Thứ năm, 21/3/2024, 08:41 , Lượt đọc : 106
Roboto
Arial
Open Sans
Times New Roman
Calibri
Tahoma
Đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay là nhờ sức mạnh văn hóa và con người Việt Nam, tỏ rõ hồn cốt, bản sắc, nét riêng, là “Made in Việt Nam”. Vậy nên hiện nay, để xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hùng cường, hạnh phúc, sải bước cùng thời đại, sánh vai với các cường quốc năm châu như tâm nguyện và khát vọng của Bác Hồ vĩ đại và của cả dân tộc, cần phải vun bồi văn hóa, đặc biệt là tu thân, rèn luyện theo văn hóa Hồ Chí Minh
Chưa bao giờ góc nhìn văn hóa lại được bàn luận sôi nổi như hiện nay. Cũng dễ hiểu bởi thực tiễn cho thấy, văn hóa là cái vẫn thiếu khi đã học tất cả; là cái còn lại khi đã quên đi tất cả. Văn hóa lâm nguy còn đáng sợ hơn Tổ quốc lâm nguy. Văn hóa còn thì dân tộc còn. Gần một thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt gần bốn mươi năm đổi mới, thành tựu và hạn chế của đất nước đều do việc có hay không nhận thức đúng đắn và thực hành văn hóa Hồ Chí Minh.
QUAN NIỆM VỀ VĂN HÓA MANG TẦM VÓC VỀ MỘT TUYÊN NGÔN
Cách đây 80 năm (tháng 9/1943), khi UNESCO chưa ra đời, trong bóng tối của nhà tù đế quốc, Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm về văn hóa mang tầm vóc một Tuyên ngôn. Cần nhận thức sâu sắc quan niệm này để rèn luyện, tu dưỡng theo văn hóa Hồ Chí Minh.
Về ý nghĩa của văn hóa
Văn hóa là chìa khóa, động lực của sự phát triển. Cách diễn đạt ngày nay có thay đổi so với trước, nhưng khi nói văn hóa là nền tảng của sự phát triển kinh tế - xã hội là nhằm khẳng định vai trò, sứ mệnh, ý nghĩa của văn hóa trong đời sống xã hội và loài người. 80 năm trước, Hồ Chí Minh đã viết về ý nghĩa của văn hóa thể hiện một tư duy mở đường, soi đường về sứ mệnh của văn hóa cho nhận thức và thực hành của chúng ta hôm nay. Người khẳng định vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra các lĩnh vực của văn hóa. Tinh thần này được nhắc lại ở một cách tiếp cận khác: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”(1). Chỉ mấy từ ngắn gọn, nhưng mãi 55 năm sau, Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (7/1998) mới đưa được nhận thức này vào nghị quyết. Từ đó đến nay, qua Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, Đại hội XIII và Hội nghị văn hóa toàn quốc (24/11/2021), nhận thức đó trở thành nhất quán, xuyên suốt và từng bước đi vào cuộc sống.
Về mối quan hệ giữa văn hóa với con người
Tiếng latinh Cutus (trồng) đi với hai từ khác có hai nghĩa: Cutus agri (trồng cây) và Cultus animi (vun bồi tinh thần). Với từ gốc đó, tiếng Anh và Pháp dùng Culture để chỉ văn hóa. Như vậy, văn hóa chứa đựng nội hàm “trồng người” mà sau này Hồ Chí Minh nói tới “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Quan niệm của Hồ Chí Minh chỉ rõ văn hóa là toàn bộ những sáng tạo và phát minh của con người, tức những giá trị vật chất, tinh thần và những sáng tạo, phát minh đó lại nhằm phục vụ cho cuộc sống con người. Quan niệm ngày nay, con người vừa là chủ thể (sáng tạo ra văn hóa), vừa là khách thể (thụ hưởng các giá trị văn hóa), đồng thời chuyển tải các giá trị văn hóa để truyền cảm hứng trong đời sống xã hội. Đảng ta nhấn mạnh tạo môi trường văn hóa để xây dựng con người và con người lại làm cho môi trường văn hóa ngày một tốt hơn. Nhiệm vụ quan trọng nhất của văn hóa là xây dựng con người.
