0 0 0 2 2 7 2 1 5 1
Đang online:
4
Hôm nay :
31
Hôm qua :
1,951
Tuần này :
8,041
Tuần trước :
9,324
Tháng này :
28,674
Tháng trước:
36,129
22/2/2024 CÔNG KHAI 8. Hồ Chí Minh hành trình từ làng Sen đến Ba Đình (1890-1969)
- Tác giả: TS. Văn Thị Thanh Mai
- Nxb Chính trị quốc gia
- Năm xuất bản: 2010
Cuộc đời và tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.
Với hành trình 79 mùa xuân từ làng Sen đến Ba Đình (19/5/1890 - 19/5/1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới. Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc, mãi là “tinh hoa và khí phách của dân tộc, lương tâm của thời đại” là ánh sáng soi đường để cách mạng Việt Nam vững bước đi lên.
Dựa vào các nguồn tư liệu cùng với kết quả nghiên cứu của những người đi trước, cuốn sách Hồ Chí Minh hành trình từ làng Sen đến Ba Đình (1890-1969) do TS. Văn Thị Thanh Mai biên soạn là một việc làm có ý nghĩa và phục vụ thiết thực cho việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. 19/1/2024 CÔNG KHAI Xin trân trọng cảm ơn và chúc mừng sự đóng góp, sẻ chia của tất cả thầy cô, phụ huynh học sinh và toàn thể các bạn đội viên, học sinh đã cùng lan toả để giúp tập thể trường ta đạt giải Nhất chung cuộc trong cuộc thi "Cùng HTV Hành động xanh" do ban tổ chức và giám khảo bình chọn. 18/1/2024 CÔNG KHAI Chỉ ba ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong bức thư gửi các em học sinh, nhân ngày khai trường đầu tiên dưới chế độ mới, ngày 5/9/1945, Bác Hồ đã nói về khát vọng xây dựng Đất nước hùng cường.
Bác đã viết: “Dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Có thể coi đây là bản Tuyên ngôn về Đất nước Hùng cường sau bản Tuyên ngôn Độc lập. Độc lập - Hùng cường là những giá trị cốt lõi của sự nghiệp cách mạng ở nước ta.
Chọn thời điểm ngay sau ngày Quốc khánh, đúng vào ngày khai trường đầu tiên, chọn đối tượng là các em học sinh – chủ nhân tương lai của Đất nước để truyền đi thông điệp và gửi gắm niềm tin về xây dựng Đất nước Hùng cường, thì có lẽ không có sự lựa chọn nào thích hợp hơn. Vì như Bác thường nói: “Vì lợi ích trăm năm phải trồng người” và xây dựng Đất nước Hùng cường là sự nghiệp của trăm năm.
Để xây dựng Đất nước Hùng cường thì xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trung tâm. Bác bảo “thực túc thì binh cường” và “tăng gia sản xuất là cái thiết thực nhất của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập”. Để tăng gia sản xuất, Bác bảo có bốn điều cần coi trọng.
Một là, “Công - Tư đều lợi” và Bác chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần để kết hợp công-tư, trong đó có kinh tế quốc doanh, hợp tác xã, tư bản nhà nước, tư bản tư nhân, cá thể, tiểu chủ… đều là những “lực lượng cần thiết” cho kiến thiết kinh tế nước nhà, nhưng phải phù hợp với sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia.
Hai là, “Chủ - Thợ đều lợi”. Đây chính là quan điểm xây dựng quan hệ lao động hài hòa mà chúng ta đang nỗ lực thực hiện.
Ba là, “Công - Nông giúp nhau” qua phát triển thương nghiệp làm sợi dây đoàn kết “Liên minh Công Nông”.
Bốn là, “Lưu thông Trong - Ngoài”, tức là mở cửa, là hội nhập quốc tế.
Những nội dung cơ bản của mô hình kinh tế tổng quát đó đã được Bác nói rất rõ trong tác phẩm “Thường thức chính trị” được xuất bản vào năm 1953. Mô hình này tương đồng với “Chính sách kinh tế mới” của Lenin (NEP) được áp dụng ở nước Nga Xô Viết (trong những năm 1921 - 1929). Rất cần lưu ý là Bác chủ trương thực hiện mô hình nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam khi mà ở nước Nga, chính sách này đã chính thức bị xoá bỏ, sau khi Lenin qua đời. Điều này càng cho thấy chính kiến riêng, tư duy rất thực tiễn và rất Việt Nam của Bác, khác biệt với những gì diễn ra phổ biến trong hệ thống XHCN thế giới vào thời gian này...
Nhìn xa hơn, thì chủ trương thực hiện chính sách “Tân kinh tế” của Lenin đã được Bác Hồ của chúng ta nêu ra từ rất sớm, từ năm 1925, trong điều lệ của Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội (Tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay).
Trong văn kiện lịch sử này, Bác viết: “Sau này chúng ta sẽ thành lập Chính phủ Nhân dân và áp dụng nguyên tắc Tân kinh tế”. Thành lập Chính phủ Nhân dân là thực thi nền Dân chủ, áp dụng nguyên tắc Tân kinh tế là chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần. Đó là hai trụ cột của chế độ mới.
Vì vậy, có thể nói rằng công cuộc Đổi mới kinh tế ở Việt Nam, khởi đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) chính là sự trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh đã xây dựng ngay từ thời điểm những năm đầu thế kỷ về nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa.
Mở cửa, hội nhập trên cơ sở bảo đảm chủ quyền dân tộc cũng là chủ trương xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng nền kinh tế hùng cường. Sau khi đánh đuổi thực dân Pháp giành lại nền độc lập cho dân tộc, từ năm 1945, Bác Hồ đã chủ trương trải thảm đỏ mời các nhà đầu tư Pháp vào Việt Nam. Bác bảo “chúng ta hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác. Chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp cũng như Mỹ, Nga hay Tàu đến đây giúp việc cho chúng ta trong công cuộc kiến thiết quốc gia. Nhưng điều kiện chính là họ phải thừa nhận nền độc lập của xứ này”.
Những quan điểm tương tự, cũng được Bác nêu rõ trong Lời kêu gọi gửi Liên Hợp Quốc giai đoạn 1945 - 1946. Trong văn kiện này, Bác viết: Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực, dành thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kĩ thuật nước ngoài trong tất cả các lĩnh vực công nghệ. Việt Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự buôn bán và quá cảnh quốc tế. Việt Nam sẽ tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên Hợp Quốc.
Đó cũng chính là những chủ trương dẫn dắt công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta suốt trong những năm qua. Chúng ta đã sớm gia nhập WTO, đã ban hành Luật Đầu tư nước ngoài, đã tham gia đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, chúng ta đã chủ động tham gia có trách nhiệm vào các tổ chức quốc tế. Việt Nam là mô hình thành công trong hội nhập. Vị thế uy tín quốc tế của chúng ta ngày càng cao.
Một trong những điểm đặc sắc khác trong tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng về vai trò kiến tạo của Nhà nước và vai trò chủ thể của doanh nghiệp trong phát triển kinh tế.
Sinh thời, Bác rất quan tâm tới đội ngũ doanh nhân. Từ chiến khu Việt Bắc trở về thủ đô Hà Nội, chuẩn bị cho ngày Quốc khánh, Bác ở nhà của một gia đình tư sản dân tộc - ông Trịnh Văn Bô và bà Hoàng Thị Minh Hồ. Và ngôi nhà số 48 Hàng Ngang đã đi vào lịch sử. Tại đây, Bác đã viết Bản Tuyên ngôn độc lập. Hai tuần sau ngày Quốc khánh, ngày 18/9/1945, trong tuần lễ vàng, giới chức xã hội đầu tiên được Bác tiếp tại Phủ Chủ tịch cũng lại là các nhà tư sản dân tộc - đại diện của giới Công thương gia Hà Nội.
Một tháng sau, ngày 13/10, nhân ngày giới doanh nhân thành lập Công thương Cứu quốc Đoàn và gia nhập Mặt trận Việt Minh, Bác Hồ đã gửi thư động viên, cổ vũ. Bức thư chưa đầy 200 chữ của Người đã trở thành văn kiện đầu tiên của Đảng và Nhà nước ta về vai trò, sứ mệnh của đội ngũ doanh nhân và trách nhiệm của Chính phủ nhân dân. Bác viết: “Trong khi các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nước nhà thì giới công - thương phải hoạt động để xây dựng nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng... Việc nước việc nhà bao giờ cũng đi liền với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng. Chính phủ nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp giới Công thương trong công cuộc kiến thiết này". Đây là quan điểm rất hiện đại về quản trị quốc gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo đó, Nhà nước đóng vai trò giúp đỡ và kiến tạo. Còn giới công thương mới là lực lượng chủ thể làm nên nền kinh tế, tài chính vững vàng và thịnh vượng của quốc gia.
