Thứ tư, 20/3/2024, 10:15 , Lượt đọc : 51
Roboto
Arial
Open Sans
Times New Roman
Calibri
Tahoma
78 năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, đặc biệt là sau 37 năm đất nước đổi mới và hội nhập quốc tế, mỗi người dân Việt Nam càng thấy thấm thía hơn hành trình đấu tranh vì độc lập, tự do; giá trị của độc lập, tự do mà mỗi người dân Việt Nam được thụ hưởng kể từ sau ngày 2/9/1945.
Bản Tuyên ngôn khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập. Tuyên ngôn độc lập không chỉ khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội mà còn có ý nghĩa thời đại sâu sắc. Bởi khát vọng, tinh thần và ý chí đấu tranh cho độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam; vì một nước Việt Nam thoát khỏi ách thống trị của ngoại bang dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trở thành hiện thực sinh động.
Tuyên ngôn độc lập - bản “khai sinh” nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á - đã đưa tên đất nước Việt Nam trở lại bản đồ chính trị thế giới được Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo tại ngôi nhà của nhà tư sản dân tộc Trịnh Văn Bô (48 Hàng Ngang, Hà Nội) vào đêm 28/8/1945. Văn kiện lịch sử này không chỉ được Người trao đổi, lấy ý kiến đóng góp của các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng, các thành viên trong Chính phủ lâm thời, trong quần chúng nhân dân, mà còn được tham khảo ý kiến của A. Patti - đại diện cho quân Đồng minh.[1] Là văn bản pháp lý hiện đại, mang một giá trị đặc biệt, Tuyên ngôn độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ngắn gọn và súc tích, bao gồm:
Một là, trong phần đầu tiên của Tuyên ngôn độc lập[2], Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn để luận về cơ sở đạo lý, pháp lý về quyền con người, quyền dân tộc của Tuyên ngôn độc lập năm 1776 (Hoa Kỳ) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 (Pháp) và khẳng định đó là những đóng góp quan trọng vào sự phát triển tư tưởng của nhân loại về quyền con người, quyền dân tộc. Cụ thể, Người dẫn: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”, để từ đó khẳng định: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Từ “những lẽ phải không ai chối cãi được” này, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người dân Việt Nam và dân tộc Việt Nam cũng đều có những quyền chính đáng ấy mà không ai có thể tước đoạt hay xâm phạm; đồng thời cũng khẳng định rằng vì những quyền không thể xâm phạm được đó mà nhân dân Việt Nam đã kiên cường, đoàn kết, kiên trì chiến đấu để giành lại từ tay kẻ thù.
Hai là, ở phần tiếp theo của Tuyên ngôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đanh thép tố cáo tội ác của thực dân Pháp và việc thực dân Pháp đã đầu hàng phát xít Nhật: “Hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa… Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó, dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật” và nhấn mạnh rằng “chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã “bán” nước ta hai lần cho Nhật”, mà còn khẳng định, vì độc lập và tự do, nên khi “nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng Minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”. Vì thế, “sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”.
Ba là, Cũng trong Tuyên ngôn, trước công luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định vai trò của Việt Minh trong cuộc đấu tranh chống quân Nhật, thực thi chính sách nhân đạo và “bảo hộ” người Pháp sau khi bị Nhật hất cẳng, mà còn nhấn mạnh rằng dân tộc Việt Nam kiên cường đấu tranh, gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít và đã giành lại độc lập, tự do từ tay phát xít Nhật. Đó chính là, “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa”. Cho nên, trong Tuyên ngôn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố “thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”; đồng thời nhấn mạnh, “các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”.
Lịch sử thế giới hiện đại chắc chắn không thể thiếu một sự kiện chính trị quan trọng, đó chính là, nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh thì “một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. Đồng thời, lịch sử cũng ghi nhận, “nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” thì tất yếu phải “có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”.
Bốn là, phần phần cuối của Tuyên ngôn chính là lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn thể nhân dân Việt Nam với phát xít Nhật, thực dân Pháp (đang âm mưu quay trở lại xâm lược Việt Nam), quân Đồng minh và với thế giới rằng: “Toàn dân Việt Nam trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp” và “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Lời thề vì độc lập, tự do của cả dân tộc trong bản Tuyên ngôn đó không chỉ là minh chứng, mà còn là một mốc son mở ra một thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh lịch sử và hành trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong lịch sử hào hùng của dân tộc. Đây cũng chính là sự đúc kết cô đọng nhất hành trình đấu tranh cho độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam ta; đồng thời, đưa những “thần dân” Việt Nam, những “nô lệ” An Nam trở thành chủ nhân của nước Việt Nam độc lập.
Tin cùng chuyên mục
21/5/2025 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Chúc mừng liên Đội trường THCS Tô Ký đã xuất sắc đạt giải Khuyến khích trong hội thi "Chúng em kể chuyện Bác Hồ" năm học 2024 - 2025. 14/5/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng bước giáo dục, bồi dưỡng làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin ngày càng thấm sâu vào đời sống tinh thần của quân đội. Đồng thời, Người rất quan tâm đến việc chọn lựa, bồi dưỡng những “phần tử tiên tiến” trong các tầng lớp nhân dân lao động có tinh thần yêu nước, có giác ngộ dân tộc và giác ngộ giai cấp sâu sắc để tiếp tục bồi dưỡng, rèn luyện họ trở thành những quân nhân cách mạng, những cán bộ vừa “hồng”, vừa “chuyên”, những đảng viên trung kiên của Đảng.
