Không gian văn hóa Hồ Chí Minh
0 0 0 2 3 3 1 2 9 3
Đang online:
9
Hôm nay :
506
Hôm qua :
1,975
Tuần này :
5,138
Tuần trước :
6,389
Tháng này :
8,562
Tháng trước:
33,492
1/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Là người bảo vệ Bác, tôi thấy Bác có thói quen làm việc rất đúng giờ. Bác chủ động đặt ra thời gian làm việc và thi hành nghiêm túc không thay đổi giờ giấc sinh hoạt, kể cả mùa đông. Hằng ngày Bác dậy từ 5 giờ, 5 giờ 15 tập thể dục, 6 giờ ăn sáng sau đó Bác bắt đầu làm việc, vì vậy người phục vụ Bác cũng rất dễ dàng.
Có một lần ở Việt Bắc, Bác đang ốm, đúng 7 giờ sáng Bác nói:
Các chú chuẩn bị đưa Bác đi họp Hội đồng Chính phủ.
Tôi ngạc nhiên, vì thấy Bác đang ốm không dậy được. Thế nhưng Bác nói bằng mọi cách Bác phải đi họp. Chúng tôi đành phải chuẩn bị cáng đưa Bác đi. Khi đi Bác dự tính sẽ đi đường trong bao lâu để kịp giờ họp. Vì vậy Bác đến rất đúng giờ.
Bác làm việc suốt ngày, ngày thường cũng như chủ nhật. Sau mỗi bữa ăn, Người nghỉ một lát rồi làm việc ngay. Những việc mà Bác đã định trong kế hoạch đều giải quyết hết.
Buổi sáng Bác giải quyết những công văn giấy tờ hôm trước để đồng chí giao liên mang đi. Tiếp đó, Bác tranh thủ đọc các tác phẩm kinh điển. Khi giao liên về Bác xem công văn, xem xong ngồi viết, đánh máy, suy nghĩ để trả lời các nơi.
Phòng làm việc của Bác ở Việt Bắc có khi chỉ là chiếc chiếu trải xuông sàn nhà, những gì phải viết Bác để lên đùi. Bài viết nào dài Bác đánh máy. Vì vậy, những bài viết dài thường có bản thảo đánh máy. Những lúc mỏi, Bác kéo võng nằm suy nghĩ rồi lại dậy đánh máy tiếp. Khi xong công việc Bác đọc báo. Báo đến nhiều, Bác xem rất nhanh, xem xong để ra bên cạnh, sau đó gấp lại cho người chuyển đi. Bác xem báo nhanh nhưng rất kỹ. Những mục cần đọc, Bác không bỏ qua.
Công việc xong mà chưa đến giờ ngủ Bác lại đọc sách, báo. Chủ nhật, ngày lễ cũng có chương trình. Vì vậy không mấy khi Bác có thời gian rảnh. Có những chủ nhật có người đến thăm, hỏi tôi tại sao các cậu không đưa Bác đi chơi, chúng tôi nghĩ: Bác làm việc gì đều đã có chương trình, chúng tôi đâu dám tự ý mời Bác đi.
Bác không muốn ai ngồi chơi không. Có những lần hết giờ gác, chúng tôi nằm tán chuyện với nhau. Lúc giải lao Bác đi thăm anh em. Một hôm Bác gặp tôi đang nằm chơi, Bác nói:
- Các chú không có việc gì làm à? Nếu không có thì mang chiếc giường dỡ ra rồi lắp lại, nếu còn thì giờ nữa thì ra ngoài kia vật nhau hay tăng gia. Ý Bác muốn nói là phải tìm việc mà làm, không nên ngồi tán gẫu..
Bác có nếp sống rất gọn gàng. Bác nói: Trong lúc kháng chiến, các chú phải luôn luôn gọn gàng, lúc có lệnh là đi ngay. Nghe lời Bác chúng tôi mỗi người 1 ba lô, sẵn sàng khi có lệnh là đi.
Gọn gàng là thói quen của Bác nên phòng làm việc của Bác không bao giờ trang trí cầu kỳ; chỉ có một chiếc chiếu và một chiếc máy chữ. Bàn làm việc có một đèn dầu, một bút chì, một bút mực, một ít giấy và phong bì. Giấy tờ, sách báo sau khi đọc và dùng xong Bác đều cho mang xuống văn phòng.
*Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm:
Bài học sâu sắc từ “MỘT NGÀY LÀM VIỆC CỦA BÁC” là vận dụng một cách linh hoạt vào đời sống kể cả trong công tác cũng như trong cuộc sống đời thường. Câu chuyện về Bác vừa thể hiện sự mẫu mực, vừa là lời nhắc nhỡ phê bình nhẹ nhàng rằng chúng ta cần học Bác qua từng công việc làm cụ thể, thiết thực trong cuộc sống, trong công tác làm việc.Chúng ta phải biết sử dụng thời gian sao cho hiệu quả, mỗi người cần rèn luyện cho mình thói quen sống, làm việc đúng giờ, một tác phong, nếp sống công nghiệp. Việc tận dụng thời gian một cách có hiệu quả sẽ giúp chúng ta sống hữu ích, tận dụng hết mọi thời gian để làm việc để tạo ra kết quả và hiệu quả tối ưu là góp phần tiết giảm chi phí, tăng năng suất lao động tạo ra của cải vật chất cho bản thân, cho gia đình chúng ta, cho Công ty; cùng chung sức, chung lòng đóng góp sức lực trí tuệ xây dựng Công ty phát triển, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới đất nước. 1/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Vốn có vẻ mặt nghiêm nghị, khiến một số người mới gặp phải e ngại, nhưng nhờ một câu nói của Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thay đổi khi luôn nở nụ cười trên môi.
Người Anh cả của Lực lượng Vũ trang Việt Nam, Đại tướng đầu tiên, Tổng Tư lệnh tối cao Quân đội nhân dân Việt Nam Võ Nguyên Giáp qua đời ngày 4/10 để lại niềm tiếc thương vô hạn cho nhân dân Việt Nam và bạn bè yêu hòa bình trên thế giới.
Đi qua hai cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một trong những biểu tượng quân sự lỗi lạc, biểu tượng cho tình yêu hòa bình đã để lại cho thế hệ ngày hôm nay một gia tài chiến lược quân sự đồ sộ, tài tình, với lòng nhân ái và yêu thương con người vô bờ bến.
Được sự đồng ý của gia đình nhà văn Hữu Mai, Báo Điện tử VTC News xin trân trọng giới thiệu đến độc giả một số trích đoạn của tác phẩm ‘Không phải huyền thoại’ - cuốn sách lịch sử đầu tiên về Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Pháp và cao trào chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành.
“Không phải huyền thoại” là cuốn sách lịch sử đầu tiên về Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Pháp và cao trào chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Người đọc từng biết đến hình ảnh vị Đại tướng tổng tư lệnh qua những văn bản lịch sử, những hồi ký và những thước phim tư liệu.
Song phải đến “Không phải huyền thoại”, chân dung của ông mới hiện lên như một nhân vật văn học trọn vẹn, với những ưu tư và trách nhiệm của một con người được lịch sử chọn.
Câu trả lời vì sao Việt Nam thắng trận Điện Biên Phủ rút cục đã có câu trả lời, nhưng điều khiến “Không phải huyền thoại” vượt ra khỏi khuôn khổ biên niên sử bình thường ở chỗ còn lột tả được khía cạnh khắc nghiệt của chiến tranh. Khốc liệt ở chiến hào, quyết liệt ở trên những căn hầm sở chỉ huy và không khoan nhượng ở bàn nghị sự quốc tế.
Số phận của một xu thế chính trị rơi vào những thời điểm quyết định, và người cầm quân phải thỏa mãn được đáp số kép: Phương án đúng và thời điểm đúng.
Phía sau những chiến thắng vẻ vang là những tâm sự gì, Hữu Mai đã tìm được câu trả lời đầy sức nặng qua hình tượng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người được đài CNN nhận định là ‘một trong số những hình tượng quan trọng nhất trong thời kỳ đầu lịch sử nước Việt Nam cộng sản.’ - Lời Nhà xuất bản.
Một phác thảo chân dung
Một người dáng vẻ rất giản dị. Một bộ mặt cởi mở. Còn hơn một người anh hùng. Tướng Giáp. Ông thuộc dòng những chiến sỹ mà người ta sẽ kể những chiến công từ thế hệ này qua thế hệ khác. - Trích xã luận của tờ El moudjahd, xuất bản tại Alger ngày 4/1/1976.
Nụ cười Bác tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Một tối mùa Đông năm 1970, theo triệu tập của Văn phòng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tôi tới làm việc tại nhà riêng.
Sáu năm trước đó, đầu tháng 4 năm 1964, tôi là một nhà văn quân đội được Tổng cục Chính trị cử tới giúp Đại tướng ghi lại một vài kỷ niệm về Điện Biên Phủ để in vào cuốn hồi ức được xuất bản nhân dịp kỷ niệm mười năm chiến thắng lịch sử.
Chẳng cần nói tôi đã hồi hộp như thế nào khi lần đầu được trực tiếp gặp đồng chí Tổng tư lệnh, ước mơ của không ít những nhà văn viết về chiến tranh. Tôi chỉ có một tháng để viết khoảng một trăm trang in. Công việc hoàn thành đã mang lại cho tôi may mắn được tiếp tục làm việc với Đại tướng một thời gian dài.
Người chiến sỹ cảnh vệ đưa tôi vào phòng khách. Đồng chí Chánh văn phòng không có mặt. Tôi biết đây không phải là buổi làm việc chính thức. Trong lúc ngồi đợi, tôi băn khoăn không hiểu Đại tướng gọi tới vì việc gì.
Anh Văn từ phòng trong đi ra. Anh vẫn mặc quân phục. Nụ cười tươi làm bộ mặt anh sáng rỡ. Tôi nhìn thấy anh cười lần đầu trong cuộc duyệt binh của tự vệ thành tại Nhà Đấu xảo Hà Nội năm 1946.
Nụ cười này là của Bác tặng cho anh. Anh Văn vốn có vẻ mặt nghiêm nghị, khiến một số người mới gặp phải e ngại. Anh đã kể với tôi, sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945, anh làm việc ở Bắc Bộ Phủ, một hôm Bác nhìn anh, rồi hỏi:
- Sao chú Văn lúc nào cũng có vẻ mặt như đang giận ai ?
Từ đó anh hay cười. Nụ cười góp phần cho những buổi làm việc rất có hiệu suất.
Tôi đứng lên chào, rồi hỏi:
- Thưa anh, anh mới ở trong Thành về.
Anh nói :
- Có một vài việc phải giải quyết gấp, ngày mai tôi đi Liên Xô...
Tôi hơi bị bất ngờ. Vì mỗi lần thủ trưởng Bộ ra nước ngoài đều có một thời gian chuẩn bị, gần đây không thấy ai nói chuyện này.
Anh nói tiếp :
- Hôm vừa rồi, Quân Y viện 108 phát hiện ở hàm tôi có một cái nhân. Điện hỏi ý kiến Liên Xô, bạn bảo cần sang ngay.
Tôi bàng hoàng. Nếu có chuyện không may đến với anh giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra quyết liệt...! Với cán bộ, chiến sỹ trong toàn quân, Tổng Tư lệnh chính là linh hồn của quân đội.
Chị Bích Hà cũng ở phòng trong đi ra. Khác với mọi lần, đôi mắt chị lộ vẻ ưu tư. Tôi hỏi chị :
- Chị cũng đi với anh ?
Chị nhè nhẹ gật đầu.
Người phục vụ đưa ra ba bát chè sen nhỏ. Anh Văn chỉ ăn hết nửa bát. Chị Hà im lặng cầm bát chè của anh ăn tiếp. Anh Văn không nói gì về công việc. Tôi biết cuộc gặp không kéo dài, anh chị còn phải chuẩn bị cho chuyến đi ngày mai.
Khi tôi sắp ra về, anh Văn chỉ vào miệng:
- Ở vị trí này, thường là rất nhanh. Nếu qua kiểm tra ở Liên Xô, đúng là có chuyện..., tôi sẽ bàn với anh làm gấp một đôi việc.
Tôi biết anh có điều muốn nhắn gửi lại cho mai sau.
Anh chìa tay cho tôi khi chia tay. Tôi lo lắng nắm tay anh:
- Cầu mong là sẽ không có chuyện gì...
Anh mỉm cười, nụ cười lúc nào cũng tươi, như để an ủi tôi.
Nhưng rồi chỉ vài tuần sau, anh đã trở về. Anh cho biết khi máy bay mới tới Tasken, địa đầu Liên Xô, một đoàn bác sỹ của bạn đã tới đón tại phi trường.
Đồng chí Trưởng đoàn chăm chú ngắm nhìn anh, rồi nhận xét: “Với thần sắc của Đại tướng, tôi cam đoan là không có chuyện đó”. Và qua kiểm tra rất kỹ lưỡng, đúng là không có chuyện gì.
Chuyện này qua đi, không ai chú ý. Riêng tôi cứ nhớ mãi. Đây là lần đầu, tôi trực tiếp chứng kiến anh đối mặt với một ‘tai biến’ (cũng may, đó chỉ là sự lầm lẫn).
Sao một con người có thể thanh thản đến như vậy ? Và sau này, tôi có dịp chứng kiến thái độ của anh trước những thử thách trong chiến tranh, trong cuộc sống, có trường hợp vượt quá sức chịu đựng của con người, anh đều có một thái độ cực kỳ bình thản. Nhưng, như lời anh nói: ‘Sau lúc đó, thì tôi mệt'. Cái mệt chỉ đến sau với anh.