Quan điểm về nhà nước kiến tạo cũng được Bác nhắc lại trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Trong một phát biểu sau này, Bác bảo: “không phải Chính phủ xuất tiền ra để làm (kinh doanh), Chính phủ chỉ giúp khuyến khích và cổ động”. Bác khẳng định Chính phủ đóng vai trò tạo môi trường, làm chính sách, làm thể chế còn sự nghiệp kinh tế là sự nghiệp cách mạng của toàn dân. Với những tư tưởng vượt thời gian như vậy, có thể khẳng định rằng, Bác Hồ của chúng ta không chỉ là nhà yêu nước, nhà cách mạng mà còn là nhà kinh tế học về kinh tế thị trường.
Về các mô hình phát triển kinh tế, tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vô cùng sắc sảo. Bản Di chúc của Bác là một văn kiện mẫu mực về tinh thần phát triển bền vững.
Bác bảo: “phải nâng cao năng suất”. Muốn vậy phải sáng kiến, sáng tạo. Người dặn phải làm cả 2 việc: “ở tầm sáng tạo lớn, có ảnh hưởng rộng là phát minh, sáng chế, ở tầm thấp, nhỏ hơn thì là sáng kiến cải tiến kỹ thuật". Trong quản lý sản xuất, Bác bảo: Phải “cải tiến kĩ thuật và giữ vững kỷ luật lao động”. Bác định nghĩa thật đơn giản dễ hiểu về năng suất: “Sản xuất phải nhanh, nhiều, tốt, rẻ”!
Bác cổ vũ người Việt Nam dùng hàng Việt Nam, nhưng cũng không quên căn dặn doanh nghiệp Việt Nam phải sản xuất ra hàng hóa đáp ứng yêu cầu của người dân, phải kinh doanh có văn hoá, có trách nhiệm xã hội, hàng hoá dịch vụ phải bảo đảm sức cạnh tranh.
Bác nhiều lần nhắc rằng: “Đồng bào ta nồng nàn yêu nước nên rất muốn dùng hàng của ta sản xuất. Nhưng trước hết, người sản xuất phải làm hàng tốt và rẻ. Người sản xuất phải thật thà sản xuất hàng tốt cho đồng bào dùng, không nên làm hàng trưng bày thì tốt mà hàng bán thì xấu, giá cả phải chăng không lừa dối người mua”.
Đó cũng chính là linh hồn và tư tưởng chỉ đạo đối với các cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, “Người Việt Nam tự hào dùng hàng Việt Nam”, “Hàng Việt Nam chinh phục người tiêu dùng Việt Nam” và phong trào "năng suất Việt Nam” … mà chúng ta đang phát động!
Bác khuyên các doanh nhân phải lập phường, lập hội, đoàn kết để sản xuất kinh doanh. Bác bảo: “Những người sản xuất phải tập hợp lại thì mới có thể sản xuất được nhiều, tốt, không phí tài năng và thời gian”. Bác kêu gọi các doanh nhân “mau mau gia nhập Công Thương Cứu quốc đoàn cùng đem vốn vào làm những công cuộc ích Quốc lợi Dân”. Liên kết doanh nhân Việt vì công cuộc “ích Quốc, lợi Dân” là những tôn chỉ, mục đích cao quý nhất của những người làm kinh doanh ngày nay đang theo đuổi.
Bác bảo: “Muốn đất nước giầu mạnh, nhân dân ấm no thì phải luôn sắp xếp để có thật nhiều người sản xuất trực tiếp”, tức là phải chăm lo phát triển doanh nghiệp để tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động.
Bác đã phê bình về bệnh hành chính quan liêu của không ít cán bộ công chức: "Thật ra, cái làm vướng chân họ nhất lại chính là “tư tưởng bảo thủ, rụt rè” của họ. Cho nên, muốn tiến nhanh, thì trước hết “phải phát quang những dây ràng buộc ấy". Đó chính là những quan điểm chỉ đạo công cuộc cải cách thể chế và thủ tục hành chính, vẫn đang còn nóng hổi cho đến ngày hôm nay.
Mới chỉ điểm lại mấy lời Bác dạy, chúng ta đã thấy tầm tư tưởng vượt thời gian của Bác về khát vọng Đất nước Hùng cường, về kinh tế thị trường, và vai trò và sứ mệnh của doanh nghiệp, doanh nhân, về yêu cầu cải cách thể chế và phát triển. Đó là ngọn đuốc soi đường, là niềm tin mãnh liệt, là điểm tựa vững chắc của Đảng ta, của Nhân dân ta trên chặng đường đi tới vì một Việt Nam Nước mạnh Dân giàu.
Tôi muốn nhấn mạnh một điều: Bác Hồ nói: “Phải yêu nước thương dân” và chúng ta hiểu rằng, cách thiết thực nhất là lo được việc làm đàng hoàng, đầy đủ cho người dân, vai trò ở đây không ai khác là đội ngũ doanh nhân.
Do đó, doanh nhân Việt Nam nguyện làm theo lời Bác, xứng đáng với danh hiệu “Anh Bộ đội Cụ Hồ” trên trận tuyến kinh tế, xây dựng “nền kinh tế quốc dân thịnh vượng” góp phần đưa Dân tộc Việt Nam “bước tới đài vinh quang để sánh vai các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Bác Hồ.
Trở lại vấn đề thời sự hiện nay, thế giới sau đại dịch COVID-19 đang được định hình, các chuỗi cung ứng toàn cầu đang được sắp xếp lại, các dòng chảy thương mại – đầu tư quốc tế sẽ đảo chiều, Việt Nam lại một lần nữa đứng trước cơ hội có thể tiến nhanh hơn. Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIII đang được kỳ vọng sẽ mở ra những chân trời mới để thúc đẩy cải cách thể chế đưa đất nước vượt lên, xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập trên nền tảng tư tưởng kinh tế của Bác Hồ, phù hợp với xu thế thời đại và yêu cầu của giai đoạn mới.
Hướng tới kỷ niệm 100 năm ngày Độc lập (2/9/1945 – 2/9/2045) chúng ta quyết tâm dâng lên Bác đoá hoa “Việt Nam Đất nước Hùng cường”.
“Cây Độc lập” chúng con luôn vun xới
“Quả Tự do” gìn giữ đến muôn đời
“Hoa Hùng cường” chúng con xin dâng Bác
Kỷ niệm 100 năm nền Dân chủ Cộng hoà. 17/1/2024 CÔNG KHAI 1. Câu hát ví dặm
Chiều ngày 18-5-1969, các diễn viên Đoàn văn công Quân khu 4 vào Phủ Chủ tịch biểu diễn để mừng thọ Bác 79 tuổi. Sau một số tiết mục, đến lượt chị Mai Tư hát dặm đò đưa: “Nước sông Lam biết khi mô cho cạn cũng như tinh thần cách mạng của dân ta...”. Bác hỏi mấy đồng chí ngồi xung quanh: “Có hay không các chú?”. “Thưa Bác hay ạ!”. Bác hỏi chị Mai Tư: “Trong ta chừ còn dệt vải nữa không?”. “ Dạ thưa Bác, có ạ!”. “ Rứa cháu có biết hát phường vải không?”. “ Dạ thưa Bác, có ạ!”. Bác bảo Mai Tư hát một câu mà các cụ ngày xưa hay hát, Mai Tư thưa với Bác: “Dạ, chúng cháu hát điệu phường vải nhưng không biết lời cũ ạ!”. Bác bảo: “Thì cháu lấy câu ni để hát nhé: “Khuyên ai chớ lấy học trò”. Cháu tiếp đi...”. “Dạ, thưa Bác, có phải dài lưng tốn vải ăn no lại nằm không ạ!”. “Giờ cháu tiếp câu nữa đi”. Mai Tư lúng túng không biết, Bác nhắc: “Lưng dài có võng đòn cong; áo dài đã có lụa hồng vua ban”. Mai Tư hát câu Bác vừa nhắc theo điệu hát ví Nghệ An. Đến lượt Minh Huệ, chị đứng dậy thưa: “Thưa Bác, bây giờ cháu xin hát điệu ru em, dân ca miền Trung theo lời cũ ạ! Rồi chị cất giọng “A ờ ơ... Ru em em ngủ cho muồi”, Bác sửa lại: “Ru tam tam théc cho muồi”. Minh Huệ hát tiếp: “Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu; Mua cau chợ Sải, mua trầu chợ Dinh”. Bác cười và nói: “Mua cau Cam Phổ chứ không phải chợ Sải”. Thế mới biết Bác Hồ đã từng đi năm châu bốn biển mấy chục năm trời mà vẫn không quên từng tên làng, ngõ xóm, từng câu hát ví dặm của quê nhà.
2. Chai mật ong do Bác tặng
Thường tối thứ bảy, Bác ra xem phim ngắn khoảng gần một tiếng tại Phủ Chủ tịch, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng xem với Bác. Buồng chiếu phim có anh em ở đơn vị bộ đội bảo vệ, anh em bảo vệ và phục vụ Bác. Thỉnh thoảng anh Vũ Kỳ lại tổ chức buổi hát hoặc ngâm thơ phục vụ Bác.
