thực, có kế hoạch hoạt động khoa học, chấp hành đúng qui định văn hóa nơi công sở; đó chính là tự bản thân học tập, làm theo tấm gương đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không chỉ tiết kiệm về thời gian mà Bác còn tiết kiệm về tiền bạc, của cải. Mục đích trong thực hành tiết kiệm của Người là cho dân, cho nước. Thật vậy, Bác của chúng ta khi ra đi sang thế giới bên kia, Người đâu có để lại tài sản của riêng mình, Người chỉ lại niềm xót thương, niềm tự hào và kính trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; người chỉ để lại cho dân tộc “tư tưởng, đạo đức, phong cách” vĩ đại. Khi còn sống, Bác nhận lấy sự kham khổ vì Bác thuộc về dân, bởi dân của Bác còn nghèo, đất nước còn có chiến tranh, hòa bình chưa trọn vẹn nên Bác không bao giờ phung phí của cải, vật chất, thời gian, công sức và Bác mong mọi người dân đất Việt đều phải biết trân trọng và thực sự tiết kiệm, tránh lãng phí xa hoa làm ảnh hưởng đến nhân cách, đạo đức, phẩm chất của người cán bộ cách mạng; góp phần xây dựng nước nhà giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
Ngày nay, khi tình hình kinh tế xã hội đã có nhiều thay đổi nhưng không vì thế mà chúng ta quên tinh thần tiết kiệm đáng quý của Người. Bác tiết kiệm từ cái nhỏ đến cái lớn, từ hạt cơm rơi, chút thức ăn thừa đến từng câu chữ và đặc biệt là tiết kiệm máu xương chiến sĩ trên chiến trường. Trong sự tiết kiệm của mình, Người vẫn thể hiện sự sang trọng, đúng mực, tinh tế của mình. Học tập theo tinh thần tiết kiệm của Bác tưởng sẽ dễ nhưng sẽ thật khó khăn bởi sự tiết kiệm của Bác đều xuất phát từ lòng yêu nước, thương dân, vì lợi ích chung của mọi người, làm được điều cao cả ấy thật khó khăn. Nhưng theo tôi, chúng ta hãy học tinh thần tiết kiệm của người từ những điều nhỏ nhất có thể, như tắt đèn, quạt trước khi rời khỏi phòng làm việc, phòng ở; tiết kiệm giấy in, mực in đến mức có thể; cân đối chi tiêu trong nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, … đây là những việc làm rất đơn giản, những không dễ làm nếu như bản thân không có ý thức, hoặc thờ ơ, vô cảm.
Nhưng cái khó nhất chúng ta cần khắc phục khi học theo tinh thần tiết kiệm của Người là tiết kiệm cho ai? Thông thường chúng ta chỉ tiết kiệm cho bản thân còn của người khác hay tập thể thì “vô tư”. Người Việt Nam ta hay có tư tưởng “cha chung không ai khóc”, đây là tư tưởng lạc hậu, biểu hiện sự ích kỹ, vụ lợi cá nhân. Vì vậy, cần phải sớm loại bỏ điều này. Do đó, học theo Bác tức là ta cần phải bảo quản tài sản chung của tập thể, như bảo quản thật tốt dụng cụ sinh hoạt, doanh cụ doanh trại; phương tiện dạy học.… như thế sẽ góp phần tiết kiệm cho Học viện, Quân đội và bớt đi phần nào chi phí của Nhà nước, gánh đỡ phần đóng góp của nhân dân.
Trong giai đoạn hiện nay khi mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang đẩy mạnh việc tổ chức quán triệt và thực hiện Chỉ thị 05 -CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, thì mỗi cán bộ, giảng viên, quân nhân chuyên nghiệp, viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan, chiến sĩ toàn Học viện tùy theo cương vị chức trách, nhiệm vụ của mình cần phải có nhận thức đúng về thực hành tiết kiệm, “nói và làm” phải đi đôi với nhau, “nói ít làm nhiều”, phải thực sự tiết kiệm về mọi mặt, nhất là đối với giảng viên, cán bộ nghiên cứu cần phải có kế hoạch hoạt động khoa học, tiết kiệm về thời gian, dành nhiều thời gian để học tập nghiên cứu khoa học, chuẩn bị tốt cho giảng dạy; tiết kiệm trong quản lý, sử dụng, khai thác phương tiện dạy học,....góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo và nghiên cứu khoa học của Học viện ngày càng phát triển, đáp ứng với nhiệm vụ xây dựng Học viện trở thành một trung tâm giáo dục - đào tạo uy tín, chất lượng trong hệ thống nhà trường Quân đội, xứng danh với truyền thống Học viện Lục quân Anh hùng./. 13/12/2023 CÔNG KHAI Chúng ta không sợ sai lầm, chỉ sợ phạm sai lầm mà không quyết tâm sửa chữa. Muốn sửa chữa cho tốt thì phải sẵn sàng nghe quần chúng phê bình và thật thà tự phê bình. Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi. Đó là kết quả tất nhiên của chủ nghĩa cá nhân.