Đây là một đức tính rất lạ ở anh. Đức tính góp phần giúp anh vượt khó trong cuộc hành trình xuyên thế kỷ.…
“Dĩ công vi thượng”
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ Tám năm 1941 tại Cao Bằng, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền.
Võ Nguyên Giáp được Bác trao nhiệm vụ đi xây dựng cơ sở cách mạng, thành lập những Hội Cứu quốc ở Cao Bằng.
Những đồng chí ở địa phương rất thương anh cán bộ nước da mỏng như da con gái, đôi chân trần chưa có một vết chai, lội suối sâu giá buốt, trèo núi đá tai mèo nhọn sắc, và họ ngại ngùng trong những đêm đông lạnh cùng đắp chung với anh chiếc chăn sui.
Anh học tiếng Tày, tiếng Mán, tiếng Mông, dịch ‘Việt Minh ngũ tự kinh’ (chương trình Việt Minh bằng thơ năm chữ) thành tiếng địa phương để đồng bào vừa cán bông, giã gạo vừa hát.
Những nơi anh tới, phong trào phát triển rất nhanh. Địch phản ứng quyết liệt. Có lần anh đang công tác tại bản Nà Dú thì địch tới cản quét truy lùng cán bộ cách mạng.
Bác cử người đến bảo anh trở về căn cứ. Anh đề nghị Bác cho ở lại cùng đồng bào chèo chống qua cơn nước lửa. Rồi Bác trao nhiệm vụ cho anh mở con đường Nam tiến qua vùng địch chiếm, bắt liên lạc với miền xuôi, trước hết là hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang.
Anh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ khó khăn này. Một lần, anh Phạm Văn Đồng ở lại với Bác tại khu căn cứ, kể lại với anh: ‘Bác nói: Chú Văn công tác rất tốt’.
Năm 1942, Bác ra nước ngoài gặp Đảng Cộng sản Trung Quốc, trên đường đi bị Quốc dân đảng vu cho là Hán gian, bắt giam một thời gian dài.
Tại Cao - Bắc - Lạng, phong trào cách mạng phát triển rất sôi nổi, rộng khắp. Địch lo sợ, tiến hành khủng bố trắng. Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng quyết định khởi nghĩa để bảo vệ phong trào.
Tháng 9/1944, chỉ còn chờ qua mùa gặt, đồng bào thu hoạch thóc lúa xong, thì cuộc khởi nghĩa sẽ bắt đầu. Giữa lúc đó, có tin Bác thoát khỏi ngục tù Quốc dân đảng trở về. Đồng chí Vũ Anh và anh Văn lên Pác Bó gặp Bác.
Đồng chí Vũ Anh báo cáo với Bác về tình hình Cao - Bắc - Lạng và quyết định của Liên tỉnh ủy muốn tiến hành khởi nghĩa. Bác cân nhắc rồi nói là điều kiện tổng khởi nghĩa chưa chín muồi.
Nếu bây giờ khởi nghĩa đơn độc nổi lên ở Cao - Bắc - Lạng nhất định kẻ địch sẽ tập trung lực lượng đàn áp. Hiện nay không thể tiếp tục đấu tranh theo phương thức hòa bình mà phải từ hình thức chính trị tiến lên quân sự. Chính trị còn trọng hơn quân sự.
Ta sẽ lập Đội quân giải phóng, lúc đầu chỉ cần tổ chức một lực lượng nhỏ. Dùng hình thức vũ trang gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong quần chúng, sau đó mở rộng, phát triển dần lên.
Theo lời anh kể lại, anh hoàn toàn bất ngờ khi được Bác hỏi:
- Việc này anh trao cho chú Văn. Chú Văn có làm được không?
Anh trả lời ngay:
- Thưa Bác, có thể được.
Sự thay đổi này cũng dễ hiểu. Từ sau khi có Nghị quyết 8 của Trung ương, suốt bốn năm qua, anh đã trực tiếp tham gia công cuộc chuẩn bị tổng khởi nghĩa ở Cao - Bắc - Lạng, và đã được thực tế rèn luyện, đấu tranh võ trang là phần quan trọng trong chương trình chuẩn bị khởi nghĩa mà mọi người đã từ lâu chuẩn bị.
Bác hỏi tiếp:
- Mình còn yếu, địch mạnh, nhưng nhất định không để địch tiêu diệt mình như thế có được không?
- Thưa Bác, nhất định kẻ địch không thể tiêu diệt ta được.
Anh đã nghĩ đến lực lượng cách mạng bị địch khủng bố rất gắt gao những năm qua vẫn tồn tại thì đội quân cách mạng đầu tiên sẽ không thể bị chúng tiêu diệt.
Bác đặt tên đội quân chủ lực đầu tiên là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.
Võ Nguyên Giáp được trao nhiệm vụ đơn giản như vậy. Lúc này, anh cũng chưa hiểu hết những kỳ vọng Bác đặt vào đội quân nhỏ bé này.
Đêm hôm đó, anh ở lại với Bác tại hang Pác Bó. Hai người trao đổi tới khuya về đội quân sắp ra đời. Câu chuyện rất hào hứng khi bàn về tiền đồ của đội quân.
Bác vẫn trầm ngâm rồi nói: Người làm cách mạng phải ‘dĩ công vi thượng’ (đặt lợi ích chung lên trên hết). Sau này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thường nói: “Dĩ công vi thượng, suốt đời vì nước vì dân, không mảy may có chút suy nghĩ nào khác, là đạo đức cao cả nhất của người cách mạng. Tôi nhớ mãi câu này của Bác và phấn đấu suốt đời để làm theo”./. 1/12/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Bác Hồ luôn chú ý việc phát triển thanh niên nói riêng và con người Việt Nam nói chung một cách toàn diện. Bản thân Bác rất gương mẫu rèn luyện, trong đó có rèn luyện sức khỏe. Sinh thời, Bác bốn lần học võ...
Anh quốc là quê hương của phong trào hướng đạo thế giới (phong trào do Huân tước Baden Powell sáng lập năm 1907).
Trong thời gian ngắn ở London, nhận thấy tổ chức này có thể có ích về sau để tập hợp thanh thiếu niên vào tổ chức giáo dục, rèn luyện nhiều mặt, khơi dậy lòng yêu nước, yêu thiên nhiên, gắn bó trong cộng đồng bình đẳng..., Bác Hồ đã tham gia, là hướng đạo sinh đầu tiên của Việt Nam.
Ngày 31/5/1946, Người gửi thư nhận lời làm Chủ tịch danh dự của Hội Hướng đạo Việt Nam.
Cựu Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục đầu tiên của nước ta Vũ Đình Hòe trong hồi ký có kể năm 1948, một lần sau cuộc họp Hội đồng Chính phủ có đốt lửa trại. Trại trưởng Hoàng Đạo Thúy giới thiệu Chủ tịch danh dự khai lửa. Mọi người hết sức ngạc nhiên khi thấy Bác bước ra vừa đi vừa múa hát bài “Hướng đạo ca”: Anh là anh hùng xưa, nhớ hồi là hồi niên thiếu, dấy binh lấy lau làm cờ….
Ông Vũ Kỳ (1921 - 2005), thư ký riêng của Bác, có lần nói vui: “Bác Hồ có võ đấy! Võ Tây thì học từ năm 1913 ở bên Anh, võ Tàu năm 1925, còn võ ta thì...”.
Năm 1925, ở Quảng Châu
Sau nhiều lần đề nghị được về gần Tổ quốc để hoạt động gắn với phong trào trong nước, ngày 25/9/1924, Bác nhận được quyết định của Quốc tế Cộng sản cho phép rời Mátxcơva về Quảng Châu - Trung Quốc.
Trên danh nghĩa công khai Người lấy tên Lý Thụỵ dân địa phương làm phiên dịch cho Trưởng phái bộ Liên Xô M.M. Bôrôđin, cố vấn chính trị bên cạnh Tổng thống Trung Sơn và là phóng viên của hãng Rosta Cục Thông tin Liên Xô. Trong tổ chức mang bí danh Đồng chí Vương.
Khoảng mươi năm trước đây có một bài báo Tết viết về Bác Hồ học võ. Cố Thiếu tướng Cục trưởng Cục Cảnh Vệ Bộ Công an Hoàng Hữu Kháng nhắc lời Bác: “Ngày trước ở nước ngoài Bác cũng tập võ để luyện sức khỏe...”.
Được hỏi, ông Vũ Kỳ cho biết, đây là thời gian thuận lợi nhất Bác đã tranh thủ nghiên cứu lịch sử, văn hóa Trung Quốc, học thêm tiếng Hoa và học võ thuật rất bài bản. Điều này giải thích lý do sau này Bác tập võ rất nhanh và mọi động tác tiến thủ đều rất điêu luyện.
Đó là do Người hết sức tận dụng hoàn cảnh thuận lợi trong Trường Quân chính Hoàng Phố có các đồng chí sinh hoạt cùng chi bộ trong Đảng Pháp ở Paris từ năm 1921 như Chu Ân Lai, Bành Bái, rồi Trương Thái Lôi đi cùng chuyến từ Mátxcơva về đây với Bác, và các chuyên gia Liên Xô giúp đỡ, nhận người của ta vào học từ lớp đầu như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn…Chính số anh em này đi học về dạy lại cho Bác.
Năm 1945, trên nóc Bắc Bộ Phủ
Tình hình tại Hà Nội từ sau ngày 9/9/1945 càng hết sức căng thẳng vì có thêm đội quân ô hợp của Trung Hoa Quốc dân đảng sang nước ta để giải giáp quân đội Nhật hoàng.
Chúng còn mưu đồ “Hoa quân nhập Việt cầm Hồ”, đem theo lũ Việt gian trong hai đảng Việt quốc, Việt cách nhằm lật đổ Chính phủ Hồ Chí Minh. Những vụ bắt cóc, ám sát cán bộ xảy ra ngày ngày.
Tòa khâm sứ cũ, 12 Ngô Quyền là điểm ngắm số một của đủ loại gián điệp các nước. Việc bảo vệ tuyệt đối an toàn cho lãnh tụ được Trung ương đặc biệt chú ý...
Riêng Bác, đã lâu chỉ quen tập thể dục thể thao, để “quân tử phòng thân”, Người đề nghị anh Kháng, tức Lý, xem có bài quyền nào dễ hướng dẫn cho Bác cùng tập. Anh Lý lĩnh ý, Bác cháu sẽ tập bài Bát bộ liên hoa quyền.
Anh nghĩ tuổi Bác đã 55, tập nhanh cũng phải mất một tuần. Nhưng không ngờ, Bác cháu trên sân thượng, sáng từ 5 giờ, tối lúc trăng lên, chỉ 3 ngày Bác đã lắp ráp, lướt những đường quyền mềm mại, nhanh nhẹn, rồi lại đột nhiên trụ vững các thế: Thái Sơn áp đỉnh, Độc cước phi thân…
Những năm trên chiến khu Việt Bắc, sáng, tối, sau bài tập thể dục, Bác vẫn luyện các bài quyền, và động viên, hướng dẫn cả các vị bộ, thứ trưởng cùng tập. Khó có ai không tập theo lời Bác.
Năm 1955, trong Phủ Chủ tịch
Ở Hà Nội điều kiện đã tốt hơn nhưng tuổi Bác đã 65. Trung ương đề nghị Bác, mời một chuyên gia Trung Quốc sang hướng dẫn môn tập hiện đại, phù hợp.
Vậy là tối tối, 8 giờ, trong Phủ Chủ tịch, trên bãi cỏ khuất sau vườn cây, Giáo sư Cố Lưu Hinh từ ngoài phố Phan Đình Phùng đi vào đã thấy có mặt Bác. Người trong bộ đồ lụa nâu đứng chắp tay chào sư phụ đúng luật nhà võ.
Bác học rất nhanh, chỉ nhìn thầy hướng dẫn một lượt là tập theo chuẩn xác. Cố giáo sư hết lời khen ngợi: Hiếm thấy!, Hiếm thấy!...
Hôm chia tay sư phụ, Bác mời cơm cảm tạ. Trước khi vào bữa, Bác chủ động đề nghị được “biểu diễn thu hoạch” đợt học để sư phụ phê bình. Giáo sư cúi đầu, chắp tay: “không dám!”, “không dám”, chỉ xin Chủ tịch, nếu được, cho xem bài Thái cực quyền do chính Người tự biên cho phù hợp với mình.
Bác đi bài quyền nhẹ nhàng, uyển chuyển hết sức điêu luyện. Khi vào thế kết thúc thu thân vái chào, vị giáo sư vội đứng lên chắp tay: Hấn hảo! Chuẩy hảo! Chinh phục Chủ xị! (Rất tốt! Cực tốt! Kính phục Chủ tịch!)…
Ông Vũ Kỳ cho biết, khi làm bất cứ việc gì, dù nhỏ hay lớn, Bác đều có kế hoạch và chủ trương 1- biện pháp 10. Như tập võ, Bác luôn nhớ các động tác rồi vẽ ra, dán lên chỗ dễ thấy, càng thuộc nhanh và nhớ lâu.
Ông còn “tiết lộ”: chỉ các vị công phụ tập luyện các môn pháp ở trình độ cao mới biết các thế võ điêu luyện thể hiện cái thần của từng tư thế chính là sự nhuần nhuyễn của pháp thiền động trong bất kỳ trường phái dưỡng sinh hay võ thuật nào mà Bác Hồ đã đạt tới trình độ đó do Người kiên trì rèn tập lâu năm phối hợp giữa luyện Khí - Tâm - Hình - Thở theo thuyết lý Thiên Địa Nhân nhất thể của phương Đông.