Tối ngày 31-5-1969 tại Phủ Chủ tịch, Bác và đông đủ các lãnh đạo Đảng, Nhà nước tới dự buổi ca múa nhạc nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi. Buổi tối hôm đó đã được ghi lại trên những thước phim, ảnh Bác ngồi giữa các cháu như ông tiên ngồi giữa bày cháu nhỏ. Lúc ra về, dọc đường Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ: Dưới hàng ghế có cụ nào ngồi đấy. Đồng chí Vũ Kỳ trả lời: Dạ, đó là cụ thân sinh của bác sĩ Mẫn. Bác nói:
- Sao không giới thiệu cho mình để mình bắt tay.
Vài ngày sau đồng bào Tây Bắc gửi về biếu Bác một chai mật ong, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ: Chai mật ong này để biếu ông cụ chú Mẫn.
Tôi (Lê Văn Mẫn) đưa về và kể cho bố tôi, bố tôi cảm động chảy nước mắt và giữ gìn chai mật ong cho tới lúc chết (hai năm sau đó)…
3. Bác rất yêu quý các cháu miền Nam
Nắng tháng sáu rực rỡ. Những ngày tháng sáu năm 1969, Hà Nội từng bừng đón tin vui: Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam thành lập. Phái đoàn Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam chúng tôi được nâng lên thành Đoàn đại diện đặc biệt của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trụ sở của Đoàn những ngày này tấp nập đại biểu trong nước và nước ngoài đến chúc mừng.
Sáng 12 tháng sáu, chúng tôi vô cùng xúc động và phấn khởi được đón Bác Hồ đến chúc mừng bước trưởng thành của cách mạng Việt Nam.
Chúng tôi quây quần bên Bác, người Cha già yêu thương vô hạn. Bác ân cần hỏi thăm sức khoẻ anh chị em trong đoàn chúng tôi, hỏi han hoàn cảnh công tác, gia đình mỗi cán bộ, nhân viên, không thiếu một ai.
Bác nhờ Đoàn chuyển lời thăm hỏi thân ái của Người đến các vị trong Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và trong Hội đồng cố vấn Chính phủ. Bác cũng nhờ Đoàn chúng tôi chuyển lời khen ngợi đồng bào và bộ đội, các cụ phụ lão, chị em phụ nữ, các cháu thanh niên và nhi đồng miền Nam đã luôn luôn đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu anh dũng, thắng lợi vẻ vang.
Bác lại đem kẹo chia cho các cháu và tất cả chúng tôi như lần đầu tiên Bác đến thăm Phái đoàn.
Một kỷ niệm thiêng liêng, sâu sắc nữa lại đến với tôi (Nguyễn Khánh Phương). Ngày 14 tháng sáu, anh Nguyễn Phú Soại và tôi nhận được tin Bác cho biết muốn gặp chúng tôi. Tôi vừa mừng, vừa lo.
Đúng bảy giờ, chúng tôi vào nhà Bác. Bác tiếp chúng tôi ngay tại nhà như những người thân trong gia đình. Tôi ngồi cạnh Bác và quạt cho Bác như con gái về thăm ba.
Bác thân mật nói: Hôm nay, Bác muốn gặp cô và chú để hỏi về tình hình các cháu học sinh miền Nam, Bác được báo cáo có một số cháu tiến bộ chậm.
Chúng tôi báo cáo với Bác về những cố gắng của Bộ Giáo dục, của thầy giáo, cô giáo các trường nhận dạy con em miền Nam và những cố gắng của Phái đoàn của chúng tôi về công tác này.
Không những Bác biết rõ tình hình ăn học của các cháu mà còn nêu cho chúng tôi tên những cháu ngoan và một số cháu chưa ngoan.
Bác dặn chúng tôi, đại ý: nếu để tình hình này kéo dài thì ba má và gia đình các cháu đang chiến đấu ở miền Nam sẽ kém yên tâm. Bác nhắc nhở chúng tôi là những người thay mặt cho cha mẹ các cháu phải đặc biệt quan tâm chăm sóc, giáo dục các cháu ngày càng tiến bộ. Bác động viên chúng tôi phải cố gắng và quyết tâm. Bác nêu rõ trách nhiệm phải nuôi dạy cho các cháu tiến bộ nhiều vì bản chất các cháu rất tốt, các cháu đều là mầm non của đất nước. Việc dạy dỗ, nuôi dưỡng đòi hỏi phải có lòng thật sự thương yêu các cháu…
Được ngồi bên Bác, nghe những lời chỉ bảo của Bác, tôi càng nhớ đồng bào miền Nam da diết.
Khi ra về, qua vườn nhà Bác, tôi nhìn thấy cây vú sữa đồng bào miền Nam gửi tặng Bác và Bác ngày ngày tự tay vun xới đã lớn lên, cao quá mái nhà đơn sơ của Bác. Tôi nhìn cây vú sữa mà nghĩ đến người Ông trồng cây cho con cháu ăn quả đời đời. Bác đã kêu gọi nhân dân miền Bắc trồng cây cho đất nước xanh tươi và Bác cũng không quên nhắc mọi người: “Chúng ta phải trồng cây cho đồng bào miền Nam nữa”. Bác nhắc: “Trồng cây nào tốt cây ấy”. Có những loại cây, Bác tự tay trồng và chăm bón cho đến khi ra hoa kết quả, rồi Bác lấy giống gửi tặng các địa phương để “nhân lên”. Bác dặn các cụ già và các tỉnh chú ý “nhân giống cho miền Nam, trồng nhiều cây miền Nam trong vườn kết nghĩa”. Bác luôn nghĩ đến việc ươm hạt giống cách mạng cho miền Nam. Miền Nam trân trọng những hạt mầm của Bác.
Tình cảm của Bác đối với đồng bào miền Nam sâu rộng hơn biển Đông. Tình yêu thương của Người đối với thanh niên, thiếu niên, nhi đồng Thành đồng mênh mông bát ngát. Giữa tháng 7-1969, trong buổi gặp mặt thân mật với chị phóng viên Cuba, Mácta Rôhát, Bác đã nói: “Ở miền Nam, những thanh niên dưới 25 tuổi không biết được thế nào là hai chữ “tự do”. Có thể nói rằng ở miền Nam, mỗi người, mỗi gia đình có một nỗi đau khổ riêng, và nếu mỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình gộp lại thì đó là nỗi đau khổ của tôi”.
4. Chiếc rễ đa tròn
Một buổi sớm, như thường lệ Bác tập thể dục rồi đi dạo trong vườn. Đến một gốc đa, Bác chợt thấy một chiếc rễ đa nhỏ và dài ngoằn ngoèo trên mặt cỏ. Đêm qua trời mưa bão chắc nó bị đánh rớt xuống. Bác đứng tần ngần một lát rồi quay lại bảo đồng chí phục vụ đi theo:
- Đừng vứt nó đi. Chú đem cuộn nó lại và giâm cho nó mọc tiếp.
Đồng chí phục vụ vâng lời, xới đám đất nhỏ và chôn chân nó xuống, nhưng Bác bảo:
- Không, chú nên làm thế này.
Bác vừa nói vừa cuộn chiếc rễ thành một vòng tròn. Đồng chí phục vụ làm theo sự hướng dẫn của Bác: cuộn tròn chiếc rễ lại và buộc cho nó tựa vào hai cái cọc…
Đồng chí phục vụ thắc mắc hỏi Bác:
- Thưa Bác, làm thế này để làm gì ạ?
Bác khẽ cười, gật gật đầu:
- Rồi chú khắc biết.
Ít lâu sau, chiếc rễ đa đã bám rễ và phát triển rất tốt. Và có một sự kỳ thú là đoàn thiếu nhi nào vào thăm vườn Bác, không ai bảo ai, bạn nào cũng thích chơi chui qua chui lại chiếc rễ đa mọc thành hình tròn xinh xẻo kia.
Lúc bấy giờ ai nấy mới chợt nhớ đến lời của Bác: “Rồi chú khắc biết”. Thì ra Bác của chúng ta chẳng những rất yêu các cháu thiếu nhi mà cũng rất hiểu thiếu nhi.
5. Miền Nam ở trong trái tim tôi
Suốt đời mình, Hồ Chủ tịch kiên quyết đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc, thống nhất của Tổ quốc. Đối với miền Nam, tình cảm của Bác vô cùng thắm thiết. Bác nói: “Miền Nam ở trong trái tim tôi”, “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”. Chưa giải phóng được miền Nam, Bác tự coi là nhiệm vụ làm chưa tròn, cho nên Người đã nói với Quốc hội khi Quốc hội có ý định trao huân chương Sao Vàng cho Người: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi huân chương cao quý đó”.
Những năm miền Nam chiến đấu chống Mỹ ác liệt, Bác đã có ý định vào miền Nam “để thăm đồng chí, đồng bào” và yêu cầu tổ chức để Bác đi. Bác nêu vấn đề một cách rất kiên quyết. Thấy Bác tuổi đã cao, sức khoẻ không còn được như trước, các đồng chí Bộ Chính trị đề nghị xin cố gắng cùng toàn dân đánh Mỹ mau thắng rồi mời Bác vào. Bác nói: “Tôi muốn vào là vào lúc này, chứ thắng rồi mới vào thì nói làm gì?”