Về loại hình của văn hóa
Cùng với ngôn ngữ, chữ viết, văn học, nghệ thuật, Hồ Chí Minh chỉ ra đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Cách tiếp cận của Hồ Chí Minh có mấy điểm quan trọng cần thấu triệt. Một là, cách nhìn của Người là cơ sở để chúng ta đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu các loại hình văn hóa khác nhau như văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa pháp luật, văn hóa tôn giáo, văn hóa văn nghệ…. Hai là, Người khẳng định khoa học, tôn giáo là những khía cạnh thuộc văn hóa, điều mà một thời gian dài nhận thức của chúng ta chưa thể vươn tới. Coi tôn giáo là một khía cạnh thuộc văn hóa đã khẳng định một cách rõ ràng quan điểm của Đảng về tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân tộc và mọi người có thể theo hay không theo một tôn giáo nào; đồng thời cũng tạo ra một sức mạnh nội sinh quan trọng khi tâm linh của con người được chú trọng và vun bồi. Ba là, văn hóa thể hiện ở phương thức sử dụng, ẩn chứa trong đó có mối quan hệ giữa văn hóa và văn minh, điều mà ngày nay vẫn còn có sự lẫn lộn. Văn minh không đồng nhất với văn hóa. Văn minh nghiêng về trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật, còn văn hóa là nét riêng, một kiểu quan hệ, ứng xử. Không phải cứ trình độ văn minh cao là đi kèm văn hóa cao. Vấn đề ở chỗ con người sử dụng trình độ phát triển của văn minh như thế nào thì đó là thước đo trình độ văn hóa. Một đảng trở thành đảng cầm quyền được hiểu là đạt tới một trình độ văn minh về chính trị, nhưng phương thức sử dụng quyền lực đó như thế nào lại thuộc phạm trù văn hóa chính trị. Nhìn từ hôm nay, cụm từ “phương thức sử dụng” có ý nghĩa lớn trong văn hóa giao tiếp, ứng xử, xử sự, xử thế và quan hệ giữa con người với con người, xã hội và thiên nhiên.
Về mối quan hệ giữa văn hóa với chính trị, kinh tế, xã hội
Một trong những hạn chế, khuyết điểm Đảng ta nhắc đến trong các nghị quyết gần đây là còn nặng tư duy “duy kinh tế”, chạy theo tăng trưởng đơn thuần, coi văn hóa như “cái đuôi” của kinh tế; chưa thấy rõ mối quan hệ, tác động biện chứng giữa văn hóa với kinh tế, chính trị, xã hội, điều mà 80 năm trước, Hồ Chí Minh đã nêu lên cũng là bốn trụ cột để một đất nước phát triển mà UNESCO nhấn mạnh. Trong năm điểm lớn xây dựng nền văn hóa dân tộc, Hồ Chí Minh đặt xây dựng tâm lý của dân tộc với lõi cốt là tinh thần độc lập tự cường lên hàng đầu. Đây là cách tiếp cận đặc biệt và mới mẻ cho thấy ý nghĩa, vai trò, sức mạnh của tâm lý dân tộc. Một dân tộc không nuôi dưỡng, vun bồi và đặt lên hàng đầu khát vọng độc lập tự cường thì không làm nổi việc gì. Tâm lý độc lập tự cường của dân tộc trong văn hóa Việt Nam từ Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, có ý nghĩa quyết định thắng lợi trong đấu tranh giải phóng dân tộc, làm rạng rỡ lịch sử, vẻ vang giống nòi. Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, tâm lý dân tộc phải được coi là tiêu chí, thước đo hàng đầu của văn hóa dân tộc. Trong Đề cương về văn hóa Việt Nam (năm 1943) và Báo cáo Chính trị do Hồ Chí Minh đọc tại Đại hội II của Đảng (2/1951) đều nói tới ba nguyên tắc của nền văn hóa mới là dân tộc, khoa học, đại chúng. Ngày nay, chúng ta bàn tới việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nội hàm của hai chữ “dân tộc” không có gì sâu sắc bằng lòng yêu nước, tinh thần độc lập, tự cường.
Sau xây dựng tâm lý là xây dựng luân lý (đạo đức) và xây dựng xã hội. Đây là những lĩnh vực thuộc về kiến trúc thượng tầng liên quan tới văn hóa chính trị, nhân cách văn hóa của con người nói chung, của cán bộ, đảng viên nói riêng, mà quan trọng nhất là biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng. Một nền văn hóa đích thực, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, khoa học, hướng đến chân - thiện - mỹ là phục vụ quần chúng, vì lợi quyền và gắn bó mật thiết với nhân dân; mọi sự nghiệp liên quan tới hạnh phúc và lợi ích của nhân dân trong xã hội.