Vì vậy, Bác mới được tổ chức Khoa học giáo dục và Văn hóa thế giới UNESCO tôn vinh là Nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại - một vĩ nhân uyên thâm văn hóa Đông Tây kim cổ. 30/11/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Tháng Năm về, lắng nghe nhịp bước đi chuyển mình của đất nước, chúng ta càng nhớ đến Bác, nhớ những hình ảnh của Bác Hồ với nông dân, những tình cảm và những tôn vinh đẹp đẽ của Bác về Nông dân – Những người đầu tiên khai phá và dựng nên đất nước Việt Nam tươi đẹp như ngày hôm nay.
Thế nhưng, hơn lúc nào hết, nông dân, đất đai, nông nghiệp và nông thôn lại đang rộ lên nhiều vấn đề nóng bỏng, Bên cạnh Chương trình xây dựng Nông thôn mới đang triển khai khá rầm rộ khắp cả nước,vấn đề đất đai lại có nhiều mâu thuẫn, nhiều xung đột, nhiều vụ khiếu kiện của nông dân như hiện nay. Vụ gần đây nhất là thắng 4/2017 tại xã Mỹ Đức-Đồng Tâm-Hà Nội liên quan đến việc khiếu nại và trách chấp đất đai giữa nông dân với chính quyền địa phương… Theo số liệu của cơ quan Thanh tra Chính phủ thì đất đai chiếm đến 70% số đơn khiếu kiện. Về nguyên nhân các vụ khiếu kiện, Tổng Thanh tra Chính phủ nhận định: “Có sự chênh lệch quá lớn giữa giá bồi thường và giá thị trường hoặc giá bán của nhà đầu tư bán, chuyển nhượnglại cho người khác nên người dân không nhất trí với phương án bồi thường”. Các nhà quản lý, các nhà khoa học đang có nhiều trao đổi rộng rãi và sôi nổi về nguyên nhân sâu xa của tình trạng này. Chưa có kết luận nào được khẳng định với một sự đồng thuận cao bởi các lập luận khoa học và chứng cơ thực tiễn nhưng có một thực tế là có một bộ phận không nhỏ nông dân không còn đất đai để sản xuất, đang bị bần cùng hóa và chưa thể hòa nhập vào công cuộc đô thị hóa quá nóng như hiện nay. Nếu không nói đến nhu cầu đất cho các công trình an ninh - quốc phòng quốc gia, các công trình phát triển kinh tếlớn của nhà nước, các công trình phúclợi… thì rất nhiều đất đã rơi vào tay một bộ phận các nhà đầu tư, các thương gia. Họ đã trở thành địa chủ thời mới. Lợi dụng luật pháp, chính sách, cơ chế quản lý đất đai một số vấn đề còn nhiều bất cập của Nhà nước ta hiện nay, các nhà tư bản đã “tích lũy” một cách rất dễ dàng và có lúc “thuận lợi” đến khó hiểu?!. Dù muốn hay không, sự liên hệ của các “địa chủ mới” với một số cán bộ thoái hóa biến chất là điều có thật ở một số dự án, gây thiệt hại cho nông dân và làm cho xã hội bất bình, bất an.
Bây giờ là Tháng Năm, chúng ta đang chuẩn bị các hoạt động kỷ niệm 127 năm ngày sinh nhật Bác (19/5/1890-19/5/2017). Tháng mà trước lúc đi xa Bác đã cho ban hành Điều lệ hợp tác xã nông nghiệp, rồi Bác dặn phải có Ngày Nông dân; Và trong Di chúc để lại, Bác dặn phải miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho nông dân sau ngày kháng chiến thắng lợi.
Điều mà chúng ta cần phải nhớ là Bác Hồ luôn đánh giá cao và tôn trọng vai trò của giai cấp nông dân. Người khẳng định nông dân là lực lượng đông đảo nhất của phong trào dân tộc, là cơ sở cho các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Giai cấp nông dân Việt Nam luôn giữ một vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời cho đến nay, giai cấp nông daanh đã phát huy sức mnạh vốn có của mình, cùng với giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức góp phần to lớn vào sự nghiệp chống Pháp, chống Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc . Trong Sách lược cách mạng của Đảng, Bác viết: “ Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến.”
Bác cũng đã từng khẳng định: “Trải qua các thời kỳ, Đảng ta đã nắm vững và giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân, củng cố được liên minh công nông. Đảng ta đấu tranh chống những xu hướng “hữu khuynh” và “tả khuynh” đánh giá thấp vai trò của nông dân là quân chủ lực của cách mạng, là bạn đồng minh chủ yếu và tin cậy nhất của giai cấp công nhân, là lực lượng cơ bản cùng với giai cấp công nhân xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Đã có những lúc Đảng ta, Nhà nước ta nhận thức và giải quyết sai về vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn, điển hình là Cải cách ruộngđ ất năm năm 1954 – 1955. Nhưng Đảng ta đã kịp thời nhận ra sai lầm, và sửa chữa ngay. Nếu không có sửa sai sau cải cách ruộng đất chắc hẳn tình hình chínhtrị - kinh tế và xã hội nước ta những năm tháng chiến tranh giành độclập dân tộc sẽ khó khăn gấp nhiều lần như chúng ta đã biết. Có lẽ, đó vẫn là một bài học lớn cho hôm nay.
Dù có công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa đến mức độ nào đi chăng nữa thì cũng đừng bao giờ quên rằng tổ tiên của chúng ta là nông dân, đất nước này vẫn đang còn đến hơn 70% nông dân. Nghĩ về Bác trong những ngày tháng Năm lịch sử này, hơn ai hết mỗi một cán bộ hội viên nông dân của chúng ta càng ra sức thi đua thực hiên tốt Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về “ Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” 30/11/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Vui sao một sáng tháng Nǎm
Đường về Việt Bắc lên thǎm Bác Hồ
Suối dài xanh mướt nương ngô
Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn...
Bác kêu con đến bên bàn
Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ
Con bồ câu trắng ngây thơ
Nó đi tìm thóc quanh bồ công vǎn(1)
Lát rồi, chim nhé, chim ǎn(1)
Bác Hồ còn bận khách vǎn đến nhà(1)
Bàn tay con nắm tay cha
Bàn tay Bác ấm vào da vào lòng.
Bác ngồi đó, lớn mênh mông
Trời xanh biển rộng ruộng đồng nước non...
Bác Hồ, cha của chúng con
Hồn của muôn hồn
Cho con được ôm hôn má Bác
Cho con hôn mái đầu tóc bạc
Hôn chòm râu mát rượi hoà bình!
Ôi cái tên kính yêu Hồ Chí Minh!
Trong sáng lòng anh du kích
Nửa đêm bôn tập diệt đồn
Vững tay người chiến sĩ nông thôn
Bắt sỏi đá phải thành sắn gạo
Anh thợ, má anh vàng thuốc pháp
Cánh tay anh dày sẹo lửa gang
Ôi những em đốt đuốc đến trường làng
Và các chị dân công mòn đêm vận tải!
Các anh chị, các em ơi, có phải
Mỗi khi lòng ta xao xuyến rung rinh
Môi ta thầm kêu Bác: Hồ Chí Minh!
Và mỗi trận, mỗi mùa vui thắng lợi
Ta lớn cao lên, bay bổng diệu kỳ
Trên đường dài, hai cánh đỡ ta đi...
Bác Hồ đó, là lòng ta yên tĩnh
Ôi người cha đôi mắt mẹ hiền sao!
Giọng của Người, không phải sấm trên cao
Thấm từng tiếng, ấm vào lòng mong ước
Con nghe Bác, tưởng nghe lời non nước
Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau...
Bác Hồ đó, chiếc áo nâu giản dị
Màu quê hương bền bỉ đậm đà
Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta
Ta bỗng lớn ở bên Người một chút...
Bác Hồ đó, ung dung châm lửa hút
Trán mênh mông, thanh thản một vùng trời.
Không gì vui bằng mắt Bác Hồ cười
Quên tuổi già, tươi mãi tuổi đôi mươi!
Người rực rỡ một mặt trời cách mạng
Mà đế quốc là loài dơi hốt hoảng
Đêm tàn bay chập choạng dưới chân Người.
Hồ Chí Minh
Người ở khắp nơi nơi
Hồn biển lớn đón muôn lời thủ thỉ
Lắng từng câu, từng ý chưa thành
Người là Cha, là Bác, là Anh
Quả tim lớn lọc trǎm dòng máu nhỏ
Người ngồi đó, với cây chì đỏ
Vạch đường đi, từng bước, từng giờ...
Không gì vinh bằng chiến đấu dưới cờ
Đảng chói lọi Hồ Chí Minh vĩ đại!
Con nhớ hết mỗi lời Người dạy:
Kháng chiến gian nan, kháng chiến trường kỳ
Bác bảo đi, là đi
Bác bảo thắng, là thắng
Việt Nam có Bác Hồ
Thế giới có Xta-lin
Việt Nam phải tự do
Thế giới phải hoà bình!
Chúng con chiến đấu hy sinh
Tấm lòng son sắt, đinh ninh lời thề.
Bắt tay Bác tiễn ra về
Nhớ hoài buổi sáng mùa hè chiến khu...
Tố Hữu (Tháng 5-1951) 30/11/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Thừa Thiên Huế có hai huyện miền núi (Nam Đông, A Lưới) và 4 huyện, thị xã có xã miền núi (Phú Lộc, Phong Điền, Hương Thủy, Hương Trà) với 46 xã miền núi, trong đó có 34 xã có đồng bào dân tộc thiểu số, như: Cơ Tu, Tà Ôi, Pa Hy, Vân Kiều… với dân số 53.671 người. Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, nơi đây từng là địa bàn có vị trí địa chính trị quan trọng trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao tầm quan trọng, tiềm năng to lớn của miền núi và đồng bào miền núi. Người từng khẳng định: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mườn hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói có nhau”. Để có thể xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn xác định: Đoàn kết các dân tộc trên nguyên tắc bình đẳng, tương trợ để tranh thủ độc lập, tự do và hạnh phúc chung. Đảng nhấn mạnh: “Việc vận động các dân tộc thiểu số là một trong những công tác quan trọng vào bậc nhất của Đảng, Mặt trận và Chính phủ. Chính sách dân tộc thiểu số là một bộ phận quan trọng trong chính sách đại đoàn kết của Đảng”… Thực tiễn, trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, đồng bào miền núi nói chung, đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng đã được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều quyết sách quan trọng, có tính bước ngoặt để chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho bà con dân tộc thiểu số. Riêng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thừa Thiên Huế, trong những năm tháng gian khó và ác liệt của chiến tranh, Trung ương đã gửi tặng hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm; đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng và tổ chức đưa con em đồng bào ra miền Bắc học tập và công tác... Chủ tịch Hồ Chí Minh từng gửi thư, kỷ vật từ miền Bắc vào để động viên tinh thần, hỗ trợ lao động sản xuất cho bà con dân tộc thiểu số.
Với lòng biết ơn và niềm tin sâu sắc vào Đảng, Chính phủ và Bác Hồ. Trong chiến tranh, đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thừa Thiên Huế đã luôn trung thành và đóng góp sức người, sức của vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Theo lời hiệu triệu của Người, đồng bào nơi đây đã cùng nhau đoàn kết lại, vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh tham gia và ủng hộ các phong trào cách mạng. Con em đồng bào sẵn sàng nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ, bộ đội; hăng hái tăng gia sản xuất; tham gia tòng quân giết giặc; vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí, quân trang, quân dụng phục vụ chiến trường miền Nam; xây dựng và bảo vệ đường Hồ Chí Minh và mở các tuyến đường nối Đông - Tây Trường Sơn phục vụ chiến đấu ở khắp các chiến trường Trị - Thiên - Huế… qua đó góp sức mình giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Tình cảm thiêng liêng của đồng bào thiểu số tỉnh Thừa Thiên Huế đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện qua việc con em đồng bào dân tộc thiểu số đã tự nguyện lấy họ Hồ làm họ chung cho cộng đồng người dân tộc thiểu số; nhiều gia đình đồng bào đã để ảnh cũng như tượng Bác lên bàn thờ để thờ cùng ông bà, cha mẹ với lòng tôn kính nhất.
Ngay sau ngày đất nước độc lập, tự do; với quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong lãnh đạo thực hiện công tác dân tộc và chính sách dân tộc, Đảng và Nhà nước đề ra nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo vùng dân tộc và miền núi. Qua các kỳ Đại hội của Đảng, chính sách dân tộc được Đảng ta thực sự coi trọng theo nguyên tắc các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển. Nhiều nội dung của chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới của Đảng và Nhà nước đã được tập trung triển khai và mang lại nhiều kết quả phấn khởi.
Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, Đảng bộ và chính quyền tỉnh nhà đã quan tâm chỉ đạo, triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số qua đó góp phần đưa diện mạo kinh tế vùng miền núi của tỉnh từng bước phát triển. Tình hình kinh tế có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống người dân được nâng lên, cơ sở hạ tầng được đầu tư khá đồng bộ, nhiều công trình được xây dựng đưa vào sử dụng, như: cửa khẩu Tà Vàng - A Đớt (huyện A Lưới); công trình giao thông mở rộng tuyến đường La Sơn đi huyện Nam Đông; dự án đường cao tốc Cam Lộ - Túy Loan đi qua huyện Nam Đông; mở rộng tuyến đường Quốc lộ 49 đi A Lưới… tạo điều kiện giao lưu hàng hóa đi lại giữa miền núi, đồng bằng. Nhiều công trình trường học, trạm xá, thủy lợi, nước sinh hoạt, nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng, các thiết chế văn hóa được đầu tư xây dựng. Thu nhập và mức sống đồng bào dân tộc thiểu số tăng lên rõ rệt, không còn hộ thiếu đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 16,40%; có 08 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; chất lượng và hiệu quả giáo dục ngày càng được nâng cao. Hầu hết các đồng bào nghèo vùng sâu, vùng xa đều được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe; các dịch bệnh vùng dân tộc được loại bỏ. Hoạt động văn hóa, thể thao có những chuyển biến tích cực, duy trì và nâng cao chất lượng Ngày hội văn hóa, thể thao du lịch vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc đã được các địa phương quan tâm thực hiện. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội luôn được bảo đảm. Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng ngày càng trưởng thành, có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi luôn được quan tâm củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng; công tác xây dựng Đảng có nhiều chuyển biến, nhất là xóa tình trạng các thôn, bản trắng đảng viên, củng cố cơ sở yếu kém, xây dựng cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số phát huy vai trò, chức năng, nhiệm vụ; từng bước đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền góp phần thực hiện tốt chính sách dân tộc.
Những tình cảm thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào dân tộc thiểu số khi người còn sống, cũng như việc Đảng và Nhà nước không ngừng thực hiện tốt nhất chính sách dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã gắn kết ngày càng sâu đậm tình cảm của đồng bào đối với Bác, với Đảng và Chính phủ. Đây cũng chính là tiền đề và động lực để cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo cả hệ thống chính trị cùng nhân dân các dân tộc anh em cư trú trên địa bàn miền núi phía Tây tỉnh Thừa Thiên Huế tiếp tục ra sức xây dựng quê hương ngày càng phát triển giàu mạnh và bền vững, góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. 30/11/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Nếu như Nghệ An là quê hương - nơi sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu thì Cố đô Huế là quê hương thứ hai - nơi in đậm dấu ấn về thời niên thiếu của Người với hệ thống di tích lưu niệm quý giá.
Thừa Thiên-Huế vinh dự là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng gia đình sống, lao động, học tập và tham gia hoạt động yêu nước trong khoảng thời gian 10 năm với hai giai đoạn 1895-1901 và 1906-1909.
Di sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho Thừa Thiên-Huế là tình yêu thương bao la cùng hệ thống di tích lưu niệm vô cùng quý giá đã được Nhà nước xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt.
Địa phương luôn trân trọng, gìn giữ và phát huy giá trị di sản của Người để lan tỏa và truyền lại cho thế hệ mai sau.
Dấu ấn của Người trên đất Cố đô
Nếu như Nghệ An là quê hương - nơi sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu thì Cố đô Huế được xem là quê hương thứ hai - nơi in đậm dấu ấn về thời niên thiếu của Người.
Nơi đây đã góp phần nuôi dưỡng, hun đúc và bước đầu hình thành tư tưởng yêu nước, thương dân của Chủ tịch, để từ đó Người quyết định ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân.
Năm 1895, rời Làng sen xứ Nghệ, cậu bé Nguyễn Sinh Cung (tên khai sinh của Bác Hồ) theo gia đình vào Huế để cụ Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh) tham gia kỳ thi Hội.
Vào đây, gia đình Nguyễn Sinh Cung thuê được một gian nhà nhỏ tại đường Đông Ba, nay là nhà số 158, đường Mai Thúc Loan, thành phố Huế.
Năm 1898, sau khi thi Hội lần thứ 2 không đỗ, ông Nguyễn Sinh Sắc được ông Nguyễn Sĩ Độ mời về nhà dạy học tại làng Dương Nỗ, nay thuộc xã Phú Dương, thành phố Huế.
Hai anh em Khiêm, Cung theo cha về đây vừa để đỡ gánh nặng kinh tế gia đình và cũng để ông Nguyễn Sinh Sắc có điều kiện dạy cho hai con đã đến tuổi học chữ.
Ở đây, ông Nguyễn Sinh Sắc được gia đình ông Nguyễn Sĩ Độ giao cho ngôi nhà tranh làm chỗ ở, đồng thời cũng là nơi mở lớp dạy học.
Tại ngôi nhà này, cậu bé Nguyễn Sinh Cung và anh trai Nguyễn Sinh Khiêm được chính người thầy và cũng là người cha của mình khai tâm bằng những bài học chữ Hán đầu tiên.
Hai năm theo học cùng cha tại đây, cậu bé Nguyễn Sinh Cung tiếp thu rất nhanh, trở thành học trò thông minh xuất sắc của lớp. Những kiến thức mà cậu bé Nguyễn Sinh Cung tiếp thu được trong thời gian này là nền móng vững vàng cho sự phát triển về học vấn sau này.
Kỳ thi Hội khoa Tân Sửu 1901, ông Nguyễn Sinh Sắc thi đỗ Phó bảng. Tháng 5/1906, ông vào Kinh nhậm chức Thừa biện Bộ Lễ, là thuộc quan của triều đình.
Nguyễn Sinh Cung và anh trai Nguyễn Sinh Khiêm lại theo cha vào Huế sinh sống và học tập từ năm 1906-1909. Trong giai đoạn này, Nguyễn Sinh Cung học ở Trường Tiểu học Pháp-Việt Đông Ba và là một trong 10 học trò giỏi nhất của Trường được thi vượt cấp vào lớp đệ nhị niên trung học tại Trường Quốc học Huế, niên khóa 1908-1909.
Những năm tháng chàng trai Nguyễn Tất Thành (tên gọi khác của Bác Hồ lúc còn đi học) học tại Trường Quốc học Huế đã giúp nhận thấy rõ hơn sự mục nát của chế độ phong kiến nhà Nguyễn; hiểu rõ bản chất của bọn thực dân Pháp ẩn nấp dưới mỹ từ “khai hóa thuộc địa” và nuôi dưỡng khát khao muốn đi tìm đường cứu nước.
Cũng trong thời gian này, chàng trai Nguyễn Tất Thành đã tham gia vào phong trào đấu tranh chống thuế của nhân dân Thừa Thiên-Huế trước Tòa Khâm sứ Trung kỳ vào năm 1908.
Sau khi rời mái Trường Quốc Học Huế, Nguyễn Tất Thành đã vào Nam, rồi sang phương Tây tìm đường cứu dân, cứu nước năm 1911.
[Cuộc đời, di sản Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng vẻ vang theo thời gian]
Tại Thừa Thiên-Huế còn nhiều địa điểm ghi dấu ấn của Người như Tòa Khâm sứ Trung kỳ, di tích Tam Tầng, di tích Trường tiểu học Pháp-Việt Đông Ba, Am Bà, Bến Đá, địa điểm mai táng bà Hoàng Thị Loan…
Đây là những “địa chỉ đỏ,” điểm tham quan nổi tiếng. Qua đó, giúp thế hệ hôm nay và mai sau hiểu sâu sắc hơn về cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ.
Bảo tồn, phát huy giá trị các di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh
Thừa Thiên-Huế hiện có khoảng 20 di tích và điểm di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt, năm 2021, hệ thống di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thừa Thiên-Huế (gồm 4 di tích) đã được xếp hạng là Di tích Quốc gia đặc biệt, bao gồm Nhà lưu niệm Bác Hồ (ở đường Mai Thúc Loan), Trường Quốc học, Nhà lưu niệm thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh (ở làng Dương Nỗ) và đình làng Dương Nỗ (tại thành phố Huế).
Nhiều năm qua, hệ thống di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh trân trọng gìn giữ, trùng tu, tôn tạo.
Riêng trong năm 2021, Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên-Huế phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành chỉnh lý Nhà trưng bày bổ sung thuộc cụm di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại làng Dương Nỗ; chỉnh lý việc trưng bày tại Nhà lưu niệm Bác Hồ và truyền thống, Trường Quốc Học cho khoa học hơn.
Theo thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên-Huế, hàng năm có khoảng 120.000 lượt khách đến tham quan Bảo tàng và các điểm di tích nơi Bác và gia đình từng sinh sống tại Huế. Riêng 6 tháng đầu năm 2022, khoảng 75.000 lượt khách đã đến tham quan những địa điểm này.
Để tiếp tục phát huy giá trị của di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, tỉnh đang tích cực triển khai Đề án "Phát huy giá trị Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Thừa Thiên-Huế phục vụ phát triển du lịch" với mục tiêu phát triển du lịch Bảo tàng và hệ thống di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở khai thác và phát huy các tiềm năng, lợi thế, đáp ứng nhu cầu tham quan, du lịch, phù hợp với các quy hoạch, chương trình trọng điểm phát triển du lịch-dịch vụ của tỉnh.
Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên-Huế Lê Thùy Chi cho biết, để đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch, Bảo tàng phối hợp với ngành du lịch xây dựng những tour du lịch khép kín từ việc gắn kết các di tích lưu niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các di tích cách mạng, Quần thể di tích Cố Đô Huế và các làng nghề truyền thống; tăng cường quảng bá để thu hút các đoàn khách du lịch; mở rộng không gian trưng bày tại Đình làng Dương Nỗ.
Đối với các di tích cấp quốc gia đặc biệt, Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh chỉ đạo Bảo tàng thực hiện các thủ tục lập quy hoạch tổng thể đối với 4 di tích; xây dựng đề án trình cấp trên để tu bổ và tôn tạo các di tích; đồng thời phối hợp với Ủy ban Nhân dân thành phố Huế duy tu, bảo dưỡng hệ thống cây cảnh và cảnh quan, tạo diện mạo mới cho di tích.
Học tập và làm theo lời Bác
Những ngày tháng 5 lịch sử, hòa chung không khí với đồng bào cả nước hướng về kỷ niệm 132 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, thầy và trò Trường Trung học Phổ thông chuyên Quốc Học tích cực thi đua đạt thành tích cao trong dạy và học; tổ chức hội trại “Thanh niên làm theo lời Bác” nhằm giáo dục truyền thống và cuộc đời, sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Người.
Trường Quốc học Huế (nay là Trường Trung học Phổ thông chuyên Quốc Học) luôn tự hào đã góp phần bồi đắp nên một nhân cách lớn, một bản lĩnh lớn, một lãnh tụ thiên tài cho dân tộc.
Nhà lưu niệm về Bác Hồ và truyền thống của trường và bức tượng cậu học trò Nguyễn Tất Thành giữa sân trường là những biểu tượng nhắc nhở các thế hệ học sinh nâng cao tinh thần hiếu học, nỗ lực phấn đấu vì lý tưởng của mình.
Thời gian qua, nhà trường luôn chú trọng xây dựng phong trào học tập, làm theo tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Ban Giám hiệu luôn quán triệt, tuyên truyền cho các cán bộ, giáo viên và học sinh học tập, noi theo tấm gương của Bác bằng những điều bình dị hàng ngày trong học tập cũng như sinh hoạt của học sinh.
Trường vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen trong thực hiện đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh giai đoạn 2015-2020.
Phát huy truyền thống của các thế hệ đi trước, những năm gần đây, giáo viên và học sinh Trường luôn phát huy thành tích mũi nhọn, số lượng giải quốc gia tăng lên về chất lượng cũng như số lượng; luôn có học sinh góp mặt trong đội tuyển thi quốc tế hàng năm.
Đến nay, các thế hệ học sinh của nhà trường đã đạt được 22 huy chương Olympic quốc tế. Nhiều học sinh làm rạng danh bảng vàng thành tích của trường như Lê Bá Khánh Trình (vô địch kỳ thi Olympic Toán quốc tế năm 1979 với số điểm tuyệt đối 40/40), Đinh Anh Minh (Huy chương Vàng Olympic Vật lý quốc tế 2010), Trương Đông Hưng (Huy chương Vàng Olympic Sinh học quốc tế 2017), Nguyễn Hy Hoài Lâm (Huy chương Đồng Olympic Tin học quốc tế 2017), Hồ Việt Đức (Huy chương Vàng Olympic Sinh học Quốc tế năm 2020)...
Em Phạm Thái Bảo, học sinh lớp 12 chuyên Nhật, Trường Trung học Phổ thông chuyên Quốc Học chia sẻ, em rất vinh dự và tự hào khi được học ở ngôi trường có bề dày lịch sử lâu đời và nổi tiếng trong nền cách mạng của Việt Nam.
Là một thành viên trong đại gia đình Quốc Học em sẽ nỗ lực cố gắng phát huy hết khả năng trong học tập cũng như phát triển kỹ năng để hoàn thiện bản thân, góp sức mình xây dựng đất nước và noi theo tấm gương của những vị lãnh tụ đã từng học ở ngôi trường này.
Thầy Nguyễn Phú Thọ, Hiệu trưởng Trường Trung học Phổ thông chuyên Quốc Học cho biết nhà trường tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, đầu tư cơ sở vật chất, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên; nêu cao tinh thần học tập và làm việc theo tấm gương, đạo đức Hồ Chí Minh nhằm phát huy truyền thống của nhà trường.
Quốc học Huế là một trong bốn di tích đã được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt. Nhà trường đang nỗ lực triển khai kế hoạch xây dựng Trường trở thành điểm đến trong các hành trình du lịch của du khách đến với Huế.