Lâu lâu Bác lại nhắc lại vấn đề và hỏi việc chuẩn bị đến đâu rồi. Thấy Bác rất quyết tâm, các đồng chí phụ trách đành phải báo cáo đường đi rất khó khăn, vất vả, Bác đi không được. Bác nói : “Nếu không có đường nào khác thì tổ chức cho tôi đi bộ. Các chú đi được thì tôi đi được. Đi mỗi ngày một ít. Chưa chắc thua các chú đâu”.
Trong những năm cuối, tuy yếu mệt nhưng Bác vẫn tập đi bộ, tập leo dốc và nhiều khi leo những dốc khá cao. Các đồng chí đều can ngăn, nhưng Bác cứ leo. Bác muốn xem sức mình hiện nay thế nào và vẫn quyết rèn luyện để thực hiện ý định “vào miền Nam với đồng bào, đồng chí”.
Từ năm 1968 trở đi, Bác yếu nhiều hơn. Bác yêu cầu: hễ có đồng chí miền Nam nào ra thì phải cho Bác biết và đưa vào gặp Bác. Vì vậy, rất nhiều cán bộ, chiến sĩ miền Nam ra Bắc đã được vào thăm Bác, đặc biệt là các chị và các cháu. Mỗi lần gặp, Bác đều hỏi tình hình rất tỉ mỉ và Bác rất vui…
6. Bỏ thuốc lá
Hút thuốc lá là thú vui duy nhất của Bác như Bác thường nói. Nhưng từ khi bị bệnh, theo lời khuyên của Hội đồng thầy thuốc, Bác có kế hoạch quyết tâm bỏ dần. Bác nói:
- Bác hút thuốc từ lúc còn trẻ nay đã thành thói quen, bây giờ bỏ thì tốt nhưng không dễ, các chú phải giúp Bác bỏ tật xấu này.
Rồi Bác tự đề ra chương trình bỏ thuốc dần dần. Lúc đầu là giảm số lượng điếu hút trong ngày. Khi thèm hút thuốc Bác làm một việc gì đó để thu hút sự chú ý, tập trung. Tuổi đã già phải làm như vậy thật quá vất vả. Tập một thói quen, bỏ một thói quen không dễ chút nào. Phải có một nghị lực phi thường mới làm được. Bác bảo đồng chí giúp việc để cho Bác một vỏ lọ Pênixilin ở nơi làm việc và phòng nghỉ. Hút chừng nửa điếu Bác dụi đi để vào lọ đó. Sau hút lại nửa điếu để dành. Anh em can bảo thuốc lá hút dở không có lợi, Bác bảo: “Nhưng hút để có cữ”. Với cách làm đó, Bác đã giảm từ cả bao xuống còn ba, bốn điếu một ngày. Cứ như vậy Bác hút thưa dần.
Đầu tháng 3-1968, nhân khi bị cảm ho nhẹ, Bác tự quyết định bỏ hẳn. Mấy ngày sau, trong một tuần lễ anh em vẫn để gói thuốc trên bàn làm việc của Bác, nhưng Bác không dùng.
Một tháng sau, khi tiếp đồng chí Vũ Quang, lúc ấy là Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Bác nói: Bác bỏ thuốc lá rồi, chú về vận động thanh niên đừng hút thuốc lá. Sau này Bác có bài thơ Vô đề:
“Thuốc kiêng rượu cữ đã ba năm,
Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần.
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,
Một năm là cả bốn mùa Xuân”
7. Bài học về sự tiết kiệm
Trước kia, Thông tấn xã Việt Nam hàng ngày đều đưa bản tin lên cho Bác xem. Khi in một mặt, Bác phê bình là lãng phí giấy. Sau đấy Thông tấn xã in hai mặt bằng rônêô, nhoè nhoẹt khó đọc hơn nhưng Bác vẫn đọc. Sang năm 1969, sức khoẻ Bác yếu và mắt giảm thị lực, Thông tấn xã lại gửi bản tin in một mặt để Bác đọc cho tiện. Khi xem xong, những tin cần thiết Bác giữ lại, còn Người chuyển bản tin cho Văn phòng Phủ Chủ tịch cắt làm phong bì tiết kiệm hoặc dùng làm giấy viết. Ngày 10-5-1969, Bác đã viết lại toàn bộ đoạn mở đầu bản Di chúc lịch sử bằng mực xanh vào mặt sau tờ tin Tham khảo đặc biệt ra ngày 3-5-1969. Từ giữa năm 1969, sức khoẻ Bác yếu đi nhiều nên Bộ Chính trị đề nghị: Khi bàn những việc quan trọng của Đảng, Nhà nước thì Bác mới chủ trì, còn những việc khác thì cứ bàn rồi báo cáo lại sau, Bác cũng đồng ý như vậy. Tháng 7, Bộ Chính trị họp ra nghị quyết về việc tổ chức 4 ngày lễ lớn của năm: ngày thành lập Đảng, ngày Quốc khánh, ngày sinh Lênin và ngày sinh của Bác. Sau khi báo Nhân Dân đăng tin nghị quyết này, Bác đọc xong liền cho mời mọi người đến để góp ý kiến: “Bác chỉ đồng ý 3/4 nghị quyết. Bác không đồng ý đưa ngày 19-5 là ngày kỷ niệm lớn trong năm sau. Hiện nay, các cháu thanh thiếu niên đã sắp bước vào năm học mới, giấy mực, tiền bạc dùng để tuyên truyền về ngày sinh nhật của Bác thì các chú nên dành để in sách giáo khoa và mua dụng cụ học tập cho các cháu, khỏi lãng phí”.
8. Trên giường bệnh
Đầu năm 1969, một chị cán bộ trong Nam ra thăm miền Bắc. Như bất cứ đồng bào miền Nam nào khác, khi tới thủ đô, chị mong ngày mong đêm được sớm thấy Bác Hồ. Một hôm, thật hết sức bất ngờ, chị được Trung ương gọi vào Phủ Chủ tịch gặp Bác!
Cùng tiếp khách với Bác hôm ấy có cả Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Gặp Bác, điều đầu tiên chị thưa với Bác là:
- Chúng cháu ở miền Nam, vâng theo lời Bác, không nề hy sinh gian khổ đánh Mỹ đến một trăm năm cũng không sợ. Chỉ sợ một điều là Bác trăm tuổi.
Chị đã nói ra cái điều mà mọi người hằng nghĩ, nhưng không ai dám và muốn nhắc đến. Một cái gì thoáng qua nhanh, rất nhanh, trên vầng trán, đôi mắt, đôi môi là chòm râu bạc của Bác. Bác quay lại hỏi Thủ tướng Phạm Văn Đồng:
- Năm nay Bác bảy mươi mấy rồi, chú?
- Thưa Bác, năm nay Bác bảy mươi chín.
Bác mỉm cười, mắt ánh lên hóm hỉnh:
- Thì thì còn đến hai mươi mốt năm nữa Bác mới trăm tuổi. Bác kêu gọi các cô, các chú đánh Mỹ năm, mười năm, hai mươi năm chứ có bao giờ Bác nói hai mươi mốt năm đâu. Nếu hai mươi năm nữa mà ta thắng Mỹ thì Bác cũng còn một năm để vào thăm các cụ, các cô, các chú, các cháu miền Nam…
Thấy Bác nói vui như vậy, chị cán bộ miền Nam thấy vững lòng. Chị thầm tin rằng, rồi đây đánh Mỹ xong, thế nào Bác cũng sẽ vô thăm đồng bào miền Nam, để đồng bào miền Nam thoả lòng mong ước.
Trước ngày mồng 2-9-1969, Nha khí tượng phát đi một thông báo khô khan như thường lệ: “Cơn bão số 3…”
Tối hôm mồng một, không thấy Bác dự lễ mừng Quốc khánh, người dân thủ đô cảm thấy lo lắng. Chưa có thông báo chính thức thế nào về sức khỏe của Bác, nhưng nhân dân cũng biết Bác mệt nhiều.
Không biết tin ở đâu phát ra mà ở thủ đô từng nhóm người tụ tập đều truyền cho nhau nghe tin Bác mệt, và kể lại cho nhau nghe câu chuyện sau đây:
“Trên giường bệnh, Bác hỏi:
- Trong Nam mấy hôm nay đánh thế nào?
- Thưa Bác, anh em trong ấy đang đánh tốt lắm.
- Quốc khánh năm nay có đốt pháo hoa cho đồng bào vui không?”…
9. Món quà của Mađơlen Riphô
Chị Mađơlen Riphô - nhà báo Pháp đã từng sang Việt Nam nhiều lần và cũng nhiều lần may mắn được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kể một chuyện nhỏ về Bác Hồ như sau:
Trước đây, có lần Bác Hồ nói với tôi rằng: “Con gái ạ, nếu con muốn làm Bác vui lòng thì hôm nào đấy hãy gửi cho Bác những đĩa hát mà ngày xưa Môrixơ Sơvaliê thường hát hồi Bác ở Pari, lúc con còn chưa ra đời ấy”.