Hồ Chí Minh bàn đến xây dựng chính trị mà hạt nhân là dân quyền. Một nền chính trị dân quyền được đặt trong văn hóa nêu lên cách đây 80 năm khi chính quyền chưa về tay nhân dân là một suy nghĩ độc đáo, sâu sắc, vừa có ý nghĩa tạo động lực cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, vừa mang tầm chiến lược lâu dài, soi đường cho phát triển. Quan điểm về dân quyền sau này được Hồ Chí Minh nói tới nhiều như quan tâm dân sinh, nâng cao dân trí, thực hành dân chủ và ngày nay được Đảng ta coi là một trong những chìa khóa của sự phát triển đất nước.
Sau cùng là xây dựng kinh tế. Đây không chỉ là câu chuyện về mối quan hệ tác động qua lại, gắn bó mật thiết giữa văn hóa với chính trị, xã hội, kinh tế, mà còn cho thấy muốn phát triển văn hóa phải xây dựng kinh tế và kinh tế với ý nghĩa là cơ sở hạ tầng, bệ đỡ, nền tảng của thượng tầng kiến trúc gồm tâm lý, đạo đức, chính trị, xã hội. Từ di sản Mác - Lênin, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và văn hóa. Theo Người, cơ sở hạ tầng có kiến thiết rồi thì kiến trúc thượng tầng mới phát triển được. Trong điều kiện cụ thể của nước ta, một nước bị chế độ phong kiến chuyên chế hàng ngàn năm đè nén và gần một thế kỷ bị chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nô dịch, kìm hãm trong vòng ngu dốt theo phương châm “làm cho dân ngu dễ trị”, Hồ Chí Minh sau này nói rõ hơn, sau khi giành được độc lập tự do, có lẽ phải đặt văn hóa lên hàng đầu để xây dựng con người, phát triển khoa học - kỹ thuật, tạo nguồn lực cho phát triển đất nước. Theo Người, “văn hóa không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”(2).
Văn hóa với hạt nhân là tâm lý, đạo đức, tư tưởng chính trị trong cách nhìn của Hồ Chí Minh là thước đo, sự thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn mà theo UNESCO thì “sự thăng hoa của văn hóa là đỉnh cao nhất của sự phát triển”. Hiện nay, nhận thức đó không phải đã thấm sâu vào từng người, từng cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo, quản lý, đứng đầu; thấm vào tổ chức, cơ quan, đơn vị, đoàn thể, thôn bản; thấm vào gia đình, xã hội để biến thành niềm tin, thói quen, lối sống; thành hành động thực sự, hiệu quả hằng ngày. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải được nhận thức sâu sắc và hành động thực sự.
Đất nước có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay là nhờ sức mạnh văn hóa và con người Việt Nam, tỏ rõ hồn cốt, bản sắc, nét riêng, là “Made in Việt Nam”. Vậy nên hiện nay, để xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hùng cường, hạnh phúc, sải bước cùng thời đại, sánh vai với các cường quốc năm châu như tâm nguyện và khát vọng của Bác Hồ vĩ đại và của cả dân tộc, cần phải vun bồi văn hóa, đặc biệt là tu thân, rèn luyện theo văn hóa Hồ Chí Minh.
Tin cùng chuyên mục
21/5/2025 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Chúc mừng liên Đội trường THCS Tô Ký đã xuất sắc đạt giải Khuyến khích trong hội thi "Chúng em kể chuyện Bác Hồ" năm học 2024 - 2025. 14/5/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước giáo dục, bồi dưỡng làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin ngày càng thấm sâu vào đời sống tinh thần của quân đội. Đồng thời, Người rất quan tâm đến việc chọn lựa, bồi dưỡng những “phần tử tiên tiến” trong các tầng lớp nhân dân lao động có tinh thần yêu nước, có giác ngộ dân tộc và giác ngộ giai cấp sâu sắc để tiếp tục bồi dưỡng, rèn luyện họ trở thành những quân nhân cách mạng, những cán bộ vừa “hồng”, vừa “chuyên”, những đảng viên trung kiên của Đảng.
Cuốn sách “Quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về đức - tài trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội” được chia thành bốn phần:
Phần thứ nhất: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức, tài của người cán bộ cách mạng.
Phần thứ hai: Nâng cao đạo đức, phát triển tài năng của đội ngũ cán bộ quân đội trong tình hình hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phần thứ ba: Trích văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức cách mạng.