Mỗi học sinh của trường sẽ là một hướng dẫn viên du lịch với mục tiêu khắc sâu thêm truyền thống, cuộc đời cách mạng và tư tưởng của Bác Hồ đối với mỗi học sinh là lan tỏa những giá trị tư tưởng đó đến với du khách.
Những ngày này, tại các điểm di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, đông đảo khu khách và người dân đã đến tham quan, dâng hương và báo công. Dịp này, Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên-Huế cũng tổ chức nhiều hoạt động thiết thực hướng về kỷ niệm ngày sinh nhật Bác như Triển lãm “Những tấm gương điển hình mà cao quý.” Đây là điểm đến được nhiều trường học lựa chọn trong dịp này để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ.
Tự hào khi lần đầu đến thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh và được tìm hiểu về thân thế, cuộc đời cách mạng của Bác, em Nguyễn Phương Linh, Trường Tiểu học số 2 Kim Long, thành phố Huế chia sẻ, em sẽ cố gắng học tập, noi gương Bác Hồ để trở thành người có ích cho xã hội. Phương Linh cũng mong muốn nhà trường sẽ tổ chức nhiều chương trình tham quan các điểm di tích cách mạng, nhất là các di tích về Bác.
Những di tích ghi đậm dấu ấn của Người trên đất Cố đô đã trở thành những di sản quý giá, làm giàu thêm truyền thống lịch sử, văn hóa đáng tự hào của người dân xứ Huế./. 30/11/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Không chỉ là một Anh hùng giải phóng dân tộc, lãnh tụ thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam và cũng là nhà báo lỗi lạc của nền báo chí ấy. 97 năm qua, đến nay những lời dạy của Người về báo chí vẫn là tài sản quý đối nền báo chí cách mạng Việt Nam.
Ngày 21/6/1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Báo Thanh Niên, cơ quan của tổ chức Thanh niên Cách mạng Việt Nam. Đây là tờ báo cách mạng Việt Nam đầu tiên do Bác Hồ sáng lập, chỉ đạo và là người biên tập chính. Báo Thanh Niên giữ vai trò lịch sử đặc biệt quan trọng, mở đầu cho việc tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa cách mạng theo quan điểm Mác - Lênin, viết bằng quốc ngữ Việt Nam, được phổ biến rộng khắp cả nước, trong người dân Việt Nam, nhất là trong tầng lớp thanh niên, công nhân, nông dân…
Không chỉ là một Anh hùng giải phóng dân tộc, lãnh tụ thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam và cũng là nhà báo lỗi lạc của nền báo chí ấy. 96 năm qua, đến nay những lời dạy của Người về báo chí vẫn là tài sản quý đối nền báo chí cách mạng Việt Nam.
Là người am hiểu tinh hoa văn hóa đông tây, kim cổ và sớm tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy rõ sức mạnh to lớn, diệu kỳ của báo chí trong sự nghiệp cách mạng, trong đời sống xã hội và trong việc nâng cao dân đức, dân trí. Đặc biệt, từ thực tiễn hoạt động sinh động của cách mạng Việt Nam, Bác coi báo chí là một thứ vũ khí cách mạng sắc bén và đã sử dụng báo chí một cách tài tình để tuyên truyền cách mạng, để vận động nhân dân tham gia sự nghiệp cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sáng lập ra 9 tờ báo: Người cùng khổ (Le Paria năm 1922), Quốc tế Nông dân (1924), Thanh Niên (1925), Công Nông (1925), Lính Kách mệnh (1925), Thân Ái (1928), Việt Nam Độc lập (1941), Cứu quốc (1942) và Tạp chí Đỏ (1930).
Bác chỉ thị thành lập Đài phát thanh Quốc gia (nay là Đài Tiếng nói Việt Nam) ngày 7/9/1945; thành lập Hãng tin Quốc gia (nay là Thông tấn xã Việt Nam) ngày 15/9/1945; báo Sự Thật (nay là báo Nhân Dân), ngày 11/3/1951.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác sử dụng trên 170 bút danh để viết trên 2.000 bài báo bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, nhiều thể loại khác nhau (chính luận, tiểu phẩm, truyện, ký và thơ...) đề cập đến toàn bộ các vấn đề rộng lớn của cách mạng, của đời sống xã hội. Ngòi bút của Bác bao quát rộng lớn những vấn đề có ý nghĩa quan trọng đang đặt ra, phân tích một cách sắc sảo, cụ thể, đánh giá rõ ràng, xác đáng, đưa ra các giải pháp thiết thực, khả thi yết. Đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, những bài viết của Bác như một lời kêu gọi, có tác dụng vô cùng to lớn, trở thành sức mạnh tinh thần mạnh mẽ, cổ vũ toàn dân tham gia kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là một nhà báo cách mạng vĩ đại. Những tác phẩm báo chí của Người dù ở thể loại nào, viết về vấn đề gì đều có một sắc thái rất riêng, hết sức độc đáo, sáng tạo. 30/11/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” là những đức tính thuộc về bản chất khi nói về đạo đức của người đảng viên. Đối với người đảng viên phẩm chất nào cũng cần, nhưng đức tính “liêm” được xem là cốt lõi xác định nhân cách cán bộ, lãnh đạo trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.
Cách đây hơn 73 năm, Bác Hồ đã viết tác phẩm: “Cần, kiệm, liêm, chính” (tháng 6/1949), được xem là những đức tính cốt lõi của đạo đức cách mạng. Nội dung được Bác chỉ ra từ phân tích những đức tính để răn dạy cán bộ vào thời kỳ đầu xây dựng Nhà nước và cho đến nay đang có giá trị giáo dục trong điều kiện hội nhập và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Theo Bác: “Liêm là trong sạch, không tham lam”. “Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không tham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại”. Người nhấn mạnh, người cán bộ phải “dám hy sinh cho Tổ quốc, hy sinh cho đồng bào, hy sinh vì nghĩa thì không tham gì hết”. Từ quan điểm đó Bác Hồ khẳng định những gì trái với liêm là “bất liêm”. “Bất liêm” là “tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên… Dìm người giỏi để giữ địa vị và danh tiếng của mình”. Hiểu theo nghĩa của Bác, đã là người bất liêm không còn day dứt, xấu hổ khi làm điều xấu xa, bị tha hóa về nhân cách, phẩm giá, băng hoại mọi phẩm chất tốt đẹp. Những hành vi bất liêm của cán bộ là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, thói quan liêu, hách dịch, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, cục bộ địa phương. Bất liêm trái với phẩm chất liêm chính cho nên cần phải bị phê phán và sớm được loại bỏ trong đời sống, trong thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo. Như Khổng Tử đã từng nhấn mạnh: “Người không liêm không bằng súc vật” và Mạnh Tử chỉ rõ hơn: “Ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy”. Đúc kết của những nhà hiền triết đã nêu có ý nghĩa quan trọng cho giáo dục đạo đức liêm chính đối với cán bộ, đảng viên hiện nay.
Trong những năm gần đây, phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” trong cán bộ, đảng viên có những chuyển biến tích cực. Phê bình và tự phê bình theo các Nghị quyết Trung ương 4 (khóa 11,12,13) về tăng cường chỉnh đốn, xây dựng Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã tạo chuyển biến mới. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay là tình trạng tha hóa của một bộ phận cán bộ, đảng viên, người có chức, quyền chưa được đẩy lùi. Những thói hư tật xấu, suy thoái dẫn đến cục bộ, lợi ích nhóm không chỉ xâm hại đến lợi ích chung mà còn gây tác động xấu, làm giảm ý chí, sức mạnh đoàn kết, thống nhất nội bộ, làm tổn thương đến niềm tin của Nhân dân đối với Đảng
“Liêm” là thước đo đạo đức cách mạng, là phép thử bản lĩnh chính trực người cán bộ, nhất là những người được giao chức vụ lãnh đạo, quản lý. Cán bộ có liêm sẽ không làm gì mờ ám, khuất tất, nhận thức rõ đúng - sai, xấu - tốt, tạo được sự tôn trọng của Nhân dân. Mọi việc dù lớn hay nhỏ cũng phải công bình, chính trực, thái độ cư xử đúng mực với mọi người, với cán bộ dưới quyền, biết dùng người tài, người làm được việc; không vì lợi ích cá nhân trước mắt mà bổ nhiệm người nhà, người thân, để lại hậu họa cho dân, cho nước.
Hiện nay, đức liêm chính không chỉ là giữ trong sạch, vo tròn thu mình trong “vỏ ốc” (cũng là đáng quý), mà còn phải “dám nghĩ, dám làm” vì lợi ích chung, miễn là mình không có gì khuất tất, tư lợi cho bản thân. Đó là phẩm chất “liêm” tích cực, thực chất của người cán bộ, cần được lan tỏa sâu rộng hơn.
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc khi mới nhậm chức Thủ tướng Chính phủ đã nêu rõ mục tiêu: “Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt phục vụ Nhân dân”. Kiến tạo và liêm chính là 2 nội dung lớn cho xây dựng Nhà nước pháp quyền. Kiến tạo là phát huy thế mạnh để củng cố và phát triển kinh tế đất nước theo hướng hiện đại, ngày càng giàu mạnh. Đi đôi với đó là xây dựng Chính phủ liêm chính, lấy người dân làm động cơ phấn đấu, phát triển đất nước làm động lực, chính quyền quản lý và phục vụ làm phương hướng. Những ứng dụng khoa học công nghệ được áp dụng trong thủ tục hành chính nhằm đơn giản hóa, giảm bớt phiền hà, hướng tới “liêm chính hóa” bộ máy quản lý, hạn chế nhũng nhiễu người dân và doanh nghiệp. Người dân từng bước tiếp cận thông tin công khai, minh bạch, hạn chế nạn “tham nhũng vặt” vốn đang tồn tại trong các cơ quan công quyền. Muốn đạt được những mục tiêu đó thì không gì hơn là nâng cao tính liêm chính của các cơ quan công quyền. Trong giai đoạn hiện nay, quan trọng nhất là “thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp cao…”.
Nêu gương trong đạo đức công vụ, trong thi hành nhiệm vụ, lấy phục vụ Nhân dân làm thước đo trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, lãnh đạo trước yêu cầu ngày càng cao. 30/11/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Yêu thương con người là một trong những điểm đặc sắc để làm nên một Hồ Chí Minh - một trong những vĩ nhân của thế kỷ XX. Nói đến Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa lớn được UNESCO vinh danh là nói đến tình yêu thương con người rộng lớn, sự cảm thông sâu sắc với những nỗi khổ đau của mỗi thân phận người nói chung, của đồng bào, đồng chí nói riêng.
Suốt cuộc đời mình, một Hồ Chí Minh hết lòng yêu thương con người luôn hiển hiện, không phụ thuộc vào hoàn cảnh, thời điểm, là bởi vì: “Ưu điểm lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh là không chỉ đấu tranh cho một lá cờ, cho một sự giải phóng ở bề mặt bên ngoài, Người muốn tiến hành một cuộc chiến đấu cho phẩm giá con người, cho sự giải phóng và phúc lợi của toàn dân và nhờ thế mà cuộc cách mạng Người phát động đã mang tầm cỡ thế giới”.
Vì thế, dù đã đi xa, nhưng tấm gương đạo đức cách mạng của một Người đã dành trọn đời mình cho dân, cho nước, cho nhân loại khổ đau vẫn sống mãi trong trái tim, khối óc mỗi người yêu chuộng tự do, hòa bình, công lý trên hành tinh này.
Tỏa sáng tình yêu thương con người sâu sắc
Yêu thương con người là một trong những điểm đặc sắc để làm nên một Hồ Chí Minh - một trong những vĩ nhân của thế kỷ XX. Nói đến Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa lớn được UNESCO vinh danh là nói đến tình yêu thương con người rộng lớn, sự cảm thông sâu sắc với những nỗi khổ đau của mỗi thân phận người nói chung, của đồng bào, đồng chí nói riêng… Yêu thương mênh mông trong một tấm lòng bao dung, nhân ái, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó chính là triết lý sống nhân văn “ở đời và làm người phải thương nước, thương dân, thương nhân loại bị áp bức đau khổ”. Đó chính là Người đã dành hết tuổi thanh xuân để đi tìm đường cứu dân, cứu nước; là nỗ lực vượt bao khó khăn, làm rất nhiều nghề để kiếm sống, để hoạt động cách mạng nhưng luôn đồng cảm, xót xa trước mỗi bất công mà con người phải gánh chịu; là sẵn sàng sẻ chia, giúp đỡ những người bạn đường, những người dân nghèo, những đồng chí, đồng đội với lòng thương yêu, thái độ trân trọng, nâng đỡ, cổ vũ, động viên… Đó chính là triết lý sống “yêu thương tất cả chỉ quên mình” suốt cuộc đời một con người luôn “thương người như thể thương thân” và đó cũng là chiều sâu trong tư tưởng, đạo đức, phong cách của một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng nhưng luôn giản dị trong cốt cách một vĩ nhân.
Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, tình thương yêu con người là không phân biệt màu da, chủng tộc, biên giới… nhưng rất cụ thể. Trong suy nghĩ và hành động của Người: Từ người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đến Nguyễn Ái Quốc rồi trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh; từ những năm tháng trước khi Người ra đi tìm đường cứu nước đến hành trình tìm đường cứu nước, hoạt động ở nước ngoài, bị cầm tù đầy gian nan, khổ ải hay khi đã trở thành Chủ tịch nước, người đứng đầu Đảng, thì cũng vẫn luôn là phấn đấu vì con người/vì nhân dân, đồng bào, đồng chí… Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ “cư xử nhiệt tình, khiêm tốn, gần gũi, bình dị, giữ mối liên hệ thân mật không cách bức với quần chúng. Quyết tâm và dũng khí đấu tranh của Người xuất phát từ tấm lòng yêu mến nhân dân, sức mạnh và uy tín to lớn của Người cũng bắt nguồn từ sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân", mà còn luôn quan tâm tới lợi ích của nhân dân, nghĩ những điều dân nghĩ, lo những điều dân lo và đã hiến dâng cả đời mình để làm những điều nhân dân mong muốn, hy vọng. Ở bất cứ đâu và làm gì, lòng yêu thương con người của Người cũng hiển hiện, mà biểu hiện cụ thể nhất chính là Người vừa gìn giữ đạo đức cách mạng cao đẹp, gương mẫu thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; dùng 8 chữ đó để giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân, vừa đem hết sức mình kết hợp những lý tưởng của nhân loại với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội. Ở bất cứ nơi nào có cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng, mỗi người đều thấy hiển hiện một Hồ Chí Minh - một tinh thần Hồ Chí Minh dịu dàng, hiền từ, mỉm cười rộng lượng, cổ vũ và động viên với mọi người, ấy “là vì “Bác Hồ”, nhân dân thường gọi Người như thế. Bao giờ Người cũng coi nhân dân là gia đình của mình. Bản thân Người không có gia đình. Cho đến lúc về già, bao nhiêu sức lực, trí tuệ, tình cảm của Người đều dành cho cách mạng”…
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn cùng Đảng tập hợp, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, đưa những người nô lệ xứ An Nam trở thành chủ nhân một nước độc lập, tự do; đồng thời cổ vũ các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc vùng lên đấu tranh để tự giải phóng mình. Đó là sau khi nước nhà giành được độc lập, thì nỗ lực cùng Chính phủ đề ra và thực hiện những quyết sách để chống nạn đói, nạn dốt, nạn ngoại xâm; trong đó có việc xóa bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò, thực hiện quyền tự do, dân chủ, xóa bỏ các hủ tục, các tệ nạn xã hội. Đó là chia sẻ nỗi đau với những thương, bênh binh và thân nhân các gia đình liệt sĩ; là lội ruộng tát nước cùng bà con nông dân; là chọn đến thăm nơi ăn, chốn ở của những người công nhân trước khi vào hội nghị; là gửi quà, tiền tiết kiệm của mình để ủng hộ bộ đội, mua nước uống cho những người lính trực gác máy bay Mỹ; là “tự do cho mỗi đời nô lệ. Sữa để em thơ, lụa tặng già”… Đó còn là những lời căn dặn đầy ân tình trong bản Di chúc lịch sử như “đầu tiên là công việc đối với con người”, nên phải chăm lo cho “cán bộ, binh sĩ, dân quân du kích, thanh niên xung phong”… để họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn; là cần phải quan tâm đến “cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu” để giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét; là phải vừa dùng giáo dục vừa dùng pháp luật để cải tạo và giúp “những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu... trở nên những người lao động lương thiện”; là miễn thuế nông nghiệp một năm cho nông dân để đồng bào thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất…
“Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta”
Cốt lõi trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là vì con người và hạnh phúc của con người, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một người yêu hoà bình, độc lập, tự do cho Tổ quốc mình, nhân dân mình, mà Người còn luôn luôn đứng về phía độc lập, công lý, phồn vinh của loài người và đấu tranh không mệt mỏi để thực hiện những mục tiêu cao cả đó. Người đã hiến dâng tất cả cuộc đời vì sự nghiệp của nhân dân, vì sự nghiệp cách mạng Việt Nam và vì cách mạng thế giới. Vì thế, trước khi đi xa, Người không chỉ “để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng” trong Di chúc, mà còn “đau lòng” vì “sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em”, nên mong rằng “Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình”…
Nhân loại yêu chuộng tự do, hòa bình, công lý; những người bạn, anh em, đồng chí nhớ tới Chủ tịch Hồ Chí Minh không những vì Người đã có những cống hiến vĩ đại cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam và nhân dân các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc, mà còn là “vì đạo đức tuyệt vời của Người, và vì ánh sáng mà Người đã toả ra khắp nơi. Vị nguyên thủ ấy, nhà lãnh đạo được mọi người tôn kính ấy, người đã làm cho bọn đế quốc phải kinh hồn khiếp vía ấy, chính là một người có đức tính dịu dàng, khiêm tốn, chỉ nghĩ đến người khác. Những đức tính tốt đẹp đó của Người đã biến thành một sức mạnh”, giúp mỗi người dũng cảm tiến về phía trước, đấu tranh vì tương lai.
Yêu thương con người, nên từ khi nước nhà giành được độc lập, mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đều phải xuất phát từ con người, lấy con người làm trung tâm; đều phải được xây dựng và thực hiện trên tinh thần “chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”[6]; đều phải hướng về địa bàn cơ sở, quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu thiết thực của nhân dân về cả vật chất và tinh thần (chăm lo cho dân từ những điều cụ thể như nơi ăn, chốn ở, tương, cà, mắm, muối,v.v.. cho đến việc được học hành, chăm sóc y tế, bảo hiểm xã hội, nhất là đối với những người có công, những người yếm thế do tật bệnh, tai nạn…) để không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Dù phải gian lao tìm đường cứu nước, lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp kháng chiến hay khi đất nước đã hòa bình, non sông liền một dải, thì tâm nguyện lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vẫn là “tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”[7]; là “tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” và “cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, và hạnh phúc cho quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó”…
Vì thế, để khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành hiện thực sinh động; để học và làm theo tấm gương đạo đức cách mạng cao cả của một người “hoàn toàn hiến dâng cho sự nghiệp của nhân dân và cách mạng, từ ý chí kiên cường bất khuất của Người trước kẻ thù đế quốc, trong mọi tình huống, từ đức độ khiêm tốn của Người, từ tài năng của Người áp dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sáng tạo, từ lòng trung thành của Người đối với chủ nghĩa quốc tế vô sản, chúng ta học được những bài học vĩnh cửu cổ vũ chúng ta hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn nữa”[8], thì mọi cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị đều phải gương mẫu hoàn thành trọng trách vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân; đều phải thống nhất giữa nói và làm; dám làm và dám chịu trách nhiệm. 30/11/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến biển đảo. Người đã dành nhiều tình cảm cho nhân dân vùng biển đảo và lực lượng vũ trang nhân dân bảo vệ biển đảo của Tổ quốc.
Ngay từ những ngày đầu ra đi tìm đường cứu nước, Người đã chọn phương tiện đường thủy. Đường biển là nhanh nhất và duy nhất lúc đó có thể giúp Người thực hiện ước mơ của mình. Người đã đi năm châu, bốn biển để tiếp thu văn minh thế giới mỗi khi tàu cập bến và đã tìm được con đường cứu nước cho dân tộc. Đến mỗi quốc gia, Người đều có cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên của biển rất khác nhau, nhưng lúc nào Người cũng tự hào về bờ biển Việt Nam – Tổ quốc thân yêu của mình.
Biển đảo là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam, có tầm quan trọng đặc biệt trong xây dựng và phát triển đất nước. Bởi vậy, hơn ai hết Hồ Chí Minh không những hiểu tầm quan trọng của biển đảo, mà Người còn có tầm nhìn và tư duy chiến lược về vấn đề khẳng định chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Ngày 10/4/1956, khi nói chuyện tai Hội nghị cán bộ cải cách miền biển, Hồ Chí Minh đã nói: “Đồng bằng là nhà, mà biển là cửa. Giữ nhà mà không giữ cửa có được không? Kẻ gian tế nó sẽ vào chỗ nào trước? Nó vào ở cửa trước. Vì vậy ta phải giáo dục cho đồng bào biết bảo vệ bờ biển. Vì bọn địch thường thả bọn mật thám, gián điệp vào tìm chỗ nấp ở miền biển. Nếu để nó lọt vào, thì người bị thiệt hại trước là đồng bào miền biển. Nếu mình không lo bảo vệ miền biển, thì đánh cá, làm muối cũng không yên. Cho nên một nhiệm vụ quan trọng của đồng bào miền biển là phải bảo vệ bờ biển. Đồng bào miền biển là người canh cửa cho Tổ quốc”.
Khi cùng bà Đặng Dĩnh Siêu, trưởng đoàn Phụ nữ Trung Quốc đi thăm Hải Phòng, Vịnh Hạ Long và thăm đơn vị Hải quân Việt Nam, Người đã căn dặn: “Bờ biển nước ta có vị trí rất quan trọng. Vì vậy nhiệm vụ của Hải quân trước mắt cũng như lâu dài rất nặng nề nhưng rất vẻ vang. Phải biết tìm cách đánh phù hợp với điều kiện con người, địa hình bờ biển nước ta và vũ khí trang bị mình có. Hải quân ta phải học tập kinh nghiệm chiến đấu hiện đại nhưng không được quên truyền thống đánh giặc xa xưa của tổ tiên”.
Đảo Cô Tô được Người ghé thăm nhiều lần và là nơi đầu tiên, duy nhất, được Bác đồng ý cho phép dựng tượng đài của Người khi Người còn sống. Tượng đài Bác đứng uy nghiêm, lưng tựa vào núi, tay phải giơ cao vẫy chào, mắt nhìn ra biển Đông, đã thể hiện tầm nhìn chiến lược và khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam của vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc ta.
Khi cùng các cán bộ, chiến sĩ quân chủng hải quân vào thăm Hang Đầu Gỗ (Vịnh Hạ Long), một “công binh xưởng” xưa kia quân của Trần Hưng Đạo làm cọc cắm trên sông Bạch Đằng chống quân Nguyên, Hồ Chí Minh xúc động nói: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”. Vì vậy, Người đặc biệt quan tâm và dành tình cảm đến lực lượng vũ trang bảo vệ chủ quyền biển đảo nhất là Hải quân. Người tâm sự: “Là chiến sĩ Hải quân, các chú phải biết yêu quý đảo như nhà mình, chịu khó cải tạo xây dựng thành những mảnh đất vừa giàu, vừa đẹp, vừa có lợi cho mình, vừa có ích cho đất nước”.
Năm 1961, Bác nói: “Thủ đô Hà Nội tuy cách xa các đảo, nhưng Đảng và Chính phủ luôn luôn quan tâm đến đồng bào các đảo và mong đồng bào đoàn kết, cố gắng và tiến bộ”.
Bài học được rút ra từ câu chuyện:
Là con dân nước Việt, mỗi người trong chúng ta cần phải thể hiện tình yêu biển đảo quê hương bằng những hành động thiết thực: đoàn kết, thống nhất, quyết tâm giữ gìn và bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc; tuyệt đối tin tưởng vào đường lối, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; không để các phần tử xấu lợi dụng lôi kéo, kích động vào các hoạt động quá khích, gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội. Riêng đối với các bạn HSSV đang còn ngồi trên ghế nhà trường, các bạn hãy thể hiện lòng yêu nước, tình yêu đối với biển đảo quê hương bằng việc nỗ lực học tập, rèn luyện thật tốt, tích cực tham gia các hoạt động phong trào “ngày thứ bảy tình nguyện, ngày chủ nhật xanh”, dọn vệ sinh, thu gom rác thải, bảo vệ môi trường các vùng biển đảo nước ta nói chung và bãi biển Tuy Hòa nói riêng luôn sạch đẹp, nhằm góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng phát triển thịnh vượng và hùng cường./. 30/11/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Bác Hồ yêu các cháu, hiểu các cháu, tin tưởng các cháu. Vì đó là tương lai của dân tộc, là những mầm non, những búp trên cành… Tình yêu đó thấm đậm tình người.
Một sự tình cờ đầy ý nghĩa - sau ngày sinh của Bác Hồ là sắp đến ngày Quốc tế Thiếu nhi 1-6.
7 giờ ngày 27 tháng 5.
Bác gọi chị Thu Trà đến hỏi về tình hình có một số cháu học sinh miền Nam nghịch ngợm, quấy phá mà Bác được nghe báo cáo. Việc đó là có thật.
Nhưng Bác hỏi về khía cạnh khác: Các cô, các chú dạy dỗ thế nào? Bởi lúc ba má các cháu gửi ra miền Bắc thì các cháu đều ngoan và ba má các cháu đều tin tưởng ở hậu phương.
Bác nhắc phải chú ý đến việc các cháu thiếu tình cảm gia đình, phải tìm cách bù đắp. Rồi Bác kết luận: Lỗi các cháu một phần thì lỗi của người lớn chúng ta phải là mười phần.
Quả nhiên, sau này đưa các cháu đến với sự chăm sóc của các gia đình cán bộ khác thì các cháu đỡ hẳn chuyện gây gổ, nghịch ngợm. Phần Bác cũng nhận chăm sóc một cháu trai, hai cháu gái, con đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam.
Bác luôn luôn coi trọng trẻ em bởi với Bác trẻ em cũng là một nhân cách, một thực thể đáng tôn trọng chứ không chỉ đáng yêu mến.
Nhớ hồi năm 1957, một hôm Bác hỏi tôi chuyện riêng tư:
- Chú Kỳ này, có bao giờ chú đánh con không?
Tôi ấp úng vì quả là lúc giận quá tôi cũng có đánh các cháu.
Không dám giấu Bác, tôi thú thật:
- Thưa Bác, khi nóng giận cũng có lúc tôi đánh dọa vài cái rồi ạ.
Bác vẫn không cao giọng, nhưng nghe thấy nghiêm khắc hơn:
- Thế là dã man đấy, chú ạ.
Tôi suy ngẫm thấy rất đúng.
Bác nhìn nhận khuyết điểm, nhược điểm của con người một cách bình tĩnh như hiểu cái lẽ tự nhiên “bàn tay có ngón ngắn ngón dài vậy”. Tấm lòng Bác mở rộng, bao dung cho tất cả…
Bác không nói trẻ em hư, không nói con người hỏng, mà nhận xét có một số chậm tiến, có một số cụ thể có lúc nào đó, ở chỗ nào đó chưa tốt, chưa hay lắm, cái chưa hay, chưa tốt ấy cần được uốn nắn một cách chân tình và kịp thời. 30/11/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Trong một bài hồi tưởng về cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đồng chí Việt Phương kể lại một câu chuyện sau đây:
Vào một buổi sáng của năm 196… nào đó, Bác Hồ đi từ ngôi nhà sàn của Người sang Phủ Thủ tướng tìm đồng chí Phạm Văn Đồng để trao đổi về một vấn đề quan trọng. Lúc đó, đồng chí Phạm Văn Đồng đang làm việc tại Văn phòng, tuy cũng nằm trong khu Phủ Chủ tịch nhưng cách xa Phủ Thủ tướng tới vài trăm mét. Một đồng chí bảo vệ vội vã đạp xe ra báo với Thủ tướng. Vội quá, Thủ tướng dùng ngay chiếc xe đạp của đồng chí bảo vệ phóng về gặp Bác. Đồng chí bảo vệ không thể để Thủ tướng rời xa mình, mà lại không có thời gian tìm chiếc xe đạp khác, nên anh đành lập tức chạy bộ theo sau Thủ tướng. Bác Hồ đứng sẵn ở sân chờ đồng chí Phạm Văn Đồng. Khi Thủ tướng vừa xuống xe, chưa kịp chào hỏi gì, Bác đã nói ngay:
– Sao chú không đèo chú bảo vệ đằng sau xe để cùng về, lại để chú ấy chạy bộ?
Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc đó như chợt nhận ra, vội đáp:
– Xin lỗi Bác.
Đáp vậy, nhưng sau đó đồng chí Phạm Văn Đồng đã suy nghĩ rất kỹ về lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà nghiêm khắc của Bác Hồ. Sáng hôm sau, trong lúc làm việc với một số đồng chí cấp dưới, ông kể lại câu chuyện trên cho mọi người cùng nghe, rồi nói:
– Tôi đã nghĩ về lời của Bác. Lòng nhân ái, thương yêu và kính trọng con người, phải chân thực từ trong tâm của ta, rồi tự nhiên bật ra thành thái độ và hành động, chẳng phải suy nghĩ gì, như là từ bản năng.
Câu chuyện trên đây gợi cho chúng ta một số bài học lớn, có ý nghĩa sâu sắc.
Thứ nhất, ngay cả những nhà lãnh đạo cao cấp nhất cũng luôn luôn cần trau dồi đạo đức, bồi bổ nhân cách và rèn luyện phong cách ứng xử sao cho thực sự nhân ái, xứng tầm. Ai cũng biết Thủ tướng Phạm Văn đồng là một trong những nhà lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, Nhà nước và dân tộc ta. Ông không những được nhân dân ta rất kính trọng, yêu mến mà còn được cộng đồng thế giới thừa nhận như một nhà lãnh đạo thông tuệ, hào hoa, lịch thiệp, giỏi giang bậc nhất. Thế mà, tuy ông đã làm tới chức Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không ngần ngại nhắc nhở, phê bình để giúp đồng chí Phạm Văn Đồng ứng xử cho đúng, tu tâm, dưỡng tính cho thuần hậu, nhân ái, sao cho trở thành “bản năng” của nhà lãnh đạo.
Ở đây ta thấy nét rất đẹp của Bác Hồ trong vai trò của người Thầy, và Thủ tướng Phạm Văn Đồng với tư cách người học trò. Thầy không ngần ngại chỉnh sửa, chỉ bảo học trò theo một cách vừa nhân hậu, nhẹ nhàng, nhưng cũng đủ nghiêm khắc để trò nhận thức được điều Thầy cần chỉ bảo. Về phía mình, học trò là người thực sự cầu thị, thành thực, nghiêm túc tiếp thu sự chỉ bảo của Thầy, suy ngẫm kỹ càng, không hời hợt qua loa mà ghi tâm, khắc cốt, qua đó mà hoàn thiện nhân cách của mình.
Ngày xửa, ngày xưa, Đức Phật Tổ và Đức Khổng Tử cũng dùng phương pháp này để rèn dạy, trao truyền tâm ấn cho học trò. Ngày nay thiết tưởng vẫn cần, rất cần những sự chỉ dẫn – học hỏi như vậy, nhất là đối với các bậc, các cấp lãnh đạo, nếu như họ không muốn trở thành những người “vác mặt quan cách mạng” – như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cảnh báo.
Thứ hai, là bài học về lòng nhân ái. Bài học này Thủ tướng Phạm Văn Đồng suy ngẫm và rút ra từ câu chuyện nói trên. Theo Thủ tướng thì lòng nhân ái, thương yêu và kính trọng con người không phải là cái gì có thể nguỵ tạo theo kiểu “giả nhân giả nghĩa” để mị dân, mà phải chân thực từ trong tâm của ta, rồi tự nhiên bật ra thành thái độ và hành động, chẳng phải suy nghĩ gì, như là từ bản năng. Đây là một nhận thức rất sâu sắc về đạo đức cách mạng. Lòng nhân ái phải thực sự trở thành cái cốt lõi, thành điểm tựa cho nhân cách của một nhà lãnh đạo chân chính. Chỉ khi đó tình thương yêu và kính trọng con người mới phát từ trong tâm mà ra, hoà quyện vào trong ứng xử hàng ngày của nhà lãnh đạo một cách hết sức tự nhiên, như một bản năng vậy. Như vậy thì lòng nhân ái không thể là cái gì có thể “chế tác”, ngụy tạo một cách giản đơn và chỉ có lòng nhân ái chân thực mới tạo nên uy tín, tạo nên sức thu hút quần chúng và nâng cao tầm của nhà lãnh đạo. Ngược lại, nhà lãnh đạo phải đạt tới tầm nào đó rồi mới hiểu thấu đáo được cội rễ của lòng nhân ái, mới biết yêu thương và kính trọng con người như một bản năng.
Thứ ba, là bài học về mối quan hệ giữa lãnh tụ với nhân dân. Đây chính là điều mà Bác Hồ đã quán triệt cho các học trò của Người ngay từ những ngày đầu của sự nghiệp Dựng Đảng – Cứu Quốc, rằng “công nông là gốc kách mệnh”. Đặc biệt là từ sau khi Đảng ta trở thành một “đảng cầm quyền” thì Người càng đặc biệt chú trọng đến việc giáo dục cho cán bộ, đảng viên, trí thức ý thức gần dân, thực sự thương yêu và kính trọng nhân dân. Ngay trong tháng đầu tiên của chính quyền cách mạng Hồ Chí Minh đã nhận thấy cán bộ các cấp phạm vào một loạt các sai phạm như: trái phép, cậy thế, hủ hoá, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Vì vậy, ngày 17 tháng 10 năm 1945 Người đã viết Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, huyện và làng yêu cầu cán bộ ta khẩn trương, nghiêm túc rút kinh nghiệm, gột rửa những sai phạm nói trên. Hai năm sau, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang trải qua giai đoạn rất khốc liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian biên soạn cuốn sách “Sửa đổi lối làm việc” để nghiêm khắc vạch ra những sai phạm trong đạo đức và phong cách lãnh đạo, làm việc của cán bộ các cấp, đồng thời chỉ ra những phương hướng và biện pháp cụ thể để khắc phục. Người cho rằng đạo đức của một người cán bộ, đảng viên phải gồm đủ cả Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm; rằng “sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”, nhưng “tuyệt đối không theo đuôi quần chúng”.
Có thể nói tác phẩm trên đây là những chỉ dẫn sâu sắc và mẫu mực của Hồ Chí Minh về đạo đức và phong cách lãnh đạo, ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. 30/11/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Một cán bộ cấp cao dự lớp Chỉnh Đảng Trung ương khoá 1, năm 1952 tại Việt Bắc, nói với chúng tôi:
- Bây giờ xem Tây Du Ký hay, đẹp thật đấy nhưng mình vẫn nhớ mãi câu chuyện “ngoài” Tây Du Ký hay nhất mà mình được Bác Hồ dạy.
Năm ấy Bác đến lớp Bác nói: các cô, các chú (bao giờ Bác cũng gọi các cô trước, đồng bào, chiến sĩ trước) học đã căng thẳng, nên Bác đề nghị tối nay nghỉ học để Bác cháu ta nói chuyện vui''.
Cả lớp vỗ tay hoan hô, không khí lớp học sôi nổi hẳn lên.
Bác hỏi: ''Trong các chú ở đây, ai đã đọc Tây Du Ký?''. Nhiều cánh tay giơ lên Bác nhìn thấy ông Tôn Quang Phiệt là nhà hoạt động cách mạng, người đã tham gia sáng lập Đảng Tân Việt, bấy giờ là Tổng thư ký Uỷ ban Thường trực Quốc hội,
Bác mời ông Phiệt, đồng hương Nghệ An lên kể chuyện, nhưng yêu cầu chỉ được nói trong 15 phút. Ông Phiệt mới “đi” được vài đoạn đã hết giờ, đành thú thực “kể vắn tắt khó lắm'' và ông Phiệt ''trêu'' lại Bác: “xin mời Bác”.
Bác cười, “thông cảm” rồi kể:
“ Từ khi loài người có đầu óc tư hữu thì sinh ra nhiều thói hư, tật xấu. Đường Tăng là một vị chân tu, bản nhất tốt, có lòng nhân hậu, có tính khoan dung. Ông ta muốn chống áp bức nhưng không có đường lối cách mạng dẫn đường. Tin vào sức mạch cảm hoá của đạo Phật, nên ông tình nguyện đi lấy Kinh Phật để truyền bá. Sau 14 năm trời tức là qua 5.048 ngày đêm, thầy trò Đường Tăng vượt 18 vạn 8 ngàn dặm đường, chịu đựng 81 tai ương để lấy được 55 bộ kinh gồm 5.048 quyển. Đó là pho truyện dài, đấu tranh giữa thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa. Còn có thể tìm thấy ở Tây Du Ký nhiều vấn đề bổ ích nữa. Đường Tăng là một người có lập trường kiên định, có bản lĩnh, tạo được cái “bất biến'' để đối phó vời cái “vạn biến''.
Còn Tôn Ngộ Không vì không tu thành đạo được nên vẫn còn cái đuôi. Khi Tôn Ngộ Không biến thành cái đình thì cái đuôi ở sau phải hoá phép làm cái cột cờ.
Bọn ma vương thấy 1ạ, tại sao cột cờ ở phía sau đình, phát hiện ra có đuôi của Tề Thiên Đại Thánh nên không bị mắc lừa, không vào đình nữa, nên mưu của họ Tôn bị thất bại … ''.
Nghe đến đây chúng tôi ''sợ'' quá. Quả là được nghe một bản ''tổng thuật'' giá trị về Tây Du Ký. Biết chắc là Bác còn có cái gì đó nữa nên chờ.
Bác nói tiếp:
“Người cách mạng chúng ta nếu không tu dưỡng thì cũng có phen có cái đuôi ấy, dù nhỏ sẽ có ngày gây hậu quả khôn lường” …
Cả lớp ngồi im… 30/11/2023 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Bác sinh ra và lớn lên trong gia đình nhà nho, nhưng là nhà nho có nguồn gốc nông dân. Thời gian dài từ tấm bé đến tuổi học trò Bác sống ở quê giữa những người nghèo khổ một nắng hai sương ngoài đồng nên Người hiểu sâu sắc nỗi khổ, nỗi vất vả của người nông dân. Những việc của nghề nông đối với Bác cũng không có gì xa lạ. Thời kỳ hoạt động cách mạng ở nước ngoài, khi Người được bầu vào Ban chấp hành Quốc tế nông dân, có người thắc mắc, hoài nghi vì Bác khai trong lý
lịch là xuất thân nhà nho, trí thức. Nghề nghiệp chính là thuỷ thủ, họ e rằng Bác sẽ không có điều kiện để am hiểu các vấn đề nông dân. Sau khi bế mạc Đại hội nông dân, các đại biểu đi thǎm một nông trang, thấy nông dân đang lao động, Bác cũng
xắn quần xuống giúp một nông dân đang làm ruộng, việc nhà nông đối với Bác không gì khó khǎn, trong khi các đại biểu nhiều người đang lúng túng; thì Bác làm nhanh nhẹn như một nông dân thực thụ, trước con mắt thán phục của mọi người.