Cuốn sách “Quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về đức - tài trong xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội” được chia thành bốn phần:
Phần thứ nhất: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức, tài của người cán bộ cách mạng.
Phần thứ hai: Nâng cao đạo đức, phát triển tài năng của đội ngũ cán bộ quân đội trong tình hình hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phần thứ ba: Trích văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức cách mạng.
Phần thứ tư: Hồ Chí Minh bàn về đạo đức và rèn luyện đạo đức cách mạng.
Sách hiện đang được lưu trữ và phục vụ tại Tổng kho, Thư viện Quốc gia Việt Nam, 31 Tràng Thi, Hà Nội.
Thông tin về sách tại CSDL của TVQG: http://opac.nlv.gov.vn/pages/opac/wpid-detailbib-id-318640.html 14/5/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Cuốn sách “Nguyễn Ái Quốc - sự sáng tạo trong thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, giá trị lịch sử và hiện thực” được xuất bản để làm sáng tỏ thêm công lao to lớn của Người đối với cách mạng Việt Nam và góp phần làm rõ hơn những căn cứ khoa học và thực tiễn, phê phán những luận điệu sai trái, phản động, cố tình xuyên tạc lịch sử, phủ nhận con đường cách mạng mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn; Trên cơ sở đó củng cố thêm niềm tin, khẳng định chắc chắn hơn ý nghĩa thực tiễn về vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; Góp phần thể hiện việc tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong mọi tầng lớp nhân dân theo quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng.
Tác phẩm được chia thành hai chương:
Chương 1: Nguyễn Ái Quốc sáng tạo trong chuẩn bị các tiền đề cho Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
Chương 2: Nguyễn Ái Quốc sáng tạo trong hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam - giá trị lịch sử và hiện thực.
Sách hiện đang được lưu trữ và phục vụ tại Tổng kho, Thư viện Quốc gia Việt Nam, 31 Tràng Thi, Hà Nội.
Thông tin về sách tại CSDL của TVQG: http://opac.nlv.gov.vn/pages/opac/wpid-detailbib-id-317568.html 14/5/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Cuốn sách “Đường Bác Hồ chúng ta đi: Hồi ký” phản ánh sinh động về hoạt động cách mạng của Bác Hồ và những người nguyện lòng đi theo sự nghiệp của Bác nhằm giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ, giành lại độc lập, tự do cho tổ quốc, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Là một tập hồi ký ghi những hoạt động cách mạng, những gắn bó tình cảm của đồng chí Hoàng Quốc Việt với Bác Hồ
Tác phẩm được chia thành 5 chương:
Chương I: Nguyễn Ái Quốc tim tôi
Chương II: Gặp Bác tại núi non Cao Bằng
Chương III: Gặp Bác ở Bách Sắc
Chương IV: Chuyến đi vào Nam theo chỉ thị của Bác
Chương V: Theo Bác trên những nẻo đường kháng chiến.
Sách hiện đang được lưu trữ và phục vụ tại Tổng kho, Thư viện Quốc gia Việt Nam, 31 Tràng Thi, Hà Nội.
Thông tin về sách tại CSDL của TVQG: http://opac.nlv.gov.vn/pages/opac/wpid-detailbib-id-357362.html 14/5/2024 Không gian văn hóa Hồ Chí Minh Tác phẩm “Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam: Sách chuyên khảo” được tác giả sưu tầm, hệ thống hóa sử liệu liên quan đến quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc. Phân tích vai trò quyết định, sự chủ động của Nguyễn Ái Quốc trong sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; Phân tích một cách toàn diện quá trình Nguyễn Ái Quốc xác lập con đường giải phóng dân tộc, xây dựng lý luận cách mạng, chuẩn bị về tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đồng thời cuốn sách cũng phân tích sáng tỏ hơn nhận định: Chính lý luận giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc trong những năm 20 của thế kỷ XX là yếu tố quyết định nhất hình thành nên Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930, làm rõ những nhân tố cơ bản góp phần để Nguyễn Ái Quốc xác định con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam; Tính đúng đắn của con đường đó; Góp phần bác bỏ quan điểm sai trái về vai trò của Người trong quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; Những cống hiến sáng tạo của Người trong quá trình thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cuốn sách được chia thành 4 chương:
Chương 1: Nguyễn Ái Quốc chủ động tìm đường giải phóng dân tộc Việt Nam
Chương 2: Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam
Chương 3: Nguyễn Ái Quốc thống nhất các tổ chức Cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam
Chương 4: Nhận xét về quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc.
Sách hiện đang được lưu trữ và phục vụ tại Tổng kho, Thư viện Quốc gia Việt Nam, 31 Tràng Thi, Hà Nội.
Thông tin về sách tại CSDL của TVQG: http://opac.nlv.gov.vn/pages/opac/wpid-detailbib-id-647623.html