Phần thứ tư: Hồ Chí Minh bàn về đạo đức và rèn luyện đạo đức cách mạng.
Sách hiện đang được lưu trữ và phục vụ tại Tổng kho, Thư viện Quốc gia Việt Nam, 31 Tràng Thi, Hà Nội.
Thông tin về sách tại CSDL của TVQG: http://opac.nlv.gov.vn/pages/opac/wpid-detailbib-id-318640.html 14/5/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Cuốn sách “Nguyễn Ái Quốc - sự sáng tạo trong thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, giá trị lịch sử và hiện thực” được xuất bản để làm sáng tỏ thêm công lao to lớn của Người đối với cách mạng Việt Nam và góp phần làm rõ hơn những căn cứ khoa học và thực tiễn, phê phán những luận điệu sai trái, phản động, cố tình xuyên tạc lịch sử, phủ nhận con đường cách mạng mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn; Trên cơ sở đó củng cố thêm niềm tin, khẳng định chắc chắn hơn ý nghĩa thực tiễn về vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; Góp phần thể hiện việc tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong mọi tầng lớp nhân dân theo quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng.
Tác phẩm được chia thành hai chương:
Chương 1: Nguyễn Ái Quốc sáng tạo trong chuẩn bị các tiền đề cho Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
Chương 2: Nguyễn Ái Quốc sáng tạo trong hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam - giá trị lịch sử và hiện thực.
Sách hiện đang được lưu trữ và phục vụ tại Tổng kho, Thư viện Quốc gia Việt Nam, 31 Tràng Thi, Hà Nội.
Thông tin về sách tại CSDL của TVQG: http://opac.nlv.gov.vn/pages/opac/wpid-detailbib-id-317568.html 14/5/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Cuốn sách “Đường Bác Hồ chúng ta đi: Hồi ký” phản ánh sinh động về hoạt động cách mạng của Bác Hồ và những người nguyện lòng đi theo sự nghiệp của Bác nhằm giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ, giành lại độc lập, tự do cho tổ quốc, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Là một tập hồi ký ghi những hoạt động cách mạng, những gắn bó tình cảm của đồng chí Hoàng Quốc Việt với Bác Hồ
Tác phẩm được chia thành 5 chương:
Chương I: Nguyễn Ái Quốc tim tôi
Chương II: Gặp Bác tại núi non Cao Bằng
Chương III: Gặp Bác ở Bách Sắc
Chương IV: Chuyến đi vào Nam theo chỉ thị của Bác
Chương V: Theo Bác trên những nẻo đường kháng chiến.
Sách hiện đang được lưu trữ và phục vụ tại Tổng kho, Thư viện Quốc gia Việt Nam, 31 Tràng Thi, Hà Nội.
Thông tin về sách tại CSDL của TVQG: http://opac.nlv.gov.vn/pages/opac/wpid-detailbib-id-357362.html 14/5/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Tác phẩm “Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam: Sách chuyên khảo” được tác giả sưu tầm, hệ thống hóa sử liệu liên quan đến quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc. Phân tích vai trò quyết định, sự chủ động của Nguyễn Ái Quốc trong sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; Phân tích một cách toàn diện quá trình Nguyễn Ái Quốc xác lập con đường giải phóng dân tộc, xây dựng lý luận cách mạng, chuẩn bị về tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đồng thời cuốn sách cũng phân tích sáng tỏ hơn nhận định: Chính lý luận giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc trong những năm 20 của thế kỷ XX là yếu tố quyết định nhất hình thành nên Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930, làm rõ những nhân tố cơ bản góp phần để Nguyễn Ái Quốc xác định con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam; Tính đúng đắn của con đường đó; Góp phần bác bỏ quan điểm sai trái về vai trò của Người trong quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; Những cống hiến sáng tạo của Người trong quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cuốn sách được chia thành 4 chương:
Chương 1: Nguyễn Ái Quốc chủ động tìm đường giải phóng dân tộc Việt Nam
Chương 2: Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam
Chương 3: Nguyễn Ái Quốc thống nhất các tổ chức Cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam
Chương 4: Nhận xét về quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc.
Sách hiện đang được lưu trữ và phục vụ tại Tổng kho, Thư viện Quốc gia Việt Nam, 31 Tràng Thi, Hà Nội.
Thông tin về sách tại CSDL của TVQG: http://opac.nlv.gov.vn/pages/opac/wpid-detailbib-id-647623.html