Tổng kết 30 năm lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và những kinh nghiệm trong tiến trình cách mạng; tháng 12 - 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm Ðạo đức cách mạng với bút danh Trần Lực. Tác phẩm được in lần đầu trên Tạp chí Học tập (nay là Tạp chí Cộng sản), sau đó được Nhà xuất bản Sự thật (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ngày nay) in thành sách và phát hành ngay trong tháng 12 - 1958.
Tuy cuốn sách chưa đầy 20 trang, nhưng nội dung rất phong phú, cách viết súc tích, văn phong giản dị, dễ hiểu, chứa đựng những tư tưởng lớn về đạo đức mới - đạo đức cách mạng.
Bàn về vai trò, vị trí của đạo đức cách mạng, Người khẳng định: Để giành lấy thắng lợi trong cuộc đấu tranh giai cấp giữa những người bị bóc lột và những kẻ bóc lột, giữa “bọn phong kiến địa chủ, bọn tư bản và đế quốc” và “những tầng lớp người khác, nhất là công nhân và nông dân”, cách mạng nhất định phải do giai cấp công nhân và đội tiền phong của nó là Đảng Cộng sản lãnh đạo. Từ đó, Người nhận thấy yêu cầu người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng. Người viết: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Đạo đức cách mạng giúp mỗi người khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, không lo kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hoá.
Trong tác phẩm, nội dung của đạo đức cách mạng được Người tiếp tục làm rõ, đó là “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng”; “luôn đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình... Ra sức học tập Chủ nghĩa Mác - Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”. “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu”. Người cho rằng, mỗi người cách mạng phải hiểu sâu sắc: Đảng ta là một đội ngũ tiên tiến nhất và tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân, đồng thời là người lãnh đạo cách mạng. Cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ sứ mệnh lịch sử vừa cải tạo thế giới và nhiệm vụ tự cải tạo bản thân mình.
Người đã phát hiện những trở lực đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đồng thời đánh giá về tính chất, tác hại của từng trở lực. Người viết: “Kẻ địch gồm có ba loại: Chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc là kẻ địch rất nguy hiểm. Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to; nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ. Chúng ta lại không thể trấn áp nó, mà phải cải tạo nó một cách rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài. Loại địch thứ ba là chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản còn ẩn nấp trong mình mỗi người chúng ta. Nó chờ dịp - hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi - để ngóc đầu dậy. Nó là bạn đồng minh của hai kẻ địch kia”.
Chủ nghĩa cá nhân được Người khái quát một cách toàn diện, cụ thể trong tác phẩm. Người nhấn mạnh: Trong thời đại văn minh, mọi việc càng phải dựa vào lực lượng của tập thể, của xã hội. “Do đó, chủ nghĩa cá nhân là trái ngược với chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa xã hội nhất định thắng, chủ nghĩa cá nhân nhất định phải tiêu diệt”. Người giải thích rất rõ, rất cụ thể, dễ hiểu về khái niệm chủ nghĩa cá nhân: Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy. Chủ nghĩa cá nhân là “vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ”; “là một thứ rất gian xảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc”. Người cảnh báo: “Chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, nếu nó còn lại trong mình, dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng”.
Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên: Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Người xem nó là một thứ vi trùng mẹ, đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí, ... trói buộc, bịt mắt những nạn nhân của nó, khuyến khích lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân, không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân. Khẳng định “chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội”, Người kết luận: “thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân” và cách thức để gọt rửa sạch những vết tích xấu xa của xã hội cũ, chống lại chủ nghĩa cá nhân là phải rèn luyện đạo đức cách mạng, phải thường xuyên, liên tục, ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi.
Mặc dù, đã hơn 60 năm nhưng tác phẩm “Đạo đức cách mạng”, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thì tác phẩm “Ðạo đức cách mạng” tiếp tục là lý luận soi đường, chỉ đạo thực tiễn công tác xây dựng Đảng về đạo đức cách mạng, xây dựng Đảng ta xứng đáng là đạo đức, là văn minh, là đội tiền phong của giai cấp và dân tộc./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011, Tập 11. 13/12/2023 CÔNG KHAI “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng, không thể có con đường nào khác”. Đó là câu nói đã đi vào lịch sử cách mạng Việt Nam của người thanh niên - anh hùng Lý Tự Trọng.