Tôi đã tìm kiếm được những đĩa hát ấy, khi người ta cho phát hành lại tất cả những gì Sơvaliê biểu diễn trước đây, nhân dịp ông 80 tuổi.
Tôi lưỡng lự khi gửi món quà khác thường này… Giả sử Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quên rồi thì sao? Liệu Người có cho vật gửi đi này là thất lễ không?
Tôi hỏi ý kiến một trong những đại biểu của nước Việt Nam đi dự hội nghị Pari, người ấy trả lời: “Chị cũng biết rồi đấy, Bác không bao giờ quên một điều gì cả đâu. Hãy cứ gửi cho Người những bài hát này đi. Chúng sẽ làm cho Bác nhớ lại thời thanh niên của mình và nhớ tới những người dân lao động Pari mà Bác vô cùng quý mến”.
Thế là tuần vừa rồi, hai ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, tôi nhận được một bức thư viết từ ba tuần trước của Têô Rôngcô, phóng viên báo chúng tôi tại Hà Nội. Bức thư có đoạn: “Bác Hồ đã nhận được số đĩa hát. Người nghe các đĩa ấy một cách thích thú. Người rất hài lòng”.
Có lẽ khó mà diễn tả được nỗi xúc động của Mađơlen Riphô khi biết Bác Hồ đã vui lòng đến thế nào khi nhận được món quà nhỏ của chị gửi từ nước Pháp xa xôi.
10. Bác Hồ với chiến sĩ người dân tộc
Bác của chúng ta yêu quý mọi chiến sĩ. Đối với các chiến sĩ gái, chiến sĩ người dân tộc, Bác còn chăm sóc hơn vì đây là những người làm cách mạng khó khăn hơn chiến sĩ trai, chiến sĩ người Kinh nhiều.
Anh hùng La Văn Cầu, dân tộc Tày mãi mãi không quên bữa cơm của Bác “đãi” với rau, thịt gà... những “sản phẩm” do chính Bác nuôi, trồng. Bác hỏi thăm mẹ Cầu, gửi quà cho mẹ, dặn cán bộ tạo mọi điều kiện để Cầu về thăm mẹ, giúp đỡ gia đình.
Nhiều chiến sĩ người dân tộc đã lấy họ Hồ cho mình như Hồ Vai, Hồ Can Lịch, Hồ Văn Bột...
Mùa thu năm 1964, chị Choáng Kring Thêm – chiến sĩ người dân tộc Cà Tu, tham gia đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được ra miền Bắc, gặp Bác Hồ. Chị Thêm kể:
“Đoàn chúng tôi vừa bước xuống xe thì đã thấy Bác đứng chờ ngay ngoài sân.
Bác ôm hôn thắm thiết các thành viên trong đoàn. Chúng tôi theo Bác đến dãy bàn tiếp khách kê ngay ngoài vườn đầy hoa và nắng. Thấy tôi mặc bộ quần áo dân tộc, Bác nói:
- Cháu đúng là con gái dân tộc Cà Tu giữ được tính chất của dân tộc mình.
Chị Ngân; chị Cao gặp Bác, mừng quá khóc lên. Bác dịu dàng bảo:
- Các cháu gái đừng khóc. Gặp Bác phải vui chứ. Hai cháu hãy kể cho Bác nghe bà con ta ở tiền tuyến đánh Mỹ như thế nào?
Tôi thưa:
- Thưa Bác, cháu thương, cháu nhớ Bác. Tất cả đồng bào dân tộc miền Nam đều thương nhớ Bác.
Sau đó tôi kể Bác nghe một số chuyện chiến đấu của mẹ Giớn, anh Bên, em Thơ...
Bác nói:
- Cuộc kháng chiến của đồng bào miền Nam ta là toàn dân, toàn diện. Trẻ, già, gái, trai, Kinh, Cà Tu, Cà Tang và đồng bào các dân tộc khác đều sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi”.
Tôi hiểu đó là Bác dành tình thương mênh mông của Bác cho tất cả chúng ta.
11.Tấm lòng của Bác với thương binh, liệt sĩ
Ngày 10-3-1946 báo Cứu quốc đăng thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Nam bộ. Trong thư có đoạn Người viết: “Tôi xin kính cẩn cúi chào vong linh các anh chị em đã bỏ thân vì nước và các đồng bào đã hy sinh trong cuộc đấu tranh cho nước nhà. Sự hy sinh đó không phải là uổng”.
Tiếp sau đó, trong Thư gửi đồng bào miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết: “Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam đã vì Tổ quốc mà hy sinh anh dũng”.
Hơn nửa tháng sau khi đi Pháp về, ngày 7-11-1946, Người đã đến dự lễ “Mùa đông binh sĩ” do Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam tổ chức tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội, vận động đồng bào ở hậu phương đóng góp tiền của để may áo trấn thủ cho chiến sĩ, thương binh, bệnh binh.
Cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp đã thu hút nhiều thanh niên nam nữ tham gia quân đội. Một số chiến sĩ đã hy sinh anh dũng, một số nữa là thương binh, bệnh binh, đời sống gặp nhiều khó khăn, mặc dầu anh chị em tình nguyện chịu đựng không kêu ca, phàn nàn.
Trước tình hình ấy, tháng 6-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ chọn một ngày nào đó trong năm làm “Ngày thương binh” dể đồng bào ta có dịp tỏ lòng hiếu nghĩa, yêu mến thương binh. Có lẽ - trừ những ngày kỷ niệm quốc tế - “Ngày thương binh” là ngày kỷ niệm trong nước đầu tiên được tổ chức.
Hưởng ứng và đáp lại tấm lòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một hội nghị trù bị đã khai mạc tại xã Phú Minh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên gồm có một số đại biểu ở Trung ương, khu và tỉnh. Hội nghị nhất trí lấy ngày 27-7 hàng năm là ngày thương binh liệt sĩ và tổ chức ngay lần đầu trong năm 1947.
Báo Vệ quốc quân số 11, ra ngày 27-7-1947 đã đăng thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thường trực Ban tổ chức “Ngày thương binh toàn quốc” Đầu thư Người viết: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp. Cha mẹ, anh em, vợ con, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù? Đó là những chiến sĩ mà nay một số đã thành ra thương binh”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích: “thương binh là người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đã chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”.
Cuối thư, Người vận động đồng bào nhường cơm sẻ áo, giúp đỡ thương binh. Bản thân Người đã xung phong góp chiếc áo lụa, một tháng lương và tiền ăn một bữa của Người và của tất cả các nhân viên của Phủ Chủ tịch, tổng cộng là một ngàn một trăm hai mươi bảy đồng (1.127 đồng) để tặng thương binh.
Năm sau, ngày 27-7-1948, trong một lá thư dài đầy tình thương yêu, Bác nói: “Nạn ngoại xâm như trận lụt to đe dọa tràn ngập cả non sông Tổ quốc, đe dọa cuốn trôi cả tính mệnh, tài sản, chìm đắm cả bố mẹ, vợ con, dân ta. Trong cơn nguy hiểm ấy, số đông thanh niên yêu quý của nước ta quyết đem xương máu của họ đắp thành một bức tường đồng, một con đê vững để ngăn cản nạn ngoại xâm tràn ngập Tổ quốc, làm hại đồng bào”.
Người xót xa viết: “Họ quyết liều chết chống địch, để cho Tổ quốc và đồng bào sống. Ngày nay, bố mẹ họ mất một người con yêu quý. Vợ trẻ trở nên bà góa. Con dại trở nên mồ côi. Trên bàn thờ gia đình thêm một linh bài tử sĩ. Tay chân tàn phế của thương binh sẽ không mọc lại được. Và những tử sĩ sẽ không thể tái sinh”.
Theo 117 câu chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 17/1/2024 CÔNG KHAI 1. Như thế là Bác dạy chúng ta
Sau khi Anh hùng Đặng Đức Song được Trường Văn hóa Quân đội cử đi dự Liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới về, trong trường đã có sự thay đổi mới.
Đó là, theo lệnh của Chính ủy Lê Quang Hòa, trong tất cả các buổi nói chuyện, xem phim, xem văn công, các nữ quân nhân, nữ nhân viên đều được lên ngồi hàng ghế đầu.
“Sự kiện” này là “kết quả” câu chuyện của đồng chí Song. Đồng chí Song kể:
“Bấy giờ chúng tôi đang ở đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh. Bác đi Liên Xô ghé qua thăm đoàn chúng tôi. Hết buổi nói chuyện, Bác chia quà cho các cháu bé. Có một anh trong sứ quán ngồi gần Bác, ăn mặc sang trọng, cứ đẩy đẩy hai con của mình – cháu gái thì má phấn môi son, “nơ” gắn trên mái tóc phi dê, cháu trai thì com-lê cà vạt, đến gần Bác.