Có ai biết một thời Bác ra đồng cùng người dân quê làng Sen làm lụng, hay những lúc đi trồng nho cùng những người nông dân nghèo khổ ở Bruklin nước Mỹ. Trên mặt trận báo chí công luận, Bác là người viết nhiều về nông dân, vạch mặt tố cáo
sự bóc lột sức lao động người nông dân của địa chủ cường hào phong kiến, đẩy nông dân vào con đường bần cùng bằng sưu cao thuế nặng. Bác đã tìm ra và chính Người đã thực hiện cương lĩnh giải phóng người nông dân bằng cuộc cách mạng
Tháng Tám lịch sử. Người đã để lại một di sản có một không hai trong lịch sử loài người chân dung một lãnh tụ bên người nông dân…
Ngay sau khi giành được chính quyền, tuy bận trǎm công nghìn việc Bác vẫn dành nhiều thời gian, không chỉ nhắc nhở các địa phương đắp đê chống bão lụt, mà còn trực tiếp xuống tận các xã để đôn đốc, kiểm tra công việc. Biết tin đê sông Hồng ở
khu vực Hưng Yên, Thái Bình bị vỡ, Bác trực tiếp xuống kiểm tra việc khắc phục hậu quả để có biện pháp kịp thời cùng chính quyền địa phương vận động giúp đỡ nhân dân vượt qua khó khǎn, Bác hỏi cặn kẽ có mấy người bị nạn, trước hết phải lo cái ǎn để họ khỏi đứt bữa, sau đến nơi ở và ổn định sinh hoạt cho mọi người, tập trung nhân tài vật lực để đắp lại chỗ đê bị vỡ. Bác hứa khi nào đắp xong Bác sẽ xuống thǎm. Thế rồi, giữ đúng lời hứa, bốn tháng sau Bác xuống cắt bǎng khánh
thành chỗ đê vừa mới đắp. Bác đi xem kiểm tra một lượt, nhìn chỗ giáp ranh đê mới đê cũ, Người nhắc nhở phải tǎng cường gia cố mới an toàn. Bác vừa đi vừa nhún thử độ lún, Bác khen đắp nhanh nhưng chưa lèn chặt, cần tǎng cường thêm
lực lượng để đầm thật kỹ mới bảo đảm lâu dài.
Thay mặt "Ban đời sống" mới nhà vǎn Nguyễn Huy Tưởng đến báo cáo với Bác là hoạt động của Ban dựa trên 3 nguyên tắc: dân tộc, dân chủ và khoa học, nghe xong, Bác liền nói: "Trong đồng bào ta chưa mấy người hiểu những từ chú nói mà
hiện nay họ cần là cần cái này", vừa nói Bác vừa chỉ tay vào bụng, "phải có cái ǎn đã, nếu không có ǎn không làm gì được. Hoạt động của ban "Đời sống mới" cũng phải tập trung cái đó đã, vận động bà con "lá lành đùm lá rách", tǎng gia sản xuất,
cứu đói".
Hậu quả nạn đói nǎm 1945 như một bóng ma ghê rợn phủ lên cuộc sống đói rách của người nông dân, càng làm không khí ảm đạm khó khǎn thêm, trên cương vị Chủ tịch nước, Bác đi xuống các địa phương như Ninh Bình, Thái Bình... để đôn
đốc việc cứu đói, tổ chức tǎng gia sản xuất, đắp đê phòng chống thiên tai... Một lần trong cuộc họp, bàn chống đói, Bác nói: "Các chú biết không, người xưa nói "dân di thực vi thiên", có đồng chí tưởng Bác nói nhầm bèn chữa lại thưa Bác "dân dĩ
thực vi tiên chứ ạ", Bác cười và giải thích: "Bác nói "Dân dĩ thực vi thiên" người xưa dạy "dân lấy cái ǎn làm trời", Đảng, Chính phủ phải lo cái ǎn cho dân không được để dân đói. Đó là Bác lấy lời của Lục sinh nói với Hán Cao Tổ "Nhà vua lấy
dân làm trời, dân lấy cái ǎn làm trời". Bác dạy thật chí lý. Nǎm 1955, nghe tin lũ lụt lớn ở Kiến An, gây thiệt hại lớn về người và của cho nhân dân. Bác cho gọi đồng chí có trách nhiệm lên hỏi cụ thể. Bác hỏi, xã Hoà Nghĩa thiệt hại mấy người
chết, nhà cừa trưởng học bệnh xá bị đổ bao nhiêu, khi nghe báo cáo con số thiệt hại cụ thể, Bác rất lo lắng và rơm rớm nước mắt nhất là biết có nhiều gia đình chết người và trôi nhà cửa. Bác cǎn dặn phải có phương án tỷ mỉ khắc phục hậu quả
thiệt hại. Người chỉ thị Tỉnh ủy phải trực tiếp chỉ đạo và dặn đi dặn lại "trước hết phải lo cái ǎn, nơi ở cho người bị nạn, tuyệt đối không để một người bị đói". Cứ đến mùa nước lũ, hay kỳ hạn hán Bác thường trực tiếp xuống địa phương tham gia "chống trời" cùng nhân dân. Nhớ lần Bác về công trường Đại thuỷ nông BắcHưng-Hải, Bác xuống công trường tham gia lao động như một người dân. Trên đường đi, thấy một chị đang đẩy chiếc xe cút kít nặng nề lên dốc, Bác vội chạy đến đẩy giúp chị…
Lần Bác về Hải Hưng tham gia chống hạn với nông dân, nghe tin Bác về các đồng chí cán bộ tỉnh tổ chức đón Bác long trọng, Bác không hài lòng, Bác phê bình ngay: "Bác về là đi chống hạn chứ có phải đi chơi đâu mà đón tiếp". Bác ǎn mặc
quần áo như một lão nông thực sự Người đi rất nhanh đến chỗ nhân dân đang đào mương, Bác vội xắn quần xắn tay áo xuống cùng đào đất với bà con để lại phía sau các "quan cách mạng" trong những bộ quần áo bảnh bao. Cuối cùng tất cả cùng ào xuống đào đất với bà con theo gương Bác. Bác không nói, không hô hào, nhưng Người đã làm cuộc "cách mạng" cho "các quan" trước muôn dân. Bác ǎn cơm chung với mọi người tại nơi đang đào mương. Thấy người xới cơm, xới bát nào cũng vơi, Bác nói vui: " Chú xới cơm thế này thì công việc làm sao cho đầy được"
Bữa ǎn có Bác thêm vui hẳn lên. Bác hỏi chuyện: "Các chú có biết nấu nướng không?". Mỗi người kể theo cách hiểu của mình. Bác thừa hiểu chẳng có ai ở nhà thực sự giúp vợ nấu ǎn cả, nên nghe nói nấu nướng sao thì kể vậy. Rồi Bác kể
chuyện hồi xưa Bác làm phụ bếp thế nào nên biết nấu nướng, Bác nói nghề nấu ǎn ai biết nấu kể là biết ngay, còn ai chỉ nghe hoặc nhìn thấy thì không thể bịp được người khác, vì kỹ thuật nấu ǎn quan trọng là chỗ này - Bác chỉ vào mũi, chứ không phải chỗ này - Bác chỉ vào mắt và tai. Bác nói tiếp, vì sao mọi người phải biết nấu ǎn là vì vừa giúp được "cô ấy" có thời gian học tập và nuôi dạy con cái, vừa rèn luyện mình, chữa cái bệnh hão, bệnh sĩ, bệnh gia trưởng thâm cǎn cố đế, cho việc bếp núc là của đàn bà. Hơn nưa khi tự mình nấu thì mình ǎn ngon hơn, thích ǎn món nào thì làm món ấy. Chuyện vui, nhưng Bác giáo dục đạo đức con người, đạo đức cộng sản trong cán bộ. Bác lo lắng quan tâm đến sự tiến bộ của cán bộ từ
những việc làm bình thường nhất, nhưng chính đó là những xuất phát điểm của đạo đức chân chính, mà mọi người cán bộ muốn dân tin thì rõi vào để tự xem xét, rèn luyện hoàn thiện mình.
Bác về Hà Đông chống hạn, khi đến một con mương chắn ngang đường, đồng chí Chủ tịch tỉnh mời Bác đi vòng đến chỗ dễ qua hơn. Nhìn xuống thấy đồng chí Chủ tịch tỉnh đi đôi dày bóng lộn, Bác bảo: "Chú cứ đi đường ấy" nói rồi, Bác cởi dép
lội tắt qua cho nhanh để đến với nông dân đang tát nước chống hạn. Sang bờ bên kia, Bác bảo mọi người cùng tát nước giúp dân. Bác chỉ một thanh niên ǎn mặc bảnh bao cùng tát nước với Bác, nhưng đồng chí này không biết tát nước, đồng chí Bí thư tỉnh đỡ lời: "Thưa Bác, đồng chí này là nhà báo ạ". Bác cười và nói: "Nhà báo của nông dân thì phải biết lao động như nông dân thì viết mới đúng được".
Mỗi người dân chúng ta ai cũng được xem hình ảnh Bác đang đạp nước trên guồng chống úng, ghi nhận trong ta hình ảnh Bác hoà mình với nỗi vất vả một nắng hai sương của người nông dân. Khắc sâu trong ta tâm niệm Chủ tịch nước cũng là một công dân, một người lao động trong triệu triệu người không có gì cách biệt. Đó là hình ảnh được ghi lại vào nǎm 1960 Bác về chống úng tại xã Hiệp Lực. Vừa đạp guồng nước, Bác nhắc nên lắp ổ bi vào trục để người đạp đỡ vất vả, mà nǎng suất cao hơn. Bác hỏi các cô thanh niên có biết hát đối đáp không, rồi Bác lẩy Kiều:
"Trǎm nǎm trông cõi người ta, chống úng thắng lợi mới là người ngoan". Bác bảo các cô lẩy tiếp, các cô vì mải ngắm Bác nên không chuẩn bị không lẩy tiếp được chỉ biết vỗ tay, và xin mắc nợ với Bác. Bác nói: "Muốn lao động đỡ mệt và có sức
mạnh, thanh niên nên tổ chức vǎn nghệ".
Nǎm 1958, Bác về Nam Định dự Hội nghị "Bàn về sản xuất, nông nghiệp". Bác chǎm chú lắng nghe các bản báo cáo thành tích của các đơn vị. Bác chú ý bản báo cáo nói về cách làm các loại phân bón. Bác đứng lên nhìn khắp hội trường và hỏi
to: "Chú nào gánh bùn đổ-cho hai sào lúa có đây không?", không có ai đứng dậy.
Một đồng chí cán bộ tỉnh uỷ báo cáo, là người nông dân đó không thuộc diện tham dự hội nghị này. Bác phê bình và yêu cầu cho người đó đến dự hội nghị ngay. Bác hỏi chị em phụ nữ ở đây có đội phân nữa không? Các đồng chí cán bộ tỉnh chưa
dám báo cáo Bác ngay, may có chị đại biểu nữ đỡ lời: "Thưa Bác, chị em ở đây không quen gánh nên cái gì cung đội ạ", Bác dặn: "Nên tìm cách cải tiến vận chuyển bằng xe để đỡ cho chị em về lâu dài".
Nǎm 1963, Bác về chống hạn ở Nghiêm Xuân (huyện Thường Tín) hôm đó Bác đến sớm, đồng bào còn vắng, tiện đường Bác xuống khu dân cư, hỏi thǎm dân- Bác vào một nhà dân thǎm và hỏi tết vừa qua gia đình đón, tết có vui không. Có cụ già
hơn 60 tuổi thưa với Bác là ǎn tết không vui. Bác hỏi vì sao, cụ kể lại gia đình từ xưa có ngôi nhà gần đường, vừa qua Huyện có lệnh đuổi bà đi để mở đường không bồi thường, cũng không chỉ cho gia đình chuyển đi đâu, vì thế gia đình ǎn tết
không vui, người ra lệnh ấy là ông Chủ tịch huyện. Bác lắng nghe mà vẻ mặt không vui Bác bảo, làm người cán bộ như vậy là không xứng đáng không khác gì cường hào xưa. Sau đó Bác chỉ thị phải điều tra làm rõ ngay. Vị Chủ tịch kia bị kỷ luật. Lòng dân rất hả dạ và nhắc mãi chuyện đó như làm gương cho cán bộ đối với dân phải làm gì. Hơn nữa hôm đó Bác tham gia chống hạn với dân, trời nắng to có đồng chí cầm ô che cho Bác, Bác bảo: "Dân chịu được thì Bác cũng chịu được, chú
làm như Bác là ông quan thời xưa". Trên đường đi chống hạn giúp dân, Bác thấy đi trước Bác có xe công an còi inh ỏi dẹp đường, Bác cho dừng xe và lệnh cho xe công an dừng lại, Bác mới đi tiếp. Bác phê bình: "Bác xuống với dân để chống hạn
mà các chú làm cho dân họ sợ thì xuống làm gì?".
Những nǎm tháng cuối đời Bác, tuy sức khoẻ yếu nhưng Người dành nhiều thời gian làm việc với các đồng chí phụ trách nông nghiệp. Họp Bộ Chính trị, hay các buổi làm việc về nông nghiệp Bác thường nhắc bản Điều lệ Hợp tác xã. Bác bảo công nhân có ngày kỷ niệm thì nông dân cũng phải có ngày kỷ niệm. Nên lấy ngày ban hành Điều lệ Hợp tác xã làm ngày kỷ niệm cho nông dân. Bác dặn viết bản Điều lệ sao cho nông dân ít học cũng hiểu được. Sau khi đọc bản dự thảo, Bác nói
đây là bản dùng cho cán bộ, còn đối với xã viên thì viết phải tóm tắt hơn, dễ hiểu hơn. Bác đọc và sửa chữa rất kỹ, có chỗ nào, chữ nghĩa cầu kỳ khó hiểu Bác đều sửa lại. Số thứ tự các chương đánh số La mã, Bác sửa lại "Chương một... hai...", sau đó Bác yêu cầu chuyển nội dung bản Điều lệ sang diễn ca phát trên đài phát thanh cho dân dễ thuộc, dễ nhớ, để làm theo.