Mùa xuân năm 1931, từ ngày 20 đến ngày 26/3, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2, Trung ương Đảng đã giành một phần quan trọng trong chương trình làm việc để bàn về công tác thanh niên và đi đến những quyết định có ý nghĩa đặc biệt, theo đó được Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng và Bác Hồ cho phép, theo đề nghị của Trung ương Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam, Đại hội toàn quốc lần thứ 3 đã quyết định lấy ngày 26/3/1931 là Ngày thành lập Đoàn hằng năm. Ngày 26/3 trở thành ngày vẻ vang của tuổi trẻ Việt Nam, của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh quang vinh.
Là cánh tay đắc lực và đội dự bị đáng tin cậy của Đảng, ngay từ khi mới ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đoàn đã phát huy được vai trò xung kích, với những gương đoàn viên hy sinh, chiến đấu để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ.
Những người thanh niên đã cống hiến cả tuổi xuân mình cho mùa xuân đất nước, có những người còn chưa đến tuổi 20 đã phải nằm xuống, hy sinh anh dũng cho nền độc lập nước nhà. Một trong những người Anh hùng trẻ tuổi mà bất khuất ấy chính là Lý Tự Trọng.
Lý Tự Trọng tên thật là Lê Hữu Trọng sinh ngày 20/10/1914 trong một gia đình yêu nước. Do không chịu nổi cảnh áp bức, bóc lột của thực dân phong kiến, gia đình anh đã rời quê hương sang Thái Lan sinh sống và tham gia hoạt động yêu nước. Tại đây, gia đình Anh là một trong những cơ sở cách mạng, nơi bồi dưỡng cán bộ là trường quốc ngữ của Hội Việt kiều. Trọng học rất giỏi, say mê văn thơ yêu nước của cụ Phan Bội Châu, Anh nói tốt tiếng Trung, tiếng Anh và tiếng Thái Lan. Đầu mùa hè năm 1926, thực hiện ý kiến của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Hồ Tùng Mậu - thành viên của Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội đến Thái Lan gặp cụ Đặng Thúc Hứa, truyền đạt yêu cầu của đồng chí Nguyễn Ái Quốc về việc chọn một số con em gia đình Việt kiều yêu nước đưa sang Quảng Châu đào tạo để chuẩn bị xây dựng tổ chức Thanh niên Cộng sản ở Việt Nam, Lê Hữu Trọng là một trong số các thiếu niên được lựa chọn.
Đến Quảng Châu, nhóm thiếu niên này được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (lúc này mang tên Lý Thụy). Để đảm bảo bí mật, các thiếu niên đều mang họ Lý coi như người trong một gia tộc; do đó, Lê Hữu Trọng đổi tên Lý Tự Trọng.
Năm 1929, các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam lần lượt ra đời, Lý Tự Trọng được cử về nước hoạt động tại Sài Gòn - Chợ Lớn đảm nhận nhiệm vụ liên lạc trong và ngoài nước cho Xứ ủy Nam Kỳ và Trung ương Đảng; đồng thời, được giao nhiệm vụ đặc biệt: Vận động tập hợp thanh niên trong các nhà máy, trường học để thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản trong nước.
Nhân dịp kỷ niệm một năm cuộc khởi nghĩa Yên Bái, Xứ ủy Nam Kỳ quyết định tổ chức một đợt tuyên truyền tố cáo tội ác của thực dân Pháp và kêu gọi quần chúng đấu tranh. Ngày 08/02/1931, lợi dụng lúc bà con đi xem bóng đá ở sân vận động Sài Gòn tập trung đông, các chiến sỹ cách mạng tổ chức một cuộc mít tinh chớp nhoáng, cờ đỏ búa liềm giương cao, một đồng chí đứng lên diễn thuyết kêu gọi quần chúng đánh đổ thực dân Pháp. Giữa lúc ấy tên thanh tra mật thám Pháp Le Grand và bọn cảnh sát đi cùng ập tới. Không còn cách nào khác để cứu đồng chí mình, Lý Tự Trọng đã rút súng bắn chết tên thanh tra mật thám cứu thoát đồng chí diễn thuyết. Bị địch vây hãm ráo riết, Lý Tự Trọng đã bị bắt.
Một tên phản bội khai ra tên anh là “Trọng con” và làm công tác liên lạc quan trọng. Bọn chúng mừng quýnh tưởng phen này nắm chắc đến nơi tất cả những đầu mối bí mật của phong trào cách mạng. Chúng đánh Anh hết roi song lại roi cá đuối, chúng trói hai tay trút lên xà nhà, cho Anh đi “tàu bay”… nhưng với Anh tất cả đều vô hiệu.
Ít ai hình dung được, ý chí của anh đã phải kiên cường đến thế nào, bất khuất ra sao mới chịu đựng hết những trò tra tấn dã man vô nhân đạo ấy mà Anh vẫn không hé nửa lời.
Giam cầm, tra tấn ở khám lớn Sài Gòn một thời gian không thu được kết quả, bọn chúng đưa anh về xử án, chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương đã mở một phiên tòa đại hình để xử một chiến sĩ Cộng sản Việt Nam chưa đầy 18 tuổi, Lý Tự Trọng đã bị kết án tử hình. Đứng trước cái chết, Lý Tự Trọng không hề run sợ, anh chủ động biến phiên tòa của đế quốc thành một diễn đàn của người chiến sĩ Cộng sản. Khi luật sư bào chữa xin bọn thực dân “mở lượng khoan hồng” vì Lý Tự Trọng chưa đến tuổi trưởng thành và “hành động thiếu suy nghĩ”, anh đã gạt phắt đi và dõng dạc nói: “Tôi hành động có suy nghĩ, tôi hiểu việc tôi làm, tôi làm vì mục đích cách mạng. Tôi chưa đến tuổi thành niên thật, nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng và không thể là con đường nào khác”.
Ý chí và hành động của anh là minh chứng hùng hồn về bản lĩnh kiên cường, lòng trung thành, tinh thần bất khuất của người Cộng sản; đồng thời, là bức thông điệp báo trước sự sụp đổ của thực dân phong kiến và sự tất thắng của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Thực dân Pháp không dám xử công khai Lý Tự Trọng, lợi dụng lúc nửa đêm về sáng ngày 21/11/1931 chúng đã hèn hạ dựng máy chém ở ngay khám lớn Sài Gòn hòng giết Anh trong im lặng, nhưng tấm gương đấu tranh kiên cường, anh dũng và những tiếng hô của Anh: “ Đả đảo thực dân Pháp”, “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm”, “Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm” đã cổ vũ mạnh mẽ, tạo một làn sóng phản đối tội ác của thực dân Pháp, tinh thần cách mạng bất khuất của Anh đã làm cho kẻ thù khiếp sợ và đã động viên, cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng trong cả nước lúc bấy giờ và là tấm gương cho các thế hệ thanh niên sau này noi theo.
Người thanh niên ấy đã ra đi khi chưa tròn 18 tuổi, lứa tuổi còn ôm bao hoài bão và ước mơ, nhưng dẫu sao, ước mơ của Anh giờ đã thành sự thật, sự hi sinh của Anh và biết bao Anh hùng niên thiếu khác đã góp phần giành lại độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam ngày hôm nay.
Câu nói của Anh đã thực sự truyền lửa cho thế hệ thanh niên mai sau, cuộc đời oanh liệt của Anh là lời nhắc nhở cho chúng ta nhớ rằng độc lập, tự do hôm nay đã phải đánh đổi biết bao xương máu của thế hệ cha ông. Thanh niên hôm nay sẽ tiếp tục ý chí của Anh, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và những người Anh hùng đi trước, để đất nước Việt Nam ngày một phát triển, vững mạnh, sánh vai với các cường quốc năm Châu./. 12/12/2023 CÔNG KHAI Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những chứng bệnh mà con người dễ mắc phải, trong đó có những cán bộ, đảng viên. Những chứng bệnh đó vừa làm cho người bệnh không có một tâm hồn lành mạnh, trong sáng, vừa góp phần không nhỏ phá hoại sự nghiệp cách mạng. Do vậy, việc phát hiện, đấu tranh ngăn ngừa, và chữa những loại bệnh đó chẳng những cần thiết cho sự nghiệp cách mạng của chúng ta, mà còn rất thiết thực trong công cuộc chống những hiện tượng tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay.
Bài trước, tác giả đã cung cấp để hiểu thêm về một số loại bệnh mà mọi người dễ mắc phải, nhất là những cán bộ, đảng viên, được Hồ Chí Minh chỉ ra từ năm 1947 trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”.
Trong mục: “Những khuyết điểm sai lầm”, vừa khái quát, vừa có tính khơi gợi để chỉ ra các loại bệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh liệt kê một số loại bệnh, bao gồm tám loại cơ bản đó là: bệnh tham lam; bệnh lười biếng; bệnh kiêu ngạo; bệnh hiếu danh; bệnh thiếu kỷ luật; bệnh hẹp hòi; bệnh óc địa phương; bệnh óc lãnh tụ.
Ngoài những bệnh kể trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra những loại bệnh khác. Chúng có liên quan rất phức tạp với các bệnh trên, đồng thời cũng để giúp cho sự hình dung đầy đủ hơn. Người viết:
Thứ nhất, bệnh “hữu danh vô thực”. Làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới làm lên. Làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ thì rỗng tuếch.
Thứ hai, bệnh kéo bè kéo cánh. Đây cũng là một loại bệnh rất nguy hiểm nữa. Từ bè phái mà đi đến chia rẽ. Ai hợp với mình thì dù xấu cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Bệnh này rất tai hại cho Đảng. Bởi vì, nó làm Đảng mất nhân tài và không thực hiện được đầy đủ chính sách của mình; làm mất sự thân ái đoàn kết giữa đồng chí; gây ra những mối nghi ngờ lẫn nhau.
Thứ ba, bệnh “cận thị”. Là bệnh không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỷ mỉ, vụn vặt… Những người như vậy, chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy sự lợi hại to lớn…
Thứ tư, bệnh “cá nhân”. Loại bệnh này, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra mười triệu chứng. Sau đó, Người khẳng định và kết luận: “Những bệnh tật đó khiến cho Đảng xệch xoạc, ý kiến lung tung, kỷ luật lỏng lẻo, công việc bê trễ. Chính sách không thi hành được triệt để. Đảng xa rời quần chúng. Mắc phải bệnh đó thì dễ đi đến chỗ để lợi ích cá nhân lên trên, lợi ích Đảng và dân tộc xuống dưới. Những người cách mạng bao giờ cũng phải trung thành, hăng hái, xem lợi ích của Đảng và dân tộc quý hơn tính mệnh của chính mình. Bao giờ cũng quang minh chính trực, ham sinh hoạt tập thể, luôn luôn săn sóc quần chúng, giữ gìn kỷ luật, kiên quyết chống bệnh “cá nhân”.
Thứ năm, bệnh lười biếng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Kết quả nhỏ là nghị quyết đầy túi áo, thông báo đầy túi quần. Kết quả nặng là phá hoại tổ chức Đảng, bỏ mất thời cơ tốt, lúc nên làm thì không làm, khi làm thì trễ rồi. Đó là vì lười biếng, chậm chạp. Vì không hiểu rằng: Đảng cũng như thân thể con người. Mệnh lệnh và nghị quyết cũng như mạch máu. Mạch máu chạy đến khắp thân thể thì người mạnh khỏe. Mạch máu dừng lại ở đâu, không chạy thì chỗ đó sẽ tê liệt, sinh bệnh.
Thứ sáu, bệnh tị nạnh. Cái gì cũng muốn “bình đẳng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra triệu chứng của nó là: Bệnh này sinh ra vì hiểu lầm hai chữ bình đẳng. Không hiểu rằng: người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ. Người làm việc nặng phải ăn nhiều, người làm việc dễ thì ăn ít. Về chứng bệnh này, hiện nay chúng ta phải nên coi xem người ta có làm và thực sự làm nặng hay không!
Thứ bảy, bệnh xu nịnh, a dua. Có người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi. Theo gió bẻ buồm không có khí khái.
Để chỉ ra một trong những nguyên nhân của việc phát sinh những chứng bệnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: Nói về Đảng, một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì dân mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính. Nói hẹp lại, đối với một con người, nếu không tự soi, tự sửa, giương giương tự đắc thì không hỏng trước cũng hỏng sau.
Tất cả những triệu chứng trên, thâu tóm lại thì đó quả là những thứ bệnh hoạn và người nào mắc phải một trong những thứ bệnh đó thì phải gọi là người bệnh. Có người bệnh nhẹ, có người bệnh nặng. Nếu người nào mắc phải nhiều, thậm chí tất cả các bệnh đó và mắc lâu dài thì có thể gọi là đa chứng nan y mãn tính, có nguy cơ hết thuốc cứu chữa!
Từ đó, có bệnh thì phải chữa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Khuyết điểm cũng như chứng bệnh. Phê bình cũng như uống thuốc. Sợ phê bình cũng như có bệnh mà giấu bệnh. Không dám uống thuốc. Để đến nỗi bệnh nặng, không chết cũng lê lết quả dưa. (bài sau tác giả xin cung cấp tiếp những “bài thuốc” cơ bản để phòng, chữa các loại “bệnh”)./. 12/12/2023 CÔNG KHAI Phát huy truyền thống cách mạng của các thế hệ đi trước, trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế ngày nay, các lớp thế hệ thanh niên tiếp tục là lực lượng xung kích trên tất cả các mặt trận quân sự, kinh tế, chính trị, ngoại giao… của đất nước. Những cống hiến và đóng góp của thanh niên trong sự nghiệp đổi mới đất nước là minh chứng khẳng định thanh niên luôn là rường cột, đội hậu bị xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Đó cũng chính là thực hiện tốt lời răn dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục thế hệ trẻ theo tư tưởng của Người.
Còn nhớ trước lúc đi xa, trong Di chúc của Bác, với những tình cảm vô vàn thương yêu và trách nhiệm cao cả, Người không quên căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là việc làm hết sức quan trọng và rất cần thiết”. Đây là một trong những nội dung quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thanh niên.