Nhưng Bác lại gọi các chị, các cô công nhân ngồi ở xa đưa các cháu vào trước. Và Bác bảo cách “đàn ông”, “thanh niên” lùi ra, “mở đường” để các chị và các cháu ấy vào. Các cháu này mặc quần áo vải màu xanh, được “dịp” chạy ào ào… Bác chia kẹo cho các cháu này trước rồi mới chia kẹo cho các cháu ngồi gần sau… Và chúng tôi là những người sau cùng nhận quà…”.
Nghe kể xong, Chính ủy kết luận:
- Như thế là Bác dạy chúng ta: phải ưu tiên Phụ nữ và các cháu.
2. Quà tặng của Bác
Một buổi sáng mùa thu năm 1950, Bác Hồ đi công tác, vừa qua vọng gác ATK (an toàn khu) thì gặp một cô bé. Cô vừa đi vừa ngắm nhìn cây cối, chim chóc. Thoáng thấy một cụ già một áo kaki vàng, khăn quàng bên vai, cô sững sờ giấy phút rồi hét lên:
- Bác, Bác Hồ!
Bác đi lần lại, hỏi:
- Cháu đi đâu mà sớm thế?
Cô gái nhanh nhẩu thưa:
- Thưa Bác, cháu bên chú Tô (bí danh của đồng chí Phạm Văn Đồng) sang đưa công văn ạ.
Bác lại hỏi:
- Cháu đi từ mấy giờ sáng mà đã đến đây sớm thế?
- Thưa Bác, tan sương là cháu đi ngay ạ.
Bác động viên:
- Giỏi lắm. Thế đi liên lạc có vui không?
- Dạ vui lắm.
- Thế bên ấy có ăn cơm độn không?
- Dạ có ạ, nhưng các anh thấy cháu là con gái nên dành cho ăn cơm…
Bác dặn:
- Trưa nay ở đây ăn cơm rồi hãy về.
Trưa hôm ấy, bữa cơm gạo đỏ, tôm rim, canh rau muống đựng trong ống bương nhưng cô gái ăn rất ngon lành.
Chúng tôi bảo cô:
- Rau muống Bác trồng đấy:
Ít lâu sau, cô liên lạc được chuyển sang Văn phòng của Phủ Chủ tịch. Chúng tôi gọi cô là cô Hiền, vì thật sự là cô hiền từ quá, mặc dù tên của cô là Đức – Hiền Đức. Cuối năm, cơ quan chọn một số thanh niên đi sang Trung Quốc học. Cô Hiền cũng có trong danh sách, nhưng ý không muốn đi.
Một hôm, Bác cho gọi Hiền. Bác hỏi:
- Cháu có muốn công tác tốt không?
- Có ạ.
- Có muốn phục vụ nhân dân được nhiều không?
- Có ạ.
- Thế thì phải đi học. Học tập để hiểu biết thêm, hiểu biết nhiều. Có hiểu biết nhiều mới phục vụ nhân dân được nhiều, được tốt.
Bác đưa cho cô Hiền hộp thuốc lá của Bác:
- Bác tặng cháu cái hộp này để đựng kim chỉ. Ngoài giờ học phải học thêu thùa, vá may. Con gái là phải biết làm các việc đó.
Bẵng đi mấy năm, ngày 12/6/1956, Bác đến thăm lớp đào tạo hướng dẫn viên trại hè tại trường Chu Văn An, Hà Nội. Trong câu chuyện Bác nói đại ý: “Trong giáo dục không những phải có tri thức, mà phải có đạo đức nữa. Có đức mà không có tài cũng như ông Bụt trong chùa, không giúp ai được gì”.
Nói xong chuyện, Bác bước xuống bục đến gần một cô giáo hỏi:
- Cháu Đức phải không?
Cô giáo, cô Hiền Đức liên lạc ngày nào òa lên khóc. Nhìn thấy em nhỏ trên tay Đức, Bác hỏi:
- Cháu được đầy năm chưa?
Cô giáo Đức trấn tĩnh lại, thưa:
- Dạ, được 3 tháng ạ.
Bác khen:
- Cháu bụ lắm. Chú ấy công tác ở đâu?
- Dạ, nhà cháu ở bộ đội ạ… Thưa Bác, nghe lời Bác cháu đi học sư phạm rồi về nước dạy học. Cái hộp Bác cho, cháu vẫn giữ ạ…
Bác hỏi:
- Thế bây giờ cô giáo thêu thùa, khâu vá đã giỏi chưa?
- Thưa Bác, cũng tàm tạm ạ.
Bác dặn:
- Đã là cô giáo thì phải dạy cho học trò biết nữa. Vừa dạy học vừa nuôi con được như thế này là giỏi. Nhưng phải cố gắng thêm.
- Dạ, cháu xin hứa.
Mấy ngày sau, đồng chí nhiếp ảnh trình Bác xem mấy tấm ảnh, trong đó có bức ảnh Bác đang vuốt má con cô Hiền Đức.
Bác bảo một đồng chí trong Văn phòng:
- Chú tìm nhà cháu Đức đưa tấm ảnh này tặng cô giáo.
Không rõ năm nay cô giáo Hiền Đức ở đâu? Có còn giữ được tấm ảnh quý ấy không? Và hai mẹ con đã đi một quãng đường như lời hứa với Bác thế nào?
3. Chủ tịch nước xưng “cháu” với dân
Một nhà nghiên cứu về Việt Nam là công dân Mỹ có lần tâm sự:
“Người Mỹ ít hiểu về dân tộc Việt Nam, về tinh thần yêu nước của người Việt Nam. Ngay một đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất thôi cũng đã thấy rõ tính chặt chẽ của cộng đồng gia tộc, làng nước Việt Nam. Tôi không thể nào giải thích cho người Mỹ hiểu rằng Hồ Chí Minh lại xưng “cháu” với cụ già công nhân được”.
Về việc “hiểu ít”, “không hiểu” Việt Nam xin để nhà nghiên cứu người Mỹ bàn. Chỉ xin nói thêm rằng việc Bác Hồ xưng “cháu”, xưng tôi, xưng Bác thân thương, khiêm tốn là nhiều hơn xưng “Chủ tịch nước”. Bác xưng như vậy là thực lòng, thực tâm của Bác.
Khi chưa có chính quyền, cán bộ có ẩn náo trong dân, nhờ dân nuôi nấng, giúp đỡ bát cơm, tấm áo, giúp đỡ việc giao thông, liên lạc… thì chưa có cán bộ nào “lên mặt làm quan cách mạng” như Bác viết trong thư “Gửi các đồng chí tỉnh nhà”, ngày 17 tháng 9 năm 1945, mới 28 ngày sau khi Đảng và nhân dân giành được chính quyền… Và đúng một tháng sau, ngày 17 tháng 10 năm 1945, báo Cứu quốc, số 69 đăng thư của Bác gửi “ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”. Trong thư, Người phê bình “thói kiêu ngạo” của cán bộ như sau:
“Tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi. Coi khinh dân gian, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng” lên…”.
Ngày 20 tháng 10 năm 1945, trong buổi sáng tiễn đưa 500 đội viên xung phong tuyên truyền lên đường tại Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội, sau khi nhắc nhở anh em “phải biết mục đích tuyên truyền, biết chịu kham khổ, nhẫn nại…” Bác lại căn dặn: “Chớ lên mặt “quan cách mạng”, “chớ vác mặt làm quan cách mạng” cho dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ”.
Sự kiện này gợi cho ta một suy nghĩ. Nếu nói là “chủ tịch” này, “ủy viên” kia lên mặt “quan cách mạng là dễ hiểu. Nhưng đội viên tuyên truyền cũng “dám lên mặt” “quan cách mạng” thì xem ra cái bệnh “vác mặt làm quan cách mạng” rất hay lây… Vì sao có một số người là “quan”, chưa là “quan”, không là “quan” mà vẫn “lên mặt quan cách mạng?”. Theo Bác Hồ, đó là vì họ cho mình “cao cao tại thượng, muốn ăn trên, ngồi trốc”, không muốn làm đầy tớ dân mà lại muốn làm “phụ mẫu” dân… Đứng trước dân, nếu là người già, Bác “thưa cụ”, như đã thưa với cụ Võ Liêm Sơn, Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, cũng như với Cụ Tôn, Cụ Thúy… hơn tuổi Bác, như Cụ Phụng Lục ở Sơn Tây, Bác xưng “cháu”… Với cán bộ ít tuổi, Bác xưng minh, tôi, Bác, với các cháu, các cô thân yêu và khi thương nhất, Bác gọi “cháu”…
4. Câu chuyện cái giường của Bác
Khoảng tháng năm 1964, Văn phòng Phủ Chủ tịch cùng Bộ trưởng Bộ Nội thương và Phó Giám đốc kỹ thuật Nhà máy Cơ khí Nội thương bàn việc đóng cho Bác một chiếc gường cá nhân.
Lúc đó, Nhà máy cơ khí Nội thương mới được thành lập và chịu sự quản lý của Cục kiến thiết cơ bản Bộ Nội thương. Ngoài phần cơ khí nhà máy còn sản xuất cả đồ mộc. Tuy là nhà máy của một ngành, nhưng biên chế cũng mới chỉ có vài chục người, máy móc cũng không nhiều. So với các nhà máy “đàn anh” khác như Trần Hưng Đạo, với một số máy móc và đội ngũ kỹ thuật viên giỏi thì nhiệm vụ này thật bất ngờ đối với Nhà máy Cơ khí Nội thương.
Người được giao nhiệm vụ vinh dự này là đồng chí Phó Giám đốc kỹ thuật Trần Vĩnh Xương, người từng tham gia thiết kế và chế tạo nhiều sản phẩm cơ khí, kể cả vũ khí, các sản phẩm đồ gỗ cao cấp, chuyên dụng. Tuy nhiêu, đóng giường cho Bác Hồ lại là một việc hoàn toàn khác, vì đây không phải là chiếc giường đặc biệt, khác kiểu dáng hay có thiết bị đặc biệt. Đồng chí Trần Vĩnh Xương bối rối và lo lắng. Khi trao đổi, đồng chí cán bộ Văn phòng Phủ Chủ tịch cũng không đưa ra yêu cầu cụ thể mà chỉ nói chung chung, làm sao để Bác có thể chấp nhận.
Sau vài ngày suy nghĩ, nhận thấy Bác là người sống giản dị, hòa mình với thiên nhiên và nhân dân, luôn chú trọng giữ gìn bản sắc dân tộc, đồng chí Trần Vĩnh Xương chủ trương phải làm chiếc giường theo những chủ trương đó. Chiếc giường cá nhân của Chủ tịch dần dần hình thành trong ý đồ thiết kế của tác giả: đó là chiếc giường gỗ đơn giản, rộng 1m2, không chạm trổ cầu kỳ. Bốn chân giường choãi ra, vững chãi như mang dáng hình của chiếc chõng tre mộc mạc. Dát giường bằng gỗ bào nhẵn để mùa hè đến, Bác có thể bỏ chiếu ra, chiếc giường sẽ trở thành chiếc phản gỗ mát mẻ và cũng rất Việt Nam.
Sau ba ngày, đồng chí Xương cùng một số công nhân có kỹ thuật cao tìm chọn loại gỗ chắc, bền, đẹp để đóng giường theo thiết kế. Chiếc giường làm xong nhưng mọi người càng hồi hộp hơn, chờ ý kiến nhận xét của Bác. Anh em chỉ nhận được một thông báo ngắn: “giường đã được kể ở phòng ngủ trong nhà sàn Bác Hồ”. Mọi người tương đối yên tâm vì biết Bác đã ưng sản phẩm của mình.
Vào một ngày giáp Tết Ất Tỵ (1965), đồng chí Trần Vĩnh Xương đang ở nhà thì có chiếc xe con đến đỗ trước cửa. Một người khách xuống xe, xách theo hai con cá mè khá to. Đó là đồng chí Vũ Kỳ, người giúp việc của Bác, đem quà của Người đến tặng. Và thật cảm động, đó là chính là những con cá do Người chăm nuôi hàng ngày trong ao, cạnh nhà sàn. Nhân đó, đồng chí Xương đã mời cán bộ, công nhân trong nhà máy đến liên hoan và cùng chia sẻ món quà đầy ý nghĩa của Bác.
Chiếc gường đó đã được Bác dùng trong suốt những năm chống Mỹ cứu nước, cho đến ngày đi xa. Nó đã trở thành một di vật thiêng liêng trong căn nhà sàn bình dị của Người. Nó không chỉ là sản phẩm riêng của tác giả Trần Vĩnh Xương của Nhà máy Cơ khí Nội thương, mà còn là sản phẩm của một đức tính: cần kiệm, giản dị đến mực thước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
5. Dân chủ mà thành “quan chủ”
Ngay từ khi chưa giành được chính quyền, Bác Hồ đã dự báo trước căn bệnh “quan liêu” sẽ xuất hiện, sẽ làm xói mòn “cơ thể” một số cán bộ, một số cơ chế tổ chức, dẫn đến tai hại cho cả một xã hội.
Hôm đầu tiên về Hà Nội, tháng 8 năm 1945, Bác đã nhắc khéo một vài “quý vị” “đã ra vẻ người thành phố, ra vẻ cán bộ rồi đấy”. Trong kháng chiến chồng Pháp trong sách “Sửa đổi lối làm việc”, mỗi khi có hội nghị, gặp gỡ cán bộ cấp cao ở Trung ương, cấp cuối cùng ở thôn xã, bao giờ Bác cũng nhắc “cán bộ là đầy tớ của nhân dân”. Bác nghiêm khắc phê bình lối làm việc “quan liêu mệnh lệnh, xa rời quần chúng” lên mặt quan cách mạng “khắc hai chữ Cộng sản lên trán” ra vẻ ta đây…
Hòa bình lập lại trên miền Bắc được vài năm, ở Hà Nội xuất hiện chế độ tem phiếu. Những bà nội trợ trong thời gian ấy cứ bì đầu lên vì những phiếu, những số A, B, C, 1, 2, 3… có những ông chồng giáo sư, bác sĩ… cứ nghe “đức phu nhân” trình bày “giá trị, tác dụng” của các ô giấy nhỏ ấy cũng lắc đầu lảng tránh “tôi xin chịu… không hiểu nổi, không nhớ nổi”…
Có phiếu bìa đỏ mua ở cửa hàng cung cấp cho cán bộ “cao”, bìa xanh cho cán bộ “vừa”, bìa trắng cho nhân dân… Lại có bìa mua ở cửa hàng đặc biệt. Lại còn bìa dành cho cán bộ được mua ở cửa hàng quốc tế mặc dù có cán bộ “cả đời” cũng không bước chân vào xem trong đó có gì – có thể vì không thích, vì không đủ tiền; trong khi đó có một loại “con buôn” lại vào, ra “thì thọt” kiếm chác được!
Tháng 5 năm 1969 trong một lần làm việc với một nhà khoa học, những vấn đề tem phiếu cho các cấp “quan cán bộ” ấy đã được Bác lắng nghe. Bác yêu cầu cho dẫn chứng cụ thể các thể thức bán hàng, phục vụ quá phiền phức tại Hà Nội.
Bác không vui quay lại hỏi Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Nội thương. Bác lại hỏi Bí thư Thành ủy Hà Nội. Biết chắc chắn tình hình đó đã có khá lâu, Bác lắc đầu:
- Dân chủ mà thành ra quan chủ. Hà Nội mà còn nhiều quan như vậy sao!
Tất cả từ Thủ tướng đến nhà khoa học, ngồi im nghẹn ngào, xúc động không trả lời được Bác.
6. “Ông kiến” nhà sàn của Bác
Năm 1958, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh được Văn phòng Phủ Chủ tịch mời lên gặp Bác.
Hôm ấy, Bác mặc bộ quần áo bà ba, chân đi đôi guốc mộc. Sau khi mời đồng chí Ninh ngồi. Bác nói ý kiến của mình về ngôi nhà mà Trung ương đã quyết định xây để Bác ở. Bác dặn nhà mới sẽ làm theo kiểu nhà sàn Việt Bắc, loại gỗ gì, tầng dưới thế nào, chỗ làm việc của Bác ra sao, cặn kẽ, cụ thể. Khi nói đến hành lnag quanh sân, Bác bê chiếc ghế mây ra để ngang, giơ tay làm cữ, nói:
- Hành lang chú làm rộng cho Bác như thế này, để khi Bác ngồi đọc sách, có ai qua lại đều thuận lợi. Ý kiến chú thế nào? Có được không?
Đồng chí Ninh thưa với Bác là “được” và xin phép ra về. Bác dặn thêm là phải hết sức tiết kiệm. Sau đợt đi công tác về, Bác đến xem nhưng không ai nghe thấy Bác nói gì. Hôm sau, Bác bỏ tiền riêng của mình nhờ Văn phòng tổ chức một buổi liên hoan ngọt. Bác mời đồng chí Ninh và một số công nhân làm nhà cho Bác tới dự ngay gian dưới ngôi nhà sàn mới dựng xong. Đây là bữa tiệc đầu tiên “khánh thành công trình” nhà sàn của Chủ tịch nước. Bác giục mọi người ăn kẹo, uống nước. Bác tặng mỗi người một huy hiệu hình Bác. Đến lượt đồng chí Ninh, Bác nói:
- Các chú làm như thế là nhanh, tốt, nhưng còn một khuyết điểm. Chú có biết khuyết điểm gì không?
Đồng chí Ninh thưa với Bác:
- Thưa Bác, so với lời Bác dặn thì có tốn kém đôi chút ạ.
Bác gật đầu:
- Chú nói đúng. Nước ta chưa giàu, dân ta còn chưa đủ nhà ở. Bác ở thế là tốt lắm rồi…
Sau bữa tiệc, Bác mời anh em ra chụp ảnh chung với Bác. Nhìn quanh, thấy đồng chí Ninh, Bác vẫy:
- Còn “ông kiến” nữa, đến đây!