Người khẳng định, thế hệ trẻ là lực lượng đóng vai trò quyết định sự thành bại của cách mạng. Thế hệ trẻ nếu không vươn lên tỏ rõ là lực lượng xung kích, lực lượng đi đầu thì sự nghiệp của cách mạng và “số phận” của dân tộc khó tránh khỏi tổn thất. Năm 1925, trong bài Gửi thanh niên An Nam, người kêu gọi: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thế hệ trẻ già cỗi của Người không sớm hồi sinh”. Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền cũng như trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, Bác khẳng định: “Thanh niên là bộ phận quan trọng của dân tộc”. Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, Người chỉ rõ: “Thanh niên là chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên”.
Bác cho rằng, thế hệ trẻ luôn biểu hiện tinh thần tự tôn dân tộc, lực lượng có thể kế thừa và tiếp bước xứng đáng truyền thống vẻ vang của cha anh đi trước. Vào những ngày đầu của cuộc kháng chiến ác liệt chống thực dân Pháp, trong Thư gửi cho các chiến sĩ cảm tử quân Thủ đô, Bác đã tỏ rõ niềm tin vào thế hệ trẻ, kế thừa xứng đáng truyền thống cha anh: “Các em cảm tử cho tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn, tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau”. Trên cơ sở khẳng định vị trí, vai trò của thế hệ trẻ đối với cách mạng và đối với tương lai của dân tộc, thể hiện niềm tin trọn vẹn vào thế hệ trẻ, Bác đã đặt ra yêu cầu cho Đảng phải có kế hoạch chăm lo đào tạo, bồi dưỡng toàn diện cho thế hệ trẻ để họ trở thành những người thừa kế xây dựng CNXH vừa “hồng” vừa “chuyên” và thực hành tốt phương châm: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, bởi vì: “Chủ nghĩa cá nhân trái với đạo đức cách mạng, nếu nó còn trong mình, dù ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng, một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng. Chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ dành người ta xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc, vì thế mà càng nguy hiểm”.
Từ những kinh nghiệm đúc rút ra, Bác nêu ba phương thức giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ:
Một là: Học đi đôi với hành, lý luận kết hợp với thực tiễn, vì học để hành, học mà không hành thì học vô ích, hành mà không học thì hành không trôi chảy.
Hai là: Kết hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội để từ đó, huy động được nguồn lực to lớn cho thanh niên phát triển về chất lượng, số lượng, được quan tâm chăm lo về tinh thần cũng như về cơ sở vật chất.
Ba là: Đề cao và phát huy tinh thần tự giáo dục, tự rèn luyện của thế hệ trẻ. Theo Người, kết hợp việc giáo dục của nhà trường, của xã hội và của gia đình là hết sức quan trọng, song việc tự rèn luyện, tự giáo dục của thế hệ trẻ đóng vai trò quyết định: “Thế hệ trẻ bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy phải tự giác, tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình”.
Công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh thiếu niên có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng, củng cố tình cảm, niềm tin, bản lĩnh chính trị, qua đó xây dựng thế hệ trẻ có hoài bão, lý tưởng, khát vọng và trách nhiệm để xứng đáng làm chủ nước nhà theo lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Đảng viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Năm tháng đã đi qua và Người đã đi xa, nhưng những lời di huấn hết sức quý báu trên đây của Người đã soi đường chỉ lối cho mỗi chúng ta. Chỉ có trên cơ sở thấm nhuần và thực hành tốt những lời dạy của Người thì công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ mới đạt kết quả như mong muốn và thế hệ trẻ sẽ phát huy được vai trò to lớn của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, của Nhân dân và của chính Người./. 12/12/2023 CÔNG KHAI Cách Mạng Tháng Tám thành công, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời chưa được bao lâu thì thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ hai. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã đứng lên quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm để bảo vệ thành quả cách mạng.
Pháp dâng Đông Dương cho Nhật; Nhật thua, Pháp theo gót chân Anh trở lại Sài Gòn, thì một lần nữa, Pháp định lấy Nam Kỳ để chiếm cả nước như thế kỷ XIX. Cho nên Pháp gây hấn ở Sài Gòn ngày 23/9/1945 và ở Hà Nội ngày 19/12/1946. Hiệp định sơ bộ tháng 3, tạm ước tháng 9, mọi cố gắng thương lượng hòa bình của Hồ Chí Minh thực dân Pháp đều không để ý đến vì “chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa”, quyết chinh phục lại bằng vũ lực, muốn giữ nguyên đế quốc thuộc địa mênh mông của nó. Lúc bấy giờ, Pháp khôi phục lực lượng ở châu Âu và được Anh ủng hộ hết mình trong vấn đề Đông Dương và thuộc địa; quyết tâm của hai đế quốc này là phải dập tắc ngọn lửa Việt Nam cách mạng mới khỏi mất thuộc địa khác. Còn tình thế ở Việt Nam không thuận lợi về mặt quốc tế: phe xã hội chủ nghĩa ở xa. Trung Quốc còn bị Quốc dân đảng thống trị phần lớn nhất, ở các thuộc địa Pháp chưa có phong trào khởi nghĩa, xung quanh Việt Nam toàn thấy kẻ thù, Việt Nam như hòn đảo bốn bề bị bão táp. Vậy thì trước sự tiến công của quân Pháp, ta phải làm sao? đánh hay không? đánh có thể thắng không? Hồ Chí Minh quyết định đánh và tính toán đánh thì nhất định sẽ thắng. Sẽ thắng vì bên trong ta càng đánh càng mạnh, ta có sức đánh lâu dài cho đến lúc quân thù kiệt quệ, các dân thuộc địa của Pháp sẽ nổi lên nếu Việt Nam giành nhiều thắng lợi, cách mạng Trung Quốc phát triển gắn liền biên giới với ta, giúp đỡ được Việt Nam cả về vật chất lẫn chính trị, thế cô lập của Việt Nam sẽ chấm dứt. Ngày 19/12/1946, tại làng Vạn Phúc thuộc thị xã Hà Đông (Hà Tây), Hồ Chí Minh đã viết lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp: Trong lời kêu gọi có đoạn: "Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, Thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa. Không! chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!..." .
Trên cơ sở đường lối kháng chiến “toàn dân”, “toàn diện”, “trường kỳ”, “dựa vào sức mình là chính”, phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng đứng đầu là Bác Hồ, toàn dân ta bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến 9 năm. Quân dân ta liên tiếp mở các chiến dịch, lần lượt đánh bại mọi âm mưu, kế hoạch của kẻ thù, như Chiến dịch Biên Giới năm 1950, Trần Hưng Đạo năm 1951, Quang Trung năm 1951, Lý Thường Kiệt năm 1951, Hòa Bình năm 1952, Thượng Lào 1953... Đặc biệt là thắng lợi trong Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, với đỉnh cao là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ngày 7.5.1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, đánh tan tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ ngày 20.7.1954, chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Việt Nam đưa đến sự giải tán một đế quốc thuộc địa lớn, không chỉ của Pháp mà thôi; từ sau cuộc sụp đổ của đế quốc La Mã hồi đầu công nguyên, chưa hề có một sự sụp đổ đế quốc thuộc địa thảm hại to lớn như vậy.
Pháp bại, Mỹ nhảy vào, nhân dân miền Nam lại đứng lên chống đế quốc xâm lược. Đảng, Bác Hồ quyết định kêu gọi toàn dân ủng hộ miền Nam đánh Mỹ. Khi đó, toàn thế giới tuy cảm tình với Việt Nam không thiếu nhưng hiếm nước nào, kể cả nước xã hội chủ nghĩa, tin rằng Việt Nam sẽ thắng. Ai cũng rõ nước Mỹ rất lớn, giàu nhất, mạnh nhất, có kỹ thuật chiến tranh hiện đại nhất; ai cũng nghĩ rằng Việt Nam sẽ thua, dù là thua một cách anh hùng. Song, với tầm nhìn xa trông rộng, với những phân tích rất khoa học tình hình thế giới, trong nước và cuộc kháng chiến chính nghĩa của ta, Bác Hồ khẳng định chúng ta sẽ đánh thắng Mỹ; trong Di chúc của mình, Bác viết: Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa nhưng nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định sẽ cút khỏi nước Việt Nam, Tổ quốc Việt Nam nhất định sẽ thống nhất, đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà, đó là một điều chắc chắn.
Và, sau 21 năm kháng chiến, với tinh thần “thần tốc, táo bạo, quyết thắng” cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; chấm dứt ách thống trị tàn bạo hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta; hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước; bảo vệ thành quả của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc ta, mở ra thời kỳ mới - thời kỳ độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội trên cả nước.
Từ mùa Xuân năm 1975 đến nay, thực hiện Di chúc của Bác, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn, làm nên những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, uy tín và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng cao, thế và lực của đất nước ta ngày càng lớn mạnh, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ,, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.
-----------
Tài liệu tham khảo: “Việt Nam 50 năm trong thế giới ngày nay”, NXB Hà Nội, 1995; "Đầu nguồn"- NXB Văn học, Hà Nội 1975; “Danh nhân Hồ Chí Minh”, tập 2, NXB Lao động - Hà Nội 2000; "Đồng chí Hồ Chí Minh" E.Cô- bê- lép, NXB Tiến Bộ, Mát-xcơ-va, 1985; "Hồ Chí Minh, tuyển tập", Nhà xuất bản Sự Thật- Hà Nội, 1960; "Hồ Chí Minh, tuyển tập" NXB Sự thật- Hà Nội, 1980; Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, tập 2, 1930-1945. Nxb Chính trị Quốc gia; Võ Nguyên Giáp - Những chặng đường lịch sử - NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; "Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam", NXB Văn hóa, 1997; "Danh nhân Hồ Chí Minh", Tập 1,2,3, NXB Lao Động- Hà Nội, 2000; "Hồ Chí Minh, toàn tập"; website http://www.dangcongsan.vn; Diễn văn kỷ niệm 90 năm Ngày Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; Đề cương tuyên truyền 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh-Ban Tuyên giáo Trung ương và nhiều tư liệu khác. 11/12/2023 CÔNG KHAI Muôn vàn tình thân yêu dành cho các cháu gái
Một điều Bác dạy bảo mà suốt đời tôi không bao giờ quên là: “Báo chí là đại biểu cho dư luận, phải giúp Chính phủ đạt được thành công trong các chính sách đối nội đối ngoại. Sau này những lúc tình hình cách mạng có chuyển biến mới, người làm báo phải suy nghĩ nhiều. Câu nói của Bác giúp tôi nhớ tới vị trí và tính chất của báo chí ta. Một lần, Bác hỏi chị Thanh Thủy và tôi: “Các cô đã có con chưa? Các cô đã biết bế con, nuôi con chưa? Làm báo Phụ nữ không phải chỉ nói chính trị suông, giải phóng phụ nữ chung chung mà còn phải hướng dẫn cho chị em cách nuôi con, dạy con chăm lo việc gia đình. “Chị em trong cơ quan hỏi Bác nhiều điều. Bác trả lời cả những câu hỏi nhỏ nhặt nhất: “Tại sao trong họa báo Liên Xô lại thấy ảnh nhiều chị em để tóc dài? Có phải là sau khi vận động phụ nữ cắt tóc ngắn rồi lại phải vận động phụ nữ để tóc dài hay sao?”. Bác trả lời đại ý: Sau Cách mạng Tháng Mười, Liên Xô có rất nhiều khó khăn trong công cuộc bảo vệ và xây dựng cuộc sống mới. Phụ nữ phải đem hết sức mình ra chiến đấu và sản xuất, cho nên chị em ăn mặc giản dị, tóc cũng cắt ngắn để đi lại cho gọn. Bây giờ, chiến tranh thứ hai kết thúc đã nhiều năm, nền kinh tế đã được khôi phục và phát triển, đời sống được nâng cao, phụ nữ đã có thể trang điểm cho thêm đẹp, ai cho rằng để tóc dài đẹp và không vướng víu gì trong sản xuất thì cứ để…
Năm 1952 có Đại hội liên hoan các anh hùng, chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất và Hội nghị bàn về chiến tranh du kích. Sau hai cuộc họp lớn đó, mọi người náo nức khen ngợi hai bản báo cáo của anh hùng Nguyễn Thị Chiên và của chị Phạm Thị Nhật, Bí thư chi bộ. Một hôm, Bác đến thăm cơ quan, chị em chúng tôi đều nói đến hai bản báo cáo ấy. Bác hỏi: “Các cô có biết vì sao mà báo cáo của các cô ấy hay không?”. Chị Đinh Thị Cẩn thưa: “Đó là do chị Chiên, chị Nhật đều lăn lộn, xông pha nhiều trong thực tiễn chiến đấu cho nên mới nói lên sự thật rất sinh động. Bác vừa cười vừa nói: “Đúng là như thế, nhưng không phải chỉ có thế. Các bản báo cáo ấy hay còn là do không có sự sửa chữa, thêm thắt của nhiều người khác…”. Tôi suy nghĩ rất nhiều. Câu nói ý nhị của Bác nhắc nhở tôi mỗi khi sử dụng hoặc biên tập lại bài của thông tin viên, bạn đọc trong đông đảo nhân dân, phải luôn luôn cố gắng ghi lại đúng đắn, trung thực những lời nói, những ý nghĩ mộc mạc, giản dị của những con người trong thực tiễn sản xuất và chiến đấu… không thể tùy tiện sửa đổi thêm bớt theo ý nghĩ chủ quan của mình./. 11/12/2023 CÔNG KHAI Chúng tôi nỗ lực hết mình đóng góp cho tổ quốc
"Cả cuộc đời Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân, cả cuộc đời, Bác chăm lo cho dân tộc Việt Nam...". Người đi xa trong niềm tin trở về vì đất nước chưa được thống nhất. Giờ đây, đất nước đã hòa bình, mong Người an nghỉ bình yên. Chúng con nguyện sẽ cố gắng hết sức mình đóng góp cho tổ quốc và cầm nền hòa bình, độc lập, tự làm mà Bác và các bậc cha anh đã hy sinh hôi hôi, xương máu để được nhận. Cho con gửi lời chúc mừng sinh nhật Bác, giản dị nhất như cuộc đời Bác. Muôn và kính yêu!