Tất cả cười ồ lên, vui vẻ, phấn khởi trong niềm hạnh phúc riêng của mình…
Đồng chí Ninh kể lại: “Ban đầu tôi cho rằng mình là “kiến trúc sư” nên Bác gọi là “ông kiến” cho gọn, cho vui. Mãi về sau có người nói rằng gọi “ông kiến” là tiết kiệm được hai chữ “trúc sư”. Mà kiến là hay leo, leo thang. Tôi đã “leo thang” trong việc xây nhà sàn cho Bác, không tiết kiệm nên Bác gọi thế!”
7. Vẽ ảnh Bác Hồ
Năm 1954, bộ đội trú quân ở gia đình có tặng bố anh một bức tranh vẽ Bác Hồ. Trong tranh vẽ một bà mẹ bế em bé miền Nam đang cầm một lá cờ đỏ ở giữa có hình ngôi sao, trong ngôi sao có hình Bác hồ. Bên cạnh hai mẹ con là các anh bộ đội bà lô khoác vai chuẩn bị lên đường tập kết. Phía dưới bức tranh có hai câu ca:
Quân dân chung một Bác Hồ
Bắc Nam chung một cơ đồ Việt Nam…
Sau đó, bọn ngụy quân, ngụy quyền đi lùng sục khắp thôn xóm thiêu hủy hết những cái gì là của cách mạng để lại. Gia đình anh cuộn tròn bức tranh bỏ vào một cái chai giấu vào giữa bụi tre vườn sau nhà. Thỉnh thoảng cả nàh lại lấy ra xem. Anh nhớ như in đường nét của bức tranh đến mức có thể vẽ lại đúng như hệt mà không cần nhìn vào “bản gốc”. Bức tranh ít lâu sau bị bom phá hủy cùng với cả bụi tre.
Khi đã là bộ đội giải phóng, một lần anh về vận động phong trào ở một vùng giáp ranh. Hôm ấy, đồng bào đang làm lễ mừng thọ Bác, một tên mật vụ giả danh dân thường đứng lên nói:
- Thế hệ ông Hồ đã qua rồi. Thế hệ này là của quốc gia. Thử hỏi trong đám thanh niên mới lớn lên này, có ai còn chút xíu nào hình ảnh của cách mạng không?
Anh đứng bật dậy đáp:
- Có! Có nhiều.
Anh yêu cầu một viên phấn trắng rồi tiến đến cái bảng đen vẽ rất nhanh một chân dung Bác Hồ, không quên ghi hai câu thơ mà anh đã thuộc làu dưới bức tranh anh bộ đội đã tặng cho gia đình năm trước…
Đồng báo hoan hô vang dậy… Trong những năm bị bắt bị đày ra Côn Đảo, anh vẫn vẽ hình Bác lên mặt đất, mặt cát để anh em nhìn Bác cho đỡ nhớ. Năm 1973, anh mới được trao trả tại Bồng Sơn, Bình Định…
Không biết anh tên thật là gì? Hiện có còn và sống ở đâu?
8. Cán bộ đấy
Năm 1950, Bác Hồ lên đường ra chiến dịch. Là Chủ tịch nước, tuy tuổi đã 60, nhưng Bác không muốn chỉ ở hậu phương chăm lo công việc. Bác thương chiến sĩ, thương dân công, muốn giúp đỡ bộ đội, cán bộ, để giành thắng lợi chắc chắn cho “chiến dịch quan trọng này” nên Bác ra mặt trận. Tự coi mình là một chiến sĩ, Bác từ chối không đi ngựa, Bác tự mang vác lấy đồ dùng, tài liệu, tìm lá ngụy trang, đào hố… coi đó là quyền được lao động của mình.
Dân công ra tiền tuyến, vai người nào cũng khiêng đạn nặng trĩu, gánh sọt lương thực oằn đòn gánh. Và ai cũng còn quấn quanh mình một ruột tượng gạo to.
Bộ đội thì vai vác súng, quàng thêm bao gạo, lưng còn đeo nào lựu đạn, nào túi đạn…
Một buổi sáng, đoàn “phụ tử binh” của Bác gặp một người. Anh ta đeo một xà cột nhỏ, bên sườn là một khẩu súng ngắn. Sau lưng là một chiếc ba lô, vừa nhỏ, vừa xinh, vừa lép kẹp. Một mảnh vải dù phấp phới.
Trên vai, tay vung vẩy một chiếc gậy nhỏ. Không thấy quấn bao gạo: Anh ta bước nhẹ tênh.
Bác dừng lại, nhìn theo người đó, vẻ mặt không vui. Hồi lâu, Bác nói:
- Cán bộ đấy!
Đồng chí Đội trưởng cảnh vệ nhìn Bác vừa thương Bác vừa xót xa cho cái ông cán bộ, không biết làm gương, không làm được điều mà đến như Chủ tịch nước vẫn đang làm khi đã là một người lính ra mặt trận!
9. Tâu bệ hạ
Năm 1958, một nhà điêu khắc người Đức chuyên nặn tượng các chiến sĩ cách mạng được Bác Hồ đồng ý mời làm việc ở Phủ Chủ tịch. Cùng được nặn tượng Bác có mấy họa sĩ.
Các họa sĩ Việt Nam, người cao vừa phải nên đi lấy thước đo, ngồi vẽ… cũng vừa tầm nhìn lên chỗ Bác. Duy có anh bạn nước ngoài vì đưa luôn dụng cụ nghề nghiệp làm ngay tại chỗ, người lại cao lớn nên tư thế làm việc không được thoải mái, luôn luôn phải còng lưng xuống, nhìn phải, nhìn trái, nghiêng nghiêng, ngó ngó.
Sau ngày đầu làm việc, thông cảm với bạn, các đồng chí Việt Nam mang một cái bục, đặt bộ bàn ghế của Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đấy. Nhà điêu khắc Đức ngắm nghía mãi, ước lượng tầm nhìn, phấn khởi lắm.
Sáng hôm sau, tốp họa sĩ định đến thật sớm để “trình bày” với Bác, nhưng khi đến nơi đã thấy Chủ tịch có mặt ở nơi làm việc rồi.
Đặt một chân lên bục, Bác vui vẻ hỏi các họa sĩ:
- Các chú có biết ngày xưa người ta xưng với vua thế nào không?
Chẳng hiểu câu chuyện đi về đâu mà lại dẫn đến “Vua” thế này, nên các vị khách đều lúng túng. Mãi sau, họa sĩ Trần Văn Cẩn cũng trả lời được:
- Thưa Bác, thần dân xưng với vua là “tâu bệ hạ” ạ.
Bác gật đầu rồi lại hỏi: - Thế các chú muốn Bác “làm vua” hay sao mà lại mang “cái bệ” này đến?
Biết rằng Bác nói vui nên tất cả đều im lặng, trong bụng nghĩ rằng có lẽ rồi Bác cũng thông cảm cho.
Bác nói tiếp:
- Các chú nên nhớ rằng dù là Chủ tịch nước Bác cũng chỉ là đầy tớ của nhân dân, phải phục vụ nhân dân vô điều kiện.
Nhìn về phía các họa sĩ Diệp Minh Châu, Trần Văn Lắm và anh bạn điêu khắc người Đức đang lo ngại, Bác vui vẻ nói với cả đoàn:
- Thôi, để các chú vui lòng, Bác cũng “thượng đế”.
10. Đừng buộc mọi người phải làm theo ý mình
Thanh niên là tờ báo do Bác Hồ sáng lập, chủ biên, quán lý và tổ chức phát hành tại Quảng Châu trong những năm 1926-1927.
Thanh niên số 65 có đăng bài “Hy sinh” mà các nhà nghiên cứu sơ bộ kết luận là do Bác viết. Tring bài có đoạn : “ làm cách mạng phải hy sinh, hy sinh quyền lợi… hy sinh ý kiến. Đã ra làm việc công mà còn giữ tình riêng thì chưa biết hy sinh”.
Nhiều cán bộ cấp cao đến anh em chiến sĩ cảnh về đều nhận thấy: “Bác chẳng hề ép buộc ai theo ý riêng của mình”. Phải chăng đó là tầm vóc tư duy cao cả của Bác? Là lòng nhân từ bao dung độ lượng? Là sự tôn trọng thật lòng “dân chủ” đối với người khác? Là sự dám hy sinh, biết hy sinh?
Một lần Bác đến thăm công trường Việt trì. Ánh nắng đầu xuân bừng sáng sau một cơn mưa nhẹ, Bác bước đi khoan thai, đẹp là thế, anh cán bộ nhiếp ảnh chạy theo, quay đi quay lại vẫn chưa “ghi” được kiểu nào. Anh ta chạy đến Bác, kéo áo Bác, xin phép Bác dừng chân để chụp ảnh. Nhiều người đi theo xì xào “sao làm thế”, “gan to thật”
Bác tươi cười, nhẹ nhàng nói:
- Việc Bác, Bác làm. Việc chú, chú làm. Sao chú lại bắt Bác làm theo ý chú? - Tuy nói vậy mà Bác vẫn thương. Bác dừng lại nghe một kỹ sư báo cáo. Anh cán bộ nhiếp ảnh chụp được cả ảnh, được cả một bài học nhớ đời.
Trích trong 